Báo cáo khoa học:Đánh giá thách thức trong phát triển nguồn nhân lực người thiểu số - Pdf 50

THÁCH THỨC TRONG PHÁT TRIỂN  
NGUỒN NHÂN LỰC DÂN TỘC THIỂU SỐ NƯỚC TA  
NHÌN  TỪ TIẾP CẬN VĂN HÓA & TÂM LÝ CÁC TỘC NGƯỜI
                       Trịnh Thị Kim Ngọc
                                PGS.,TSKH., Viện Nghiên cứu Con người,
                                 Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam

Đặt vấn đề
           Một trong những vấn đề nằm trong những quan tâm hàng đầu đặt ra  
cho  sự  nghiệp đổi mới đất nước, đó là phát triển nguồn nhân lực  (NNL).  
Với vai trò quyết định sự thành bại của NNL trong sự nghiệp phát triển, vấn 
đề  NNL luôn được đặt ra cấp thiết cho mọi thời kỳ và thời đại. Trong đó,  
một mảng vấn đề  luôn là nỗi trăn trở  của giới nghiên cứu và hoạch định 
chính sách, đó là phát triển NNL dân tộc thiểu số  (DTTS) tại các địa bàn 
miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn ở nước ta hiện nay. 
   Nước ta có 54 dân tộc, ngoài người Kinh là nhóm đa số, còn 53 
DTTS, sinh sống tại 53 tỉnh thành phố trên cả nước. Theo số liệu của Tổng  
cục   Thống   kê   (TCTK),   năm   2009,   dân   số   thuộc   DTTS   ở   nước   ta   gồm  
12.251.436 người, chiếm tỷ lệ 14,27% dân số Việt Nam. 
            Nhìn chung, vùng đồng bào DTTS sinh sống là vùng dân cư có tỷ lệ 
nghèo cao, có đời sống vật chất và tinh thần khó khăn hơn nhiều so với các  
vùng miền khác trong cả nước. Điều đó đã tác động mạnh mẽ tới thực trạng  
NNL của đồng bào. Nghị  quyết 52/NQ­CP ngày 12 tháng 6 năm 2016 về 
Đẩy mạnh phát triển NNL các DTTS giai đoạn 2016­2020 đã nhận định rất  
xác đáng rằng: NNL của các DTTS nước ta còn bộc lộ  nhiều hạn chế. Lao  
động DTTS chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp, tỷ lệ lao động có  
trình độ  chuyên môn kỹ  thuật rất thấp, chủ  yếu là lao động giản đơn và  
chưa qua đào tạo; nhận thức, kỹ năng sống, khả năng thích ứng môi trường  
mới còn hạn chế; tác phong và kỷ  luật lao động của   NNL  các  DTTS  còn 
1


1

Xét về mặt hành chính, vùng này bao gồm 15 tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Quảng
Ninh, Phú Thọ, Bắc Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình. Trung tâm vùng là Thành phố Thái Nguyên; Thành phố Việt Trì.

2


rất nhiều cách tiếp cận và lý giải về nguồn nhân lực. Theo định nghĩa tổng  
quan của Liên hiệp quốc thì “nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ 
năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới  
sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước.” Trong đó, nguồn nhân lực 
có thể hiểu  ở nghĩa rộng là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã 
hội và nguồn lực con người cho sự  phát triển.  Ở  góc độ  hẹp hơn, NNL  
được xem như là khả  năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự  phát 
triển kinh tế  xã hội bao gồm các nhóm dân cư  trong độ  tuổi lao động, có  
khả năng tham gia lao động và sản xuất xã hội. 
           Nói cách khác, NNL là tổng thể  những tiềm năng của con người 
(trước hết & cơ bản nhất là tiềm năng lao động), bao hàm yếu tố thể lực, 
trí lực và nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức  
hoặc một cơ  cấu kinh tế  ­ xã hội nhất định (Võ Xuân Tiến, 2010).    NNL 
còn có thể được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ 
được,   có  khả   năng   đem  lại  thu  nhập  trong  tương  lai  (Beng,   Fischer   &  
Dornhusch, 1995). 
              Nhiều người vẫn hay nhầm hai khái niệm nguồn nhân lực và lực 
lượng lao động. Cần phải phân biệt rõ hai khái niệm này để có những luận 
giải xác đáng khi phân tích. Lực lượng lao động được xác định là người lao 
động đang làm việc và người trong độ  tuổi lao động có nhu cầu nhưng  
không có việc làm (người thất nghiệp). Nguồn nhân lực là những người đã, 
đang và sẽ bổ sung vào lực lượng lao động.

