Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật hiện nay - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN KHÁNH LINH

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH
VỰC BẢO HIỂM NHÂN THỌ THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Nguyễn Trọng Điệp

Hà Nội , 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Mọi số liệu,
dẫn chứng thể hiện trong luận văn là trung thực và được chú thích nguồn đầy đủ
theo đúng quy định.

Học viên


MỤC LỤC


QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC....................................73
BẢO HIỂM NHÂN THỌ.......................................................................................73
3.1.

Giải quyết mối quan hệ điều chỉnh giữa Luật Bảo vệ quyền lợi người

tiêu dùng,
Luật Kinh doanh bảo hiểm, Bộ luật dân sự..............................................................73


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

3.2.

Hoàn thiện các quy định về doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh bảo

hiểm nhân thọ..74
3.3....................................................................................................................... Ho
àn thiện các quy định về hợp đồng bảo hiểm................................................76
3.4.

Hoàn thiện các quy định về giám sát đối với hoạt động kinh doanh bảo

hiểm
nhân thọ..................................................................................................................79
KẾT LUẬN............................................................................................................. 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................82
BHNT
: Người tiêu dùng
BVQLNTD

qua đã tạo một nền tảng pháp lý cho hoạt động bảo hiểm nói chung và đặc biệt là kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
phát triển ở Việt Nam. Bên cạnh những kết quả tích cực từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm thì thực tiễn quyền lợi
người tiêu dùng khi tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trong thời gian qua đặt ra nhiều vấn đề cần giải
quyết, khi mà quyền và lợi ích của họ chưa thực sự được bảo vệ một cách chính đáng, cụ thể:
Thứ nhất, DNBH thường đưa ra nhiều lý do và lợi dụng "sơ hở" của pháp luật, sơ suất của người tham gia
bảo hiểm để thoái thác nghĩa vụ chi trả bảo hiểm.
Thứ hai, để được thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm phải trải qua rất nhiều thủ tục,
giấy tờ theo yêu cầu của DNBH trong khi pháp luật chưa có quy định cụ thể và HĐBH không có điều khoản thỏa
thuận hoặc không rõ ràng.
Thứ ba, người tham gia bảo hiểm không được cung cấp thông tin một cách đầy đủ trước, trong và sau khi
ký kết hợp đồng bảo hiểm, ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi khi tham gia bảo hiểm, đặc biệt khi có sự cố bảo
hiểm xảy ra.
Thứ tư, bên cạnh bản chất tốt đẹp nhằm giúp người tham gia bảo hiểm đề phòng rủi ro, hạn chế tổn thất thì
lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ là lĩnh vực mới và khó với nhiều thuật ngữ chuyên ngành, cần kiến thức chuyên môn,
kỹ thuật, gây khó khăn cho nhiều người khi tham gia bảo hiểm trong khi hoạt động kiểm tra, giám sát, cấp phép
của các cơ quan chức năng nhà nước chưa thống nhất và kĩ càng.
Từ thực tiễn giải quyết các tranh chấp và nghiên cứu về thực trạng trên, tôi cho rằng một trong các nguyên
nhân chính ảnh hưởng đến quyền lợi của người được bảo hiểm đó là hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm,
về bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm chưa hoàn thiện, còn nhiều bất cập và mâu thuẫn phát sinh. Chẳng
hạn, quy định điều chỉnh quan hệ người tham gia bảo hiểm chưa rõ ràng, đầy đủ; các quy định liên quan đến hợp
đồng, cụ thể ở đây là hợp đồng theo mẫu giữa Bộ luật Dân sự (luật gốc) và Luật KDBH (luật chuyên ngành) chưa
thống nhất, như khái niệm "đình chỉ hợp đồng" không được quy định trong Bộ luật Dân sự hay Luật KDBH
nhưng lại được sử dụng rất nhiều lần trong Luật KDBH; quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm chưa hợp lý
với bản chất của bảo hiểm nhân thọ; cơ sở tính phí bảo hiểm do nguyên nhân khách quan hay chủ quan chưa có sự
phân biệt rõ ràng;...
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Qua việc rà soát các công trình nghiên cứu liên quan đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người
tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, ta có thể nhận thấy rằng, các công trình nghiên cứu về mặt lý luận và
tổng kết thực tiễn về vấn đề BVQLNTD trong BHNT chưa nhiều. Đa số chỉ đề cập đến pháp luật kinh doanh bảo
1

tiễn thi hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ nhìn từ góc độ bảo vệ quyền lợi tiêu dùng, không nghiên
cứu các loại hình sản phẩm bảo hiểm khác.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, tác giả áp dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp nghiên cứu tại chỗ: nghiên cứu chuyên đề, rà soát đánh giá hệ thống văn bản pháp luật,
nghiên cứu các tài liệu trong, ngoài nước về các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài
2


- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Thu thập, thống kê số liệu, vụ việc tranh chấp
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu hệ thống lý luận về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ từ quy định về tư cách chủ thể của các bên tham gia hợp đồng, quy định về hợp đồng
bảo hiểm đến những vấn đề liên quan đến hoạt động giám sát kinh doanh bảo hiểm của các cơ quan chức năng, từ
đó đánh giá tương đối toàn diện thực trạng pháp luật hiện hành điều chỉnh lĩnh vực này và thực tiễn thi hành các
quy định đó trong thực tế. Do đó, luận văn sẽ góp phần bổ sung tri thức trong ngành khoa học pháp lý nói chung
và chuyên ngành Luật kinh tế nói riêng về lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm
nhân thọ. Kết quả nghiên cứu của luận văn có tính ứng dụng thực tiễn. Một là, luận văn đóng góp những căn cứ
khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về kinh doanh BHNT ở Việt Nam. Hai là, luận văn sẽ góp phần
đóng góp vào hệ thống kiến thức pháp lý để các cơ quan quản lý nhà nước, DNBHNT và người tham gia bảo
hiểm áp dụng các quy định của pháp luật một cách hiệu quả.
6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm
nhân thọ
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ

hoặc bán lại, như:
Luật Bảo vệ NTD của Pháp quy định: “Người tiêu dùng được hiểu là các cá
nhân trực tiếp mua hàng hóa, thụ hưởng các dịch vụ và trực tiếp tiêu thụ, không bao
gồm những người mua với mục đích bán lại ” [29, tr.14]
Luật bảo vệ NTD Malaysia ban hành năm 1999 quy định NTD là người:
(a) nhận được hàng hóa và dịch vụ để sử dụng cho mục đích cá nhân, sử
dụng trong hộ gia đình, sử dụng hoặc tiêu dùng và
(b) không sử dụng hàng hóa và dịch vụ hoặc dùng hàng hóa dịch vụ vào
mục


đích:

(i) cung cấp lại vì mục đích thương mại

(ii) tiêu dùng chúng vào quá trình sản xuất; hoặc
(iii) trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ sửa chữa hoặc xử lý, các hàng hóa
và tài sản gắn liền với đất khác” [34]
Như vậy, không phải mọi hành vi mua hoặc sử dụng sản phẩm, dịch vụ đều
được coi là hành vi tiêu dùng. Các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình thực hiện các hành
vi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh hay còn gọi là
hành vi thương mại đều không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD).
Tại Việt Nam, khái niệm NTD cũng nghiêng về định nghĩa theo nghĩa hẹp,
tức là bao gồm (dẫn chiếu theo Điều 2 Nghị định số 69/2001/NĐ-CP ngày
02/10/2001):
+ Người mua là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ đã mua cho chính bản thân
mình,
+ Người mua hàng hóa, dịch vụ cho người khác, cho gia đình hoặc cho tổ
chức sử dụng,

đối với nghiệp vụ BHNT nên pháp luật thường có yêu cầu người được bảo hiểm phải
khai đúng tuổi thực của mình.
- Là người thụ hưởng: là cá nhân hoặc tổ chức được bên mua bảo hiểm chỉ
định để nhận toàn bộ hoặc một phần các quyền lợi bảo hiểm theo HĐBHNT. Khái
niệm người thụ hưởng chỉ có trong bảo hiểm con người vì trong nhiều trường hợp,
đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro đồng nghĩa với người được bảo hiểm chết nên người
được bảo hiểm không thể nhận tiền bảo hiểm. Pháp luật thường quy định bên mua
bảo hiểm có thể chỉ định nhiều người thụ hưởng theo một trật tự ưu tiên hoặc không
theo một trật tự ưu tiên nào và phải được sự đồng ý của người được bảo hiểm. Khác
với người được bảo hiểm phải bắt buộc được chỉ rõ, trong HĐBHNT không nhất
thiết phải chỉ định rõ người thụ hưởng.
1.1.2.
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
1.1.2. !. Khái niệm quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân
thọ
Kinh doanh bảo hiểm là kinh doanh dịch vụ tài chính. Do đó, người được
hưởng quyền lợi bảo hiểm là người có quyền lợi cần được pháp luật bảo hộ. Pháp
luật của các nước về kinh doanh bảo hiểm không có định nghĩa riêng thế nào là
quyền lợi của người được bảo hiểm. Tuy nhiên, quyền lợi của người được bảo hiểm
có thể được nhân diện qua suy đoán từ quyền lợi của người tiêu dùng hưởng dịch vụ
của nhà kinh doanh.
Theo như tác giả đã nói ở phần trên, người tiêu dùng trong lĩnh vực BHNT có
thể là bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng. Vậy quyền


