THÁCH THỨC TRONG PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC DÂN TỘC THIỂU SỐ NƯỚC TA
NHÌN TỪ TIẾP CẬN VĂN HÓA & TÂM LÝ CÁC TỘC NGƯỜI
Trịnh Thị Kim Ngọc
PGS.,TSKH., Viện Nghiên cứu Con người,
Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam
Đặt vấn đề
Một trong những vấn đề nằm trong những quan tâm hàng đầu đặt ra
cho sự nghiệp đổi mới đất nước, đó là phát triển nguồn nhân lực (NNL).
Với vai trò quyết định sự thành bại của NNL trong sự nghiệp phát triển, vấn
đề NNL luôn được đặt ra cấp thiết cho mọi thời kỳ và thời đại. Trong đó,
một mảng vấn đề luôn là nỗi trăn trở của giới nghiên cứu và hoạch định
chính sách, đó là phát triển NNL dân tộc thiểu số (DTTS) tại các địa bàn
miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn ở nước ta hiện nay.
Nước ta có 54 dân tộc, ngoài người Kinh là nhóm đa số, còn 53
DTTS, sinh sống tại 53 tỉnh thành phố trên cả nước. Theo số liệu của Tổng
cục Thống kê (TCTK), năm 2009, dân số thuộc DTTS ở nước ta gồm
12.251.436 người, chiếm tỷ lệ 14,27% dân số Việt Nam.
Nhìn chung, vùng đồng bào DTTS sinh sống là vùng dân cư có tỷ lệ
nghèo cao, có đời sống vật chất và tinh thần khó khăn hơn nhiều so với các
vùng miền khác trong cả nước. Điều đó đã tác động mạnh mẽ tới thực trạng
NNL của đồng bào. Nghị quyết 52/NQCP ngày 12 tháng 6 năm 2016 về
Đẩy mạnh phát triển NNL các DTTS giai đoạn 20162020 đã nhận định rất
xác đáng rằng: NNL của các DTTS nước ta còn bộc lộ nhiều hạn chế. Lao
động DTTS chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp, tỷ lệ lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật rất thấp, chủ yếu là lao động giản đơn và
chưa qua đào tạo; nhận thức, kỹ năng sống, khả năng thích ứng môi trường
mới còn hạn chế; tác phong và kỷ luật lao động của NNL các DTTS còn
1
1
Xét về mặt hành chính, vùng này bao gồm 15 tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Quảng
Ninh, Phú Thọ, Bắc Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình. Trung tâm vùng là Thành phố Thái Nguyên; Thành phố Việt Trì.
2
rất nhiều cách tiếp cận và lý giải về nguồn nhân lực. Theo định nghĩa tổng
quan của Liên hiệp quốc thì “nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ
năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới
sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước.” Trong đó, nguồn nhân lực
có thể hiểu ở nghĩa rộng là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã
hội và nguồn lực con người cho sự phát triển. Ở góc độ hẹp hơn, NNL
được xem như là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát
triển kinh tế xã hội bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có
khả năng tham gia lao động và sản xuất xã hội.
Nói cách khác, NNL là tổng thể những tiềm năng của con người
(trước hết & cơ bản nhất là tiềm năng lao động), bao hàm yếu tố thể lực,
trí lực và nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức
hoặc một cơ cấu kinh tế xã hội nhất định (Võ Xuân Tiến, 2010). NNL
còn có thể được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ
được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Beng, Fischer &
Dornhusch, 1995).
Nhiều người vẫn hay nhầm hai khái niệm nguồn nhân lực và lực
lượng lao động. Cần phải phân biệt rõ hai khái niệm này để có những luận
giải xác đáng khi phân tích. Lực lượng lao động được xác định là người lao
động đang làm việc và người trong độ tuổi lao động có nhu cầu nhưng
không có việc làm (người thất nghiệp). Nguồn nhân lực là những người đã,
đang và sẽ bổ sung vào lực lượng lao động.
chính sách của Nhà nước liên quan đến phát triển nguồn nhân lực vùng
dân tộc và miền núi.
Hình 1. Khung phân tích những thách thức của NNL DTTS
4
Khi xem xét về những cơ hội và thách thức trong NNL các DTTS,
chúng ta xem xét vốn con người của đồng bào, những vấn đề của NNL trên
trong mối quan hệ chặt chẽ với những vấn đề kinh tế xã hội nơi mà cộng
đồng các DTTS đang sinh sống. Khung phân tích đã được thể hiện theo mô
hình trên đây.