chính sách của Nhà nước liên quan đến phát triển nguồn nhân lực vùng 
dân tộc và miền núi.
Hình 1. Khung phân tích những thách thức của NNL DTTS

4


            
            Khi xem xét về  những cơ  hội và thách thức trong NNL các DTTS, 
chúng ta xem xét vốn con người của đồng bào, những vấn đề của NNL trên 
trong mối quan hệ chặt chẽ với những vấn đề kinh tế ­ xã hội nơi mà cộng  
đồng các DTTS  đang sinh sống. Khung phân tích đã được thể hiện theo mô  
hình trên đây.

II. Một số thách thức trong phát triển NNL vùng DTTS nước ta nhìn từ 
tiếp cận văn hóa tâm lý tộc người
1. Thách thức từ  những điều kiện về  vị  trí địa lý và cơ  hội tiếp cận 
của cộng đồng 
          Nhìn về điều kiện kinh tế ­ xã hội nói chung, chúng ta thấy, tới gần 
một nửa dân số DTTS nước ta (48,6%) sống tại vùng trung du miền núi phía 
Bắc. Có khoảng 30% (29,3%) sống tại các vùng Bắc trung bộ và Duyên hải  
miền trung và Tây Nguyên. Như  vậy, có đến gần 80% dân số  của DTTS  
sống tại 3 vùng miền khó khăn nhất trong cả  nước. Hầu hết các tỉnh trong 
ba vùng trung du miền núi phía Bắc, Bắc trung bộ và Duyên hải miền trung 
và Tây Nguyên không chỉ  có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và vị  trí địa lý 
vô cùng cách trở: xa xôi hẻo lánh, núi non hiểm trở, hoặc là cũng là vùng  
chịu nhiều thiên tai như  bão, lũ cuốn, sạt lở  núi, cũng như  các hệ  lụy khác 
của hiện tượng biến  đổi khí hậu…. nhìn chung, đây là các vùng dân cư 
5


Tỷ lệ 
DTTS

Thứ 
hạng 
HDI các 
tỉnh

Tuyên Quang
Đắk Nông
Hòa Bình
Trà Vinh
Gia Lai
Bắc Cạn
Cao Bằng
Ninh Thuận
Lào Cai
Kon Tum
Sơn La
Yên Bái
Điện Biên

51,79
35,61
72,27
31,65
43,7
86,63
94,25
21,98

Chỉ số 
HDI 
năm
2009

0,624
..
0,574
0,600
0,519
0,585
0,541
0,599
0,527
0,535
0,527
0,580
....

0,651
0,629
0,629
0,653
0,584
0,623
0,596
0,629
0,608
0,576
0,588

Việt Nam của Hội đồng Dân tộc

            Bên cạnh đó, các điều kiện về cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống dân  
cư như điện, đường, trường, trạm, nước sạch,…. mặc dù đã được Đảng và 
Nhà nước đặc biệt quan tâm xây dựng tới trên 90% các xã, bản của đồng  
bào. Tuy nhiên, việc tiếp cận với những thành tựu của công cuộc đổi mới 
của đồng bào còn vô cùng hạn chế. 
           Cơ sở hạ tầng kém, điều kiện sinh hoạt khó khăn và địa hình hiểm  
trở  đã làm hạn chế  điều kiện và khả  năng tiếp cận các dịch vụ  xã hội cơ 
bản như giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ  và môi trường sống đảm  
bảo ... của người dân. Điều này không chỉ   ảnh hưởng đến chất lượng, mà 
cả  số  lượng dân số  và nguồn NNL tại các địa bàn nêu trên. Một số  ví dụ 
thực tế là: tính đến cuối năm 2011, chỉ có 33% người dân ở 4 tỉnh Hà Giang: 
Đồng Văn, Mèo Vạc, Quảng Bạ  và Yêm Minh được sử  dụng nước sạch;  
Tại Lai Châu, chỉ có 53% hộ gia đình sử dụng điện nối mạng quốc gia, trong  
khi tỷ lệ này lên đến 100% ở một số tỉnh khác ở miền Bắc, như Vĩnh Phúc, 
Hải Phòng38...
3

  Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình, TCTK, 2011.