lợi của người tiêu dùng (QLNTD) trong lĩnh vực BHNT chính là quyền lợi của bên
mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.
Để làm rõ QLNTD khi tham gia BHNT, ta sẽ chia theo quyền lợi gắn liền với
các loại hình BHNT cơ bản:
(1) Bảo hiểm trong trường hợp sống: DNBHNT cam kết chi trả những khoản

để ổn định cuộc sống gia đình hay giữ gìn tài sản, tạo dựng và khởi nghiệp kinh
doanh cho thế hệ sau. Hiện nay, loại hình bảo hiểm này thường có các loại hợp đồng
như BHNT trọn đời phi lợi nhuận (khi thanh toán số tiền bảo hiểm cho người thụ
hưởng không có khoản lợi nhuận được chia); BHNT trọn đời có tham gia chia lợi
nhuận (khi thanh toán số tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng quyền lợi thì họ được
chia một phần lợi nhuận như đã thỏa thuận trong hợp đồng); BHNT trọn đời đóng
phí liên tục; BHNT trọn đời phí đóng một lần; BHNT trọn đời quy định số lần đóng
phí bảo hiểm.
(3) BHNT hỗn hợp: DNBHNT sẽ thanh toán số tiền bảo hiểm cả trong
trường hợp người được bảo hiểm bị tử vong hay còn sống. Yếu tố tiết kiệm và rủi ro
đan xen nhau. Thời hạn bảo hiểm xác định thường là 5 năm, 10 năm, 20 năm... Phí
đóng bảo hiểm định kỳ và không thay đổi trong suốt thời hạn bảo hiểm và người thụ
hưởng sẽ có thể được chia lãi thông qua đầu tư phí bảo hiểm và người tham gia bảo
hiểm cũng có thể được hoàn phí khi không có điều kiện tiếp tục tham gia. Mục đích
của loại bảo hiểm này là nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình và người thân,
tạo lập quỹ giáo dục, hưu trí hay trả nợ, có thể sử dụng làm vật thế chấp vay vốn
hoặc khởi nghiệp kinh doanh,....
Hiện nay chưa có một bộ tiêu chí nào ở trong nước, ở nước ngoài được công
bố về tiêu chí đánh giá QLNTD trong lĩnh vực BHNT được bảo đảm hay chưa. Dựa
vào đặc điểm của HĐBHNT, dựa vào quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm
(Điều 18 Luật KDBH) mà ta xác định một cách tương đối các tiêu chí sau đây:
Thứ nhất, khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì người tiêu dùng sẽ nhận được
quyền lợi bảo hiểm phù hợp với quy định của pháp luật và cam kết trong HĐBH đã
được ký.
Thứ hai, khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì người tiêu dùng nhận được đầy
đủ quyền lợi bảo hiểm trong thời hạn mà pháp luật quy định và cam kết trong
HĐBH sau khi đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Quyền lợi bảo hiểm là lợi ích
vật chất thể hiện bằng tiền, do đó nếu doanh nghiệp bảo hiểm chậm trễ trong việc
thanh toán bảo hiểm thì rõ rang quyền lợi của người được bảo hiểm không được bảo
vệ. Pháp luật Việt Nam cũng như các nước đều quy định về thời hạn mà DNBHNT