II. Một số thách thức trong phát triển NNL vùng DTTS nước ta nhìn từ
tiếp cận văn hóa tâm lý tộc người
1. Thách thức từ những điều kiện về vị trí địa lý và cơ hội tiếp cận
của cộng đồng
Nhìn về điều kiện kinh tế xã hội nói chung, chúng ta thấy, tới gần
một nửa dân số DTTS nước ta (48,6%) sống tại vùng trung du miền núi phía
Bắc. Có khoảng 30% (29,3%) sống tại các vùng Bắc trung bộ và Duyên hải
miền trung và Tây Nguyên. Như vậy, có đến gần 80% dân số của DTTS
sống tại 3 vùng miền khó khăn nhất trong cả nước. Hầu hết các tỉnh trong
ba vùng trung du miền núi phía Bắc, Bắc trung bộ và Duyên hải miền trung
và Tây Nguyên không chỉ có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và vị trí địa lý
vô cùng cách trở: xa xôi hẻo lánh, núi non hiểm trở, hoặc là cũng là vùng
chịu nhiều thiên tai như bão, lũ cuốn, sạt lở núi, cũng như các hệ lụy khác
của hiện tượng biến đổi khí hậu…. nhìn chung, đây là các vùng dân cư
5
Tỷ lệ
DTTS
Thứ
hạng
HDI các
tỉnh
Tuyên Quang
Đắk Nông
Hòa Bình
Trà Vinh
Gia Lai
Bắc Cạn
Cao Bằng
Ninh Thuận
Lào Cai
Kon Tum
Sơn La
Yên Bái
Điện Biên
51,79
35,61
72,27
31,65
43,7
86,63
94,25
21,98
Chỉ số
HDI
năm
2009
0,624
..
0,574
0,600
0,519
0,585
0,541
0,599
0,527
0,535
0,527
0,580
....
0,651
0,629
0,629
0,653
0,584
0,623
0,596
0,629
0,608
0,576
0,588
Việt Nam của Hội đồng Dân tộc
Bên cạnh đó, các điều kiện về cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống dân
cư như điện, đường, trường, trạm, nước sạch,…. mặc dù đã được Đảng và
Nhà nước đặc biệt quan tâm xây dựng tới trên 90% các xã, bản của đồng
bào. Tuy nhiên, việc tiếp cận với những thành tựu của công cuộc đổi mới
của đồng bào còn vô cùng hạn chế.
Cơ sở hạ tầng kém, điều kiện sinh hoạt khó khăn và địa hình hiểm
trở đã làm hạn chế điều kiện và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ
bản như giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ và môi trường sống đảm
bảo ... của người dân. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng, mà
cả số lượng dân số và nguồn NNL tại các địa bàn nêu trên. Một số ví dụ
thực tế là: tính đến cuối năm 2011, chỉ có 33% người dân ở 4 tỉnh Hà Giang:
Đồng Văn, Mèo Vạc, Quảng Bạ và Yêm Minh được sử dụng nước sạch;
Tại Lai Châu, chỉ có 53% hộ gia đình sử dụng điện nối mạng quốc gia, trong
khi tỷ lệ này lên đến 100% ở một số tỉnh khác ở miền Bắc, như Vĩnh Phúc,
Hải Phòng38...
3
Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình, TCTK, 2011.
7
Một số nơi khác nguồn nước sạch rất khó khăn vì phải bơm theo giờ
đóng nối điện. Nhưng ở một số cộng đồng, vài tiếng đồng hồ có nước sạch
không kịp để bà con dự trữ nước dung lúc không có điện, mà chỉ kịp cho trẻ
em và trâu bò trong bản tắm là hết giờ. Nhiều bản có nguồn nước sạch chứa
trong bể cung của bản, nhưng dân bản cùng cả ngày mà không biết tiết
kiệm (có khi để nước chảy cả ngày) nên khi bà con đi làm về dùng nước thì
nhất của Đảng và Nhà nước.