7


            Một số nơi khác nguồn nước sạch rất khó khăn vì phải bơm theo giờ 
đóng nối điện. Nhưng ở một số cộng đồng, vài tiếng đồng hồ có nước sạch  
không kịp để bà con dự trữ nước dung lúc không có điện, mà chỉ kịp cho trẻ 
em và trâu bò trong bản tắm là hết giờ. Nhiều bản có nguồn nước sạch chứa 
trong bể  cung của bản, nhưng dân bản cùng cả  ngày mà không biết tiết  
kiệm (có khi để nước chảy cả ngày) nên khi bà con đi làm về dùng nước thì  


nhất của Đảng và Nhà nước. 
3. Thách thức trong cơ hội tìm việc làm của lao động
           Với địa bàn chủ yếu là rừng núi, lao động trong vùng DTTS nước ta  
chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông – lâm nghiệp, đặc biệt là 2 vùng có số 
lượng và tỷ  lệ DTTS cao nhất cả nước là Trung du miền núi phía Bắc, nơi  
có trên 75% lao động làm nông nghiệp. Trong khi tỷ  lệ  này lực lượng này 
trên cả nước chỉ là 51,9%. Chưa nói đến việc nông nghiệp của đồng bào ta 
chủ  yếu đang dừng lại  ở  mô hình nông nghiệp nương rẫy, tự  cung tự cấp,  
phụ  thuộc rất hiều vào thòi tiết, nên chất lượng và hiệu quả  kinh tế  từ  đó 
chưa cao. 
            Ở các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, cũng như với các ngành nghề 
có chuyên môn kỹ thuật cao thì lực lượng lao động này chưa tiếp cận được 
và nếu có thì số  lượng cũng rất hiếm, chất lượng cũng rất thấp. Mặc dù, 
Nhà nước đã ban hành Thông tư  58/2017, là nhà nước sẽ  hỗ  trợ  (đóng bảo 
hiểm xã hội thay) cho các đơn vị sử dụng lao động là người DTTS tối đa là 
5 năm/người lao động. Đồng thời, Ban Quản lý nhiều khu chế xuất và công 
nghiệp ở các tỉnh thành đã đề nghị các doanh nghiệp ưu tiên gia tăng cơ hội 
việc làm cho người DTTS với nhiều  ưu đãi của địa phương. Tuy nhiên, 
trình độ tiếp thu thông tin kỹ thuật, trau dồi nâng cao tay nghề, theo yêu cầu 
sản xuất của các doanh nghiệp, thì lao động là người DTTS nhìn chung vẫn 
chưa đáp  ứng được và vì vậy tỷ  lệ  lao động tham gia các doanh nghiệp  
trong nước và liên doanh đều rất hiếm hoi. Trong bối cảnh cạnh tranh vi ệc  
làm của lao động trẻ  đang ngày một khốc liệt, nên việc làm của lao động 
người DTTS thường là những việc làm có thu nhập chưa cao. 
          
                           Bảng 2. Cơ cấu dân số DTTS theo ngành nghề làm việc 
                                            các vùng trong cả nước trong đó có vùng DTTS

                                                                                                          T ỷ l ệ %

73,4
7,9
18,6

78,44

64,81

76,33

6,26

7,31

5,93

0,85

0,56 (ĐBSCL)

0,76

       Theo nghề
Nghề nông & nghề đơn 
giản
Ngành nghề có CMKT  22,37%
cao và trung bình
lao 
động 
có 

17,7%), thuộc 32/53 thành phần dân tộc.  Ở  cấp địa phương,  tỷ  lệ  DTTS 
tham gia Hội đồng nhân dân các cấp còn cao hơn. Tại nhiệm kỳ 2010 ­ 2015  
tỷ lệ này là 20,53% ở cấp tỉnh, 20,18% ở cấp huyện và 24,4% ở cấp xã6. 
          Tỷ lệ thành viên ủy ban nhân dân các cấp là người DTTS có thấp hơn,  
tương  ứng bằng 10,9% (cấp tỉnh), 11,32% (cấp huyện), 17,9% (cấp xã). 
Điển hình có tỉnh như  Cao Bằng tỷ  lệ  thành viên là DTTS tham gia  ủy ban  
nhân nhân đạt gần 100%. Thực tế này cho thấy tỷ lệ người dân tộc tham gia  
hội đồng nhân dân các cấp (tính cơ  cấu được  ưu tiên) cao hơn tỷ  lệ  người  
DTTS tham gia vào ủy ban nhân dân (trình độ  học vấn, chuyên môn nghiệp  
vụ và năng lực quản lý được ưu tiên)7.
Hình 2: Cơ cấu ngành nghề làm việc theo vùng