Thậm chí ở Việt Nam, việc chuẩn hóa và thống nhất về các thuật ngữ bảo
hiểm hiện vẫn còn là một tiến trình dài đối với Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, do đó
không có gì lạ nếu những người nhận thức bình thường không hiểu đúng về những
thuật ngữ này. Chính vì vậy, nếu quyền và nghĩa vụ đối với người tiêu dùng được họ
nhận thức không thấu đáo, có thể dẫn đến việc các chủ thể thực hiện không đúng
nghĩa vụ, hoặc không bảo vệ được quyền lợi của mình một cách thỏa đáng. Do đó,
pháp luật cần phải có quy định để đảm bảo cho người tiêu dùng có khả năng nhận


thức về những điều khoản bảo hiểm và đồng thời họ được bảo vệ khi DNBHNT lợi
dụng vị thế là người am hiểu chuyên môn để đưa ra những ràng buộc bất lợi đối với
người tham gia bảo hiểm.
Thứ hai, theo thông lệ ở Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới, phần
lớn nội dung của HĐBHNT là do DNBHNT soạn thảo và ban hành, thường được gọi
là hợp đồng theo mẫu với những điều khoản có sẵn, chứ không hình thành qua quá
trình đàm phán trực tiếp của các bên. Bên tham gia bảo hiểm chỉ có thể chấp nhận
hoặc không chấp nhận mà không có quyền sửa đổi khi giao kết hợp đồng. Điều này
được lý giải bởi tính tiện tích, đảm bảo nguyên tắc công bằng, minh bạch [26, tr.2533]. Song song với những ưu điểm đó thì hợp đồng theo mẫu vẫn tồn tại nhiều
nhược điểm, bất lợi khiến phát sinh nhiều tranh chấp trong giao dịch, trong đó phổ
biến nhất có thể nói đến là sự bất cân xứng về vị thế và thông tin trước và trong của
các bên trong giao dịch. Cụ thể, người tiêu dùng bị yếu thế trong việc tiếp cận, xử lý
và hiểu các thông tin về HĐBHNT trong quan hệ mua bán, trao đổi (vấn đề thông tin
bất cân xứng). PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa nhận xét “...thông tin bất cân xứng ngày
càng trở thành một lĩnh vực cần được quan tâm, đặc biệt trong những hợp đồng giữa
thương nhân và người tiêu dùng" [35, tr.40]. Từ đó dẫn tới người tiêu dùng bị yếu
thế trong việc đàm phán, thiết lập hợp đồng khi quan hệ với nhà kinh doanh chuyên
nghiệp trên thị trường. Và nếu có tranh chấp xảy ra thì người tiêu dùng cũng yếu thế
hơn về khả năng chịu rủi ro do tiềm lực tài chính có hạn.
Thứ ba, xuất phát từ đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm hay là tính
lệ thuộc của người tham gia bảo hiểm vào DNBHNT có thể dẫn đến hành vi không

hiện đầu tư làm gia tang khả năng thanh toán cũng như lợi nhuận. Tuy nhiên trong
quá trình đầu tư không thể lường hết được những rủi ro có thể xảy ra. Bởi thế, nếu
có những quy định pháp lý nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của DNBHNT thì sẽ
đảm bảo cho quyền lợi của người tham gia bảo hiểm. Từ đó, người tiêu dùng trong
lĩnh vực BHNT sẽ tin tưởng hơn vào các cam kết của DNBHNT, duy trì niềm tin của
người dân đối với ngành kinh doanh bảo hiểm nói riêng và hướng tới sự phát triển
bền vững, công bằng, bình đẳng của nền kinh tế nói chung.
Như vậy, khi có quan hệ với DNBHNT, rõ ràng người tiêu dùng ở vị thế
tương đối yếu, phân tán, sức tập hợp kém, phần lớn không có khả năng, tiềm lực về
kinh tế để có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình. Do vậy, vấn đề bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người tiêu dùng phải được ưu tiên và quan tâm mọi lúc, mọi nơi
bằng nhiều công cụ bảo vệ khác nhau.
1.1.3.
Các hình thức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo
hiểm nhân thọ
1.13.1. Người tiêu dùng tự bảo vệ mình trong quá trình đàm phán
Để bảo vệ quyền lợi của mình, người tiêu dùng sẽ phải trở thành “người tiêu
dùng thông thái”, và để trở thành người tiêu dùng thông thái đòi hỏi bản thân người
tiêu dung phải nhận thức được vị trí và sức mạnh của mình, phải nhận thức được


rằng nếu không có sự ủng hộ của họ thì bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không thể
thành công. Họ cần có nhận thức như vậy để có thể tự tin trong các tình huống giao
dịch với các DNBHNT. Ngoài ra, người tiêu dùng cần hiểu biết sâu sắc về các quyền
của mình, có kiến thức và sự tìm hiểu, am hiểu về sản phẩm mà mình muốn mua và
có năng lực để đối phó với những tranh chấp có thể xuất hiện trước, trong và sau quá
trình thực hiện hợp đồng.
Trong quan hệ với DNBHNT, người tiêu dùng hiểu hơn ai hết về nhu cầu của
chính bản thân mình khi tham gia vào các giao dịch. Người tiêu dùng có quyền lựa
chọn sản phẩm phù hợp với nhu cầu và năng lực; yêu cầu được cung cấp thêm thông