6

Ủy ban Dân tộc. (2010). “Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và đề 
xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực vùng DT& MN”. 
7
Ủy ban Dân tộc. (2010). Tài liệu đã dẫn

11


4. Thách thức về chất lượng NNL người DTTS từ góc độ trí lực
       Một trong những chỉ  báo cơ  bản nhất của chất lượng dân số  và  
NNL là tỷ  lệ  người lớn (từ  15 tuổi trở  lên) biết chữ, thì tỷ  lệ  này  ở  các  
tỉnh trung du & miền núi phía Bắc vẫn là các tỉnh có tỷ lệ người lớn biết  
chữ  thấp nhất trong cả nước. Trong đó hầu hết là các tỉnh miền núi phía 
Bắc (bảng 3 dưới đây). 
Bảng 3: Tỷ lệ biết chữ của dân số từ 15 tuổi trở lên tại một số tỉnh 
miền núi, đông dân tộc sinh sống

II Trung bình Vùng Tây 
nguyên
91,6
II Trung bình Vùng ĐB sông 
Cửu Long
I
            10 tỉnh có tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ thấp nhất
1
2
3
4
5
6
7

Lai Châu
Hà Giang
Điện Biên
Sơn La
Lào Cai
Gia Lai
Cao Bằng

57,4
65,5
67,6
75,2
77,5
80,5
82,2

mà toàn bộ  thông tin chủ  yếu bằng tiếng Việt, thì thông tin về  khoa học  
12


công nghệ  và kinh tế  xã hội đến với bà con người DTTS cực kỳ khó khăn. 
Thực tế ghi nhận tại một số tỉnh 3 miền Tây Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây 
Nam Bộ cho thấy: các đối tượng mù chữ phần lớn là người cao tuổi, có tâm  
lý ngại đi học, cho nên việc vận động họ đến lớp là vô cùng khó khăn. Tuy  
nhiên, giờ đây ngay cả thanh niên của nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn, 
lại là lao động chính, nên họ  cũng không có thời gian học tập. Đáng chú ý, 
tại vùng biên giới Tây Bắc, tỷ  lệ  người DTTS trong độ  tuổi từ  15 đến 60  
không biết đọc, biết viết hiện chiếm trên 21% số dân. Nguyên nhân dẫn đến 
tình trạng này là do các ban chỉ đạo phổ cập giáo dục tại cấp xã, cấp huyện, 
nhất là  ở  những xã biên giới, xã đặc biệt khó khăn chưa thật sự  chú trọng,  
quan tâm công tác xóa mù chữ và ngăn ngừa hiện tượng tái mù. Số người mù 
chữ, tái mù chữ   ở  các xã này rất cao, công tác xóa mù chữ  không đạt hiệu  
quả như yêu cầu của các đề án phát triển đặt ra.  
           Khi người mù chữ   ở  nhiều DTTS chiếm tỷ lệ cao, đồng nghĩa với  
việc một số  lượng đáng kể  của lực lương lao động không thể  tiếp cận 
thông tin từ báo chí, sách vở…. Nguồn thông tin chỉ đến với bà con qua phát 
thanh, truyền hình, qua tuyên truyền miệng của cán bộ địa phương trong các 
buổi tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn.v.v... Song, thực tế trong nhiều năm 
qua, không chỉ  truyền thông trên các phương tiện nghe ­ nhìn, mà cả  tuyên  
truyền trực tiếp vẫn chưa mang lại hiệu quả mong muốn cho nhiều nhóm 
người DTTS. 
            Trong khi đó, bên cạnh các yếu tố đặc thù về điều kiện tự nhiên và  
kinh tế­xã hội, vấn đề giáo dục, đặc biệt tình trạng bỏ học nổi lên như một 
thực tế cấp bách tại cùng đồng bào DTTS. Một nghiên cứu việc học tập của  
học sinh DTTS địa bàn ba tỉnh nghiên cứu cho thấy,tính từ năm 2004 trở lại 
đây4 hiện tượng học sinh DTTS bỏ  học diễn ra ngày càng phổ  biến. Đáng 

Điện Biên

Yên Bái

Nguồn: Số học sinh phổ thông thuộc các 
DTTS phân theo địa phương năm 2010. TCTK

            Kết quả nghiên cứu này đã cho nhận xét tương tự  như  nhiều công 
trình cứu khác về tình hình giáo dục vùng DTTS khu vực Tây Nguyên mà các 
nhà nghiên cứu khác đã công bố (xem Trương Huyền Chi,  2010). Nghiên cứu 
tại 3 tỉnh Hà Giang, Yên Bái và Điện Biên cho thấy tỷ  lệ  này dường như 
không được cải thiện trong suốt thời gian từ 2004 đến năm 2010. Đối chiếu 
với số liệu thống kê tại thời điểm 2010, số lượng học sinh đến trường thậm  
chí còn giảm đi tại một số tỉnh như Hà Giang từ 128,955 em (năm 2004) đến 
năm 2010 xuống còn 120,410; Yên Bái từ 93,734 giảm còn 76,064 học sinh. 
Trong   đó,   tỷ   lệ   học   sinh   bậc   tiểu   học   của   Hà   Giang   từ   55,92%   xuống 
34,24% và giảm tiếp còn 9,84% tại bậc phổ thông trung học. Tình hình Yên 
Bái cũng không khả quan hơn khi tỷ lệ học sinh đi học từ 54% xuống 34,40  
và đến cấp 3 thì tỷ lệ học sinh chỉ còn 10,61%. 
 Tham khảo công trình. Học không được hay học để làm gì? Trải nghiệm của thanh thiếu niên các DTTS 
tại 3 tình Yên Bái, Hà Giang và Điện Biên. Công bố tháng 12/2011. 
8

14


          Con số này thực sự đáng lưu tâm bởi nó dường như  không thể  hiện  
tương thích với nỗ lực không ngừng từ  phía Nhà nước và các cơ quan chức  
năng về  hỗ  trợ  giáo dục cho đồng bào DTTS trong mấy năm trở  lại đây. 
Hình như, tình hình học sinh bỏ học có vẻ như không đi đôi với mức độ ưu  



chuyên tâm học tập bởi họ còn có bố làm ở xã, có anh làm ở huyện….. họ có 
cơ hội xin được việc làm….10    
              
          4. Thách thức về mặt thể lực của nguồn nhân lực vùng DTTS 

           Chất lượng NNL phải được tính đến từ khi đứa trẻ mới hình thành.  
Dựa vào một số  chỉ  báo chính như  tỷ  lệ  suy dinh dưỡng,   tỷ  suất chết trẻ 
em, tình trạng bệnh tật và tuổi thọ  bình quân…, chúng ta có cơ  sở  để  đánh 
giá về chất lượng (về mặt thể chất, thể lực) của NNL của DTTS chưa cao. 
           Thứ  nhất, tỷ  lệ  suy dinh dưỡng của trẻ  em  vùng DTTS còn cao. 
Mặc dù, tỷ lệ này có giảm so với thập niên trước, nhưng tỷ lệ này vẫn cao  
so với mức trung bình của cả  nước 3 tiêu thức đo lường: suy dinh dưỡng  
cân nặng/độ  tuổi, suy dinh dưỡng chiều cao/tuổi và suy dinh dưỡng cân 
nặng/chiều cao (Xem bảng 4).   
Bảng 4: Một số chỉ số về thể lực nguồn nhân lực vùng DTTS
                                                               Đơn vị: %
Nhóm dân số
Cả nước
Trung du và miền 
núi phía Bắc
Tây Nguyên
Mảng
La Hủ
Cờ Lao
Tày
Thái
Mường
Khmer

70,3
27,1
69,2
22,2
68
18
69,5
45,5
61,3
32,0
64,9

Tham khảo công trình. Học không được hay học để làm gì? Trải nghiệm của thanh thiếu niên các DTTS 
tại 3 tình Yên Bái, Hà Giang và Điện Biên. Công bố tháng 12/2011. 
10

16


Nguồn: Kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2009; Dự án bảo tồn và  
phát triển kinh tế xã hội các dân tộc Mảng, La Hủ, Cống­Ủy ban nhân  
dân tỉnh Lai Châu năm 2010; Dự án bảo tồn và phát triển kinh tế xã hội  
các dân tộc Cờ Lao ­Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang năm 2010