1.1.3.4. Cục quản lý, giám sát bảo hiểm
Nhiệm vụ BVQLNTD trong BHNT của các cơ quan quản lý nhà nước theo
nghĩa rộng được hiểu là nhiệm vụ của tất cả các cơ quan tỏng bộ máy nhà nước từ cơ
quan lập pháp, cơ quan hành pháp đến cơ quan tư pháp. Theo nghĩa hẹp, hoạt động
BVQLNTD trong BHNT của cơ quan quản lý nhà nước thuộc trách nhiệm chủ yếu
của cơ quan hành pháp, cụ thể là Cục quản lý, giám sát bảo hiểm. Đây là cơ quan
thuộc Bộ tài chính, có chức năng thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực kinh
doanh bảo hiểm; trực tiếp quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Cục này
sẽ thực hiện chức năng BVQLNTD bằng những hoạt động như: Giải quyết khiếu
nại, tố cáo và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm theo
quy định của pháp luật; Kiểm tra và giám sát hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm;
Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ để cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động
của doanh nghiệp bảo hiểm; Tổ chức thực hiện, tuyên truyền về bảo hiểm; phổ biến
và hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các văn
bản quy phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm...
1.1.3.5. Con đường tài phán
Thông thường tranh chấp phát sinh từ giao kết HĐBHNT đều xuất phát từ
hành vi vi phạm hợp đồng của một hoặc cả hai bên ký kết với lỗi cố ý hoặc vô ý nên
đã làm trái với các điều khoản được cam kết trong hợp đồng. Trong trường hợp
người tham gia bảo hiểm nhận thấy mình bị xâm hại về quyền lợi chính đáng thì có
quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại hoặc Tòa án. Trọng
tài thương mại và Tòa án với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu
thuẫn tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên phải thi
hành.
1.2. Những vấn đề chung về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
1.2.1.
Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực
bảo hiểm nhân thọ
BVQLNTD là nhu cầu khách quan của kinh tế thị trường, bởi xung đột về lợi

bảo hiểm nhân thọ
Một nền pháp chế văn minh phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu [37, tr.10]. Có lẽ vì
thế, pháp luật về quyền của người tiêu dùng luôn là một bộ phận không thể thiếu
trong hệ thống pháp luật thương mại của các quốc gia phát triển và đã trở thành vấn
đề pháp lý quốc tế. Về phương pháp luận, trước hết ta phải khẳng định pháp luật
BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT là một bộ phận của pháp Luật KDBH. Trong quan
hệ kinh doanh bảo hiểm, ngoài lợi ích chung của nhà nước, của xã hội thì còn có
quan hệ lợi ích trực tiếp giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tiêu dùng. Chính vì


vậy, vấn đề xác định nền tảng của pháp luật về BVQLNTD cần làm rõ những tư
tưởng mang tính nguyên tắc:
Thứ nhất, pháp luật phải thực hiện đúng chức năng công cụ của công quyền
với đúng nghĩa là sự bảo đảm của nhà nước trong một trật tự xã hội, trong đó các
chủ thể bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, nội dung là sự phản ánh nhu cầu
của xã hội và pháp luật phải bảo đảm cân bằng lợi ích giữa quyền tự do kinh doanh
của DNBHNT với QLNTD. Đây là vấn đề có tính hai mặt bởi nếu chỉ chú trọng đến
QLNTD thì có thể dẫn tới tình trạng hạn chế quyền tự do kinh doanh của
DNBHNT ; ngược lại, nếu tuyệt đối hóa quyền tự do kinh doanh của DNBHNT có
thể dẫn tới tình trạng không bảo đảm được quyền lợi của người được bảo hiểm.
Quyền tự do kinh doanh thuộc lĩnh vực quyền dân sự của tổ chức, cá nhân.
Về nguyên lý, tôn trọng và bảo vệ quyền tự do kinh doanh là việc nhà nước thể chế
hóa pháp luật và bảo đảm bằng nhà nước với tư tưởng “tổ chức, cá nhân được làm
tất cả những gì pháp luật không cấm”. Tuy nhiên, bảo đảm quyền tự do kinh doanh
của DNBHNT với việc bảo đảm an toàn, hạn chế rủi ro kinh doanh là hai mặt cần
phải giải quyết xung đột đối với loại doanh nghiệp này. Bởi vì, đây là chủ thể kinh
doanh trong lĩnh vực tài chính tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao.
Thứ hai, về phía người được bảo hiểm, pháp luật phải bảo đảm:
- Quyền được đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong giao kết và thực hiện
HĐBHNT. Mặc thù nội dung này đã được pháp luật ghi nhận, nhưng do đặc thù của