          Đối với một số nhóm DTTS  số rất ít người tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ 
em còn cao hơn rất nhiều như  ở dân tộc Mảng ­ 40,03%, La Hủ ­ 44%, Cờ 
Lao ­ 47,37%... Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ em dưới 24 tháng  
trong các nhóm DTTS có giảm, từ 35% (1998) xuống còn 33% (2006), nhưng  
lại tăng lên đối với nhóm trẻ em từ 24 tháng trở lên, từ 54% (1998) lên 57% 
(2006). Ngược lại, tỷ  lệ  suy dinh dưỡng thể  gầy còm của trẻ  em dưới 24  

huyện Tân Uyên, nơi đồng bào dân tộc Mông sinh sống tình trạng tảo hôn cũng  
xảy ra phổ  biến, hầu hết nữ  giới kết hôn trước 16 tuổi, thậm chí con của các 
đồng chí lãnh đạo cũng tảo hôn. Trên địa bàn vùng cao, đồng bào dân tộc không  
làm giấy khai sinh, vì thế chính quyền không có cơ sở để xử lý các cặp vợ chồng 
tảo hôn.
(Nguồn: Phỏng vấn các cán bộ huyện Tân Uyên )

Pà Thẻng (Yên Bái) thường lấy vợ lấy chồng ở độ tuổi 14­15 thường do cha  
mẹ  sắp đặt. Xuất phát từ  nhu cầu thiếu người lao động bên nhà trai muốn  
lấy thêm lao động về làm hơn là việc xây dựng hạnh phúc cho con cái. Một  
số  gia đình khi hỏi vợ cho con, ‘cô dâu’ vẫn đang học lớp 7, lớp 8. Khi hỏi  
cưới, gia  đình nhà trai hay cam kết cưới về  vẫn cho con dâu học tiếp.  
Nhưng thực tế, sau khi về nhà chồng, cô gái không được đi học nữa mà chỉ  
ở  nhà làm nội trợ. Nhà gái cũng ít khi thắc mắc bởi họ  cho rằng con mình  
thuộc về gia đình người chồng quản lý.
           Vấn đề tảo hôn của người Hmông khác biệt ở  chỗ  việc lấy chồng  
lấy vợ  sớm thường do tự  các em đề  xuất. Đến tuổi trưởng thành, các   em 
được tự do tìm hiểu yêu đương và được quyền đề xuất mong muốn lấy vợ, 
lấy chồng. Bởi lẽ theo quan niệm người Hmông, con gái 16­17 tuổi mà chưa 
lấy chồng xem như ‘ế.’ Các em thường thông báo với cha mẹ việc kết hôn 
của mình và chờ gia đình định ngày tổ chức. phần đa các em học sinh người  
Thái đều học hết cấp 2, nhiều em học lên cấp 3, khi đi học ít bị cha mẹ ép 
lấy chồng sớm. Độ tuổi kết hôn của người Thái hiện nay từ 18 đến 20. Mặc 
dù nhà nước ban hành luật hôn nhân và gia đình, không cho phép nam hay nữ 
chưa đến tuổi quy định được phép kết hôn, trên thực tế, người dân vẫn tổ 
chức cưới hỏi nhưng không đăng ký để tránh phiền phức pháp lý. Vấn đề là 
ở  chỗ  phong tục của người Hmông, người Dao hay người Pà Thẻn thường 
dựng vợ  gả  chồng từ  14 ­15 tuổi và điều này được thôn bản công nhận  là 
“hợp thức” so với phong tục tập quán truyền thống địa phương. 


Căn cứ vào các nguồn dữ liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau trên trang 
12

Bob Baulch và các tác giả viện Hàn lâm KHXH Việt Nam(2009), Nghèo ở các dân tộc thiểu số tại Việt 
Nam
13
 Đây là kết quả nằm trong nội dung điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế  
tiến hành từ tháng 8­10/2015 với sự tham gia của gần 4.000 người trong độ tuổi từ 18­69 tại 63 tỉnh thành.

19


Averageheight.co cùng các thống kê khác để đưa ra bản đồ chiều cao người dân 
các nước trên thế giới. Theo bản đồ này thì chiều cao trung bình của người dân 
Việt Nam nằm trong top 10 nước người dân thấp nhất thế giới, với vị trí thứ 4 
(tính từ dưới lên) chiều cao trung bình của nam giới là 1,621m. 
           Nếu xem xét trong hơn 30 năm qua, chiều cao trung bình của nam thanh niên 
Việt Nam chỉ tăng thêm trên 4,5cm thấp hơn chuẩn quốc tế 13cm, trung bình mỗi 
năm chỉ tăng 0,15cm. Qua tham khảo thấy rằng Nhật Bản những năm 50 của thế 
kỷ trước là một trong các quốc gia có chiều cao hạn chế trên thế giới đã tăng lên 
10cm trong vòng 40 năm. Hiện nay thanh niên Nhật Bản đã đạt mức trung bình 
1,72 m đối với nam và 1,57m đối với nữ, chỉ thua kém chiều cao trung bình thế 
giới 5cm. Do có sự quan tâm và quyết tâm đầu tư của Chính phủ nếu chúng ta 
không có giải pháp phù hợp và quyết tâm cao sẽ mất khoảng 50 năm để phấn đấu, 
có nghĩa là đến năm 2050 Việt Nam mới có thể đạt chiều cao trung bình 1,72m 
như thanh niên Nhật Bản hiện nay.                                         Nguồn. Theo 
Telegrath.  

         Trong khi đó, theo thống kê về chiều cao năm 2008, ở vùng Tây Bắc 
chiều cao trung bình của nam thanh niên là 161,8 cm và của nữ thanh niên ở 

đúng hướng của các cộng đồng DTTS.   
4. Thách thức phát triển NNL trong DTTS từ bình diện văn hóa và ý 
thức tộc người 
1)Tình trạng duy trì tập quán chữa bệnh không sử dụng dịch vụ y  
tế 
           Nghèo đói cùng với điều kiện tự nhiên khó khăn (xa xôi, đường xá đi 
lại khó khăn) càng làm cho nhiều nhóm DTTS duy trì tập quán chữa bệnh 
không sử dụng dịch vụ y tế hiện đại. Có tới gần 40% dân số  đồng bào các 
DTTS miền núi phía Bắc và khoảng 20% đồng bào các tỉnh Tây Nguyên tự 
chữa bệnh, mà không đến thăm khám  ở  cơ  sở  y tế  tại địa phương 17. Điều 
này được lý giải bằng nhiều lý do: a) do đường xá xa xôi từ nhà đến cơ sở y  
tế; b) do chi phí thuốc đắt đỏ; do không quen cho bác sĩ thăm khám bản thân.  
Điều này phổ  biến  ở  các trường hợp phụ nữ  sinh nở. Có tới trên 80% phụ 
nữ   tự sinh con tại nhà thiếu sự  giúp đỡ  của các nhân viên y tế  là vì phong  
tục đó. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ suất chết trẻ dưới  
1 tuổi và tỷ  suất chết mẹ khi sinh cao trong các nhóm DTTS. Khoảng cách 
đến trạm y tế  xã xa chỉ  là nguyên nhân thứ  yếu, mà chủ  yếu do phong tục  
tập quán của các cộng đồng.Bởi nhiều phụ nữ sinh con tại nhà mặc dù nhà  
chỉ cách trạm xá xã chưa đầy 1 km.
          Một xu thế khác diễn ra ở số các học sinh bỏ học sớm, đó là đi làm ăn 
xa với những công việc nặng nhọc, không  ổn định và chắc chắn. Tại ba 
15

  Bộ Y tế (2008) , Báo cáo chung tổng quan ngành y tế
21


điểm nghiên cứu, tùy theo tâm lý tộc người và điều kiện địa lý mà thanh niên 
DTTS có những thái độ  và cách thích  ứng khác nhau với việc đi làm xa.  
Thường người dân đi làm theo nhóm hoặc mang tính cá nhân (tự phát) và đi  

hiện đại đối với các em như  là xu thế  tất yếu.  Ở  chừng mực nhất định, 
điều này thể hiện tâm lý muốn khẳng định bản thân là ‘hiện đại.’ Chuyện  
lạm dụng điện thoại cũng tác động không nhỏ  đến việc học của các em. 
Có những học sinh cấp 2 người Thái rủ nhau bỏ học, xuống Hà Nội đi làm 
chỉ  để  mua điện thoại. Một số  học sinh  người  Hmông  đòi cha mẹ  mình 
mua điện thoại, nếu không được đáp ứng sẽ phản ứng bằng cách nghỉ học 
hoặc bỏ nhà. Tuy hien, do thiếu hiểu biết về kỹ thuật, nên nhiều khi các 
em mua điện thoại dung hết pin rồi vứt. 
           Cũng như vậy, thanh niên ỏ  một số cộng đồng DTTS như  người  
chứt  ở Quảng Bình cũng đua nhau mua xe máy, thậm chí bắt cha mẹ  bán  
cả  trâu bò đi để  mua xe. Nhưng không phải thanh niên nào cũng sử  dụng 
xe máy một cách hiệu quả. Nhiều anh em khi có xe máy đi rĩ ầm ga, chạy 
vài chục lần quanh bản để  “khoe” với bà ccon. Tuy nhiên, họ  dùng xe 
chẳng được bao lâu, xe máy chạy hết xăng hoặc hơi trục trặc, họ  vứt 1  
chỗ và không thiết sửa để đi nữa…16.    
        