quyền lợi bảo hiểm theo HĐBH hoặc quy định của pháp luật.
1.2.3.
Vai trò và vị trí của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ trong hệ thống pháp luật
Theo PGS. TS Nguyễn Như Phát (2010): "Những kẻ có thế và lực mạnh hơn
thường hành xử theo xu hướng lạm dụng quyền lực trong quan hệ với kẻ yếu. Thêm
vào đó, nếu cứ có 300% lợi nhuận thì các nhà tư bản sẵn sàng treo cổ mình lên và vì
vậy, họ cũng sẵn sàng "khuyến mãi” cho khách hàng và người tiêu dùng những cạm
bẫy pháp lý và kỹ thuật và thậm chí cả những thứ độc hại". [38] NTD trong quan hệ
giao dịch với DNBHNT luôn là ở vị trí yếu thế hơn bởi tính nhỏ lẻ, thiếu hiểu biết,
thiếu thông tin của mình và luôn cần "một hệ thống thể chế nhằm khắc phục vị thế
bất cân xứng" đó. Trên tinh thần đó, pháp luật BVQLNTD không điều chỉnh nội
dung của giao dịch mà chỉ là công cụ để đảm bảo hiệu chỉnh, khắc phục vị thế bất
cân xứng trong mối quan hệ giữa NTD với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ. Trước năm 1999, vấn đề BVQLNTD đã được pháp luật Việt Nam đề cập
đến tuy nhiên còn tản mạn và chưa thống nhất trong nhiều văn bản pháp luật khác
nhau như Điều 28 Hiến pháp năm 1992, Pháp lệnh Đo lường năm 1990, Pháp lệnh
Chất lượng hàng hóa năm 1990, Bộ Luật Dân sự 1995, Luật Thương mại năm
1997... Pháp luật BVQLNTD tại Việt nam chỉ thật sự được quan tâm và được tổng
hợp thành một văn bản pháp luật kể từ khi Pháp lệnh BVQLNTD được thông qua và
có hiệu lực từ 01/10/1999. Việc bảo vệ quyền lợi của người tham gia BHNT thời


gian này cũng chịu sự điều chỉnh của pháp lệnh này với những ghi nhận rõ ràng về
quyền và trách nhiệm của người tiêu dùng; trách nhiệm của các cơ quan chính quyền
cũng như của các tổ chức, cá nhân kinh doanh. Sau đó, sự điều chỉnh pháp luật
BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT tiếp tục được quy định tại các văn bản pháp luật
khác nhau như Bộ luật hình sự năm 1999, Luật KDBH năm 2000 (sửa đổi, bổ sung
năm 2010), Luật BVQLNTD năm 2010, Bộ luật dân sự năm 2015, Nghị định số
45/2007/NĐ-CP ngày 7/3/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều

dùng và DNBHNT,.
Để phân tích cấu trúc pháp luật bảo vệ quyền lợi người tham BHNT, cách
thuận lợi nhất là xuất phát từ “cái gốc” của hiện tượng xã hội, đó là các quan hệ xã
hội cơ bản có thể phát sinh từ hoạt động kinh doanh BHNT. Với cách tiếp cận trên
đây, pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tham gia BHNT cần điều chỉnh những
nhóm quan hệ xã hội sau:
Thứ nhất, pháp luật cần điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội định hình tư cách
chủ thể của các bên trong HĐBHNT.
Bộ phận pháp luật này nhằm xác định địa vị pháp lý của người tiêu dùng, của
DNBHNT với những quyền và nghĩa vụ phù hợp với chức năng của nó trong mối
tương quan với các chủ thể khác của nền kinh tế. Với năng lực chủ thể được pháp
luật quy định, DNBHNT kinh doanh BHNT sẽ có cơ sở pháp lý để tiến hành các
hoạt động kinh doanh với tư cách là một chủ thể độc lập. Bộ phận pháp luật này
thông thường bao gồm những quy định về việc thành lập và hoạt động của
DNBHNT, những quy định về cơ cấu, tổ chức cùng với những quyền và nghĩa vụ
của DNBHNT khi hoạt động, trong đó quyền và nghĩa vụ khi thực hiện hoạt động
kinh doanh BHNT là những quy định quan trọng, đặc trưng nhất.
Thứ hai, pháp luật cần điều chỉnh nhóm quan hệ hợp đồng giữa DNBHNT
với người tham gia bảo hiểm.
DNBHNT với tư cách chủ thể kinh doanh sản phẩm BHNT, sẽ tiến hành
“bán” các sản phẩm của mình thông qua một giao dịch hợp đồng. Do sản phẩm
BHNT là dịch vụ, nên khác với sản phẩm hàng hóa, HĐBHNT cần phải mô tả rõ về
nội dung dịch vụ đó với những quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng.
Chính vì vậy, pháp luật điều chỉnh đối với HĐBHNT luôn được coi là một bộ phận
pháp luật quan trọng đối với hoạt động kinh doanh BHNT.
Thứ ba, pháp luật cần điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội là các cơ quan có
thẩm quyền giám sát và giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm khi có khiếu nại, tố cáo
của người tham gia bảo hiểm hoặc DNBHNT nhằm mục đích bảo vệ QLNTD.
DNBHNT với tư cách là một chủ thể kinh doanh phải chịu sự giám sát của cơ
quan quản lý nhà nước và các chủ thể khác có thẩm quyền. Quan hệ pháp luật phát

hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm theo thỏa thuận trong HĐBHNT khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm;
- Chuyển nhượng HĐBH theo thỏa thuận trong HĐBHNT hoặctheo quy
định của pháp luật;
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ:
- Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đã thỏa thuận
trong HĐBH;


- Kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến HĐBH theoyêu
cầu của doanh nghiệp bảo hiểm;
- Thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh
thêm tráchnhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện HĐBH theo
yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm;
- Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm
theo thỏa thuận trong HĐBHNT;
- Áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật
KDBH và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
b) Quyền và nghĩa vụ của DNBHNT
Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:
- Thu phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong HĐBHNT;
- Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ trung thực thông tin liên quan
đếnviệc giao kết và thực hiện HĐBHNT;
- Đơn phương đình chỉ thực hiện HĐBH theo quy định tại khoản 2 Điều19,
khoản 2 Điều 20, khoản 2 Điều 35 và khoản 3 Điều 50 của Luật KDBH;
- Từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường
cho người được bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo
hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thỏa thuận trong

I.2.4.2. Quy định về điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân
thọ
a) Quy định về cấp phép hoạt động
Là lĩnh vực kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và xã hội, hầu hết
các quốc gia đều yêu cầu DNBHNT phải được cấp phép thành lập sau khi chứng
minh đã thỏa mãn đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Mục đích của thủ tục
cấp phép là để đảm bảo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện chức năng
giám sát trước khi hình thành DNBHNT. Những điều kiện chung nhất mà DNBHNT
cần đáp ứng khi muốn được cấp phép là điều kiện về quy mô vốn, có trụ sở chính ổn
định, năng lực của người quản trị, điều hành, kế hoạch kinh doanh rõ ràng và đảm
bảo rằng hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động chính của doanh nghiệp.
b) Quy định về cơ cấu tổ chức, nhân sự và quản lý
- Pháp luật thường đưa ra những yêu cầu đối với thành viên Hội đồng quản
trị, quản lý cấp cao, người chủ chốt trong quản lý và các chủ sở hữu quan trọng của
DNBHNT để đảm bảo những người này phải phù hợp để thực hiện đầy đủ vai trò
của mình. Thông thường, pháp luật các quốc gia thường quy định điều kiện về mặt
chuyên môn và đạo đức đối với những người giữ chức danh quản lý của DNBHNT.
- DNBHNT phải xây dựng và thực hiện hoạt động quản trị doanh nghiệp một
cách thận trọng, cũng như đảm bảo khả năng tự giám sát hoạt động kinh doanh của
chính mình để bảo vệ lợi ích của người tham gia bảo hiểm.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status