         3) Hiện tượng thanh niên, học sinh DTTS phản ứng tiêu cực tìm  
đến việc tự tử bằng lá ngón gia tăng 
            Trong nghiên cứu một số  DTTS  ở  một vài tình miề  núi phái Bắc,  
nhóm nghiên cứu thấy nổi lên hiện tượng tự tử bằng lá ngón của các em học  
sinh người Hmông gia tăng. Việc tự tử bằng lá ngón không có gì là mới với  
người Hmông, bởi nó xuất hiện nhiều trong các câu chuyện dân gian  được 
lưu truyền tại cộng đồng, được hiểu như  là ‘cách thức’ để  người Hmông 
giải quyết uất ức mỗi khi  bế tắc, không lối thoát. Thế nhưng thời gian gần  
đây có nhiều đối tượng học sinh tìm đến phương thức ăn lá ngón và coi đó  
như  là một ‘phản  ứng’ nhất thời khi  đòi hỏi của mình không được cha mẹ 
đáp ứng. 
           Nguyên nhân dẫn đến hành vi tự tử có khi giản  đơn như ‘đòi cha mẹ 
mua   điện   thoại   không  được’;  ‘yêu   một   người   không   được   đáp   lại   tình 
Tham khảo công trình. Nghiên ứu cơ ội và năng lực phát triển con người của người Chứt ở miền Trung 

con dân tộc Mường không còn bình yên như trước đây nữa. Vì trước đây quá  
nghèo khổ, hiếm khi có được lấy một chục triệu đồng trong tay nên khi con 
đường đi qua, nhiều người nghe đất có giá, đã bán đổ  bán tháo, có khi cả 
ngàn mét vuông chỉ bán với vài chục triệu đồng.
            Những người buôn đất cũng không ai xa lạ mà chính là các cán bộ địa  
phương, họ đã mua đất của bà con người Mường với giá rẻ bèo, sau đó bán  
lại cho nhà buôn với giá gấp năm, sáu lần giá mua. Nhà buôn sau đó lại tiếp 
tục bán cho những người mở nhà hàng, quán xá với giá cao gấp vài lần nữa.  

24


Những người Mường từng là chủ mảnh đất chỉ biết xót xa đứng nhìn người 
ta hốt bạc trên mảnh vườn xưa – nơi chon rau cắt rốn của mình.
            Và đương nhiên không ít người Mường oán hận bởi lối nói chuyện  
khinh bạc, cho rằng vì người Mường ngu ngốc, không hiểu gì nên mới bị 
lừa bán đất rẻ như cho. Trong khi đó, người Mường vốn thật thà, tin người 
chứ  người Mường đâu có ngờ  người ta bịp bợm, coi khinh sự  thật thà của 
Mường như thế! 
            Chính vì bị coi thường, kinh rẻ, thất nghiệp và mù chữ, nhiều thanh  
niên Mường đã nghe theo một số  chủ  lô đề  người Kinh, tham gia đánh đề, 
bán số  đề, ban đầu cũng kiếm được không ít tiền, lại rủ nhau chích choác, 
hút hít, đến khi bị nghiện ma túy thì cũng là lúc tiền đã đi sạch, những khoản 
nào còn có thể  khoắng được của gia đình, các thanh niên này về  khoắng  
sạch mỗi khi lên cơn nghiện. Nếu nhà khánh kiệt, không còn gì để  khoắng, 
thì không biết còn những thực tế kinh hoàng đến mức nào có thể xảy ra như 
cha mẹ anh em đánh giết lẫn nhau vì chút tiền để chếch choác…
           Đối với một gia đình người Mường thì chỉ mong cuộc sống đơn giản 
chất phát thanh đạm, nhưng con cái đua đòi thì là một gánh nặng một cái 
khổ  chung cho các gia đình dân tộc thiểu số. Không dừng ở đó, nhóm thanh 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status