3. Thách thức trong cơ hội tìm việc làm của lao động
Với địa bàn chủ yếu là rừng núi, lao động trong vùng DTTS nước ta
chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông – lâm nghiệp, đặc biệt là 2 vùng có số
lượng và tỷ lệ DTTS cao nhất cả nước là Trung du miền núi phía Bắc, nơi
có trên 75% lao động làm nông nghiệp. Trong khi tỷ lệ này lực lượng này
trên cả nước chỉ là 51,9%. Chưa nói đến việc nông nghiệp của đồng bào ta
chủ yếu đang dừng lại ở mô hình nông nghiệp nương rẫy, tự cung tự cấp,
phụ thuộc rất hiều vào thòi tiết, nên chất lượng và hiệu quả kinh tế từ đó
chưa cao.
Ở các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, cũng như với các ngành nghề
có chuyên môn kỹ thuật cao thì lực lượng lao động này chưa tiếp cận được
và nếu có thì số lượng cũng rất hiếm, chất lượng cũng rất thấp. Mặc dù,
Nhà nước đã ban hành Thông tư 58/2017, là nhà nước sẽ hỗ trợ (đóng bảo
hiểm xã hội thay) cho các đơn vị sử dụng lao động là người DTTS tối đa là
5 năm/người lao động. Đồng thời, Ban Quản lý nhiều khu chế xuất và công
nghiệp ở các tỉnh thành đã đề nghị các doanh nghiệp ưu tiên gia tăng cơ hội
việc làm cho người DTTS với nhiều ưu đãi của địa phương. Tuy nhiên,
trình độ tiếp thu thông tin kỹ thuật, trau dồi nâng cao tay nghề, theo yêu cầu
sản xuất của các doanh nghiệp, thì lao động là người DTTS nhìn chung vẫn
chưa đáp ứng được và vì vậy tỷ lệ lao động tham gia các doanh nghiệp
trong nước và liên doanh đều rất hiếm hoi. Trong bối cảnh cạnh tranh vi ệc
làm của lao động trẻ đang ngày một khốc liệt, nên việc làm của lao động
người DTTS thường là những việc làm có thu nhập chưa cao.
Bảng 2. Cơ cấu dân số DTTS theo ngành nghề làm việc
các vùng trong cả nước trong đó có vùng DTTS
T ỷ l ệ %
73,4
7,9
18,6
78,44
64,81
76,33
6,26
7,31
5,93
0,85
0,56 (ĐBSCL)
0,76
Theo nghề
Nghề nông & nghề đơn
giản
Ngành nghề có CMKT 22,37%
cao và trung bình
lao
động
có
17,7%), thuộc 32/53 thành phần dân tộc. Ở cấp địa phương, tỷ lệ DTTS
tham gia Hội đồng nhân dân các cấp còn cao hơn. Tại nhiệm kỳ 2010 2015
tỷ lệ này là 20,53% ở cấp tỉnh, 20,18% ở cấp huyện và 24,4% ở cấp xã6.
Tỷ lệ thành viên ủy ban nhân dân các cấp là người DTTS có thấp hơn,
tương ứng bằng 10,9% (cấp tỉnh), 11,32% (cấp huyện), 17,9% (cấp xã).
Điển hình có tỉnh như Cao Bằng tỷ lệ thành viên là DTTS tham gia ủy ban
nhân nhân đạt gần 100%. Thực tế này cho thấy tỷ lệ người dân tộc tham gia
hội đồng nhân dân các cấp (tính cơ cấu được ưu tiên) cao hơn tỷ lệ người
DTTS tham gia vào ủy ban nhân dân (trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp
vụ và năng lực quản lý được ưu tiên)7.
Hình 2: Cơ cấu ngành nghề làm việc theo vùng
6
Ủy ban Dân tộc. (2010). “Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và đề
xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực vùng DT& MN”.
7
Ủy ban Dân tộc. (2010). Tài liệu đã dẫn
11
4. Thách thức về chất lượng NNL người DTTS từ góc độ trí lực
Một trong những chỉ báo cơ bản nhất của chất lượng dân số và
NNL là tỷ lệ người lớn (từ 15 tuổi trở lên) biết chữ, thì tỷ lệ này ở các
tỉnh trung du & miền núi phía Bắc vẫn là các tỉnh có tỷ lệ người lớn biết
chữ thấp nhất trong cả nước. Trong đó hầu hết là các tỉnh miền núi phía
Bắc (bảng 3 dưới đây).
Bảng 3: Tỷ lệ biết chữ của dân số từ 15 tuổi trở lên tại một số tỉnh
miền núi, đông dân tộc sinh sống
II Trung bình Vùng Tây
nguyên
91,6
II Trung bình Vùng ĐB sông
Cửu Long
I
10 tỉnh có tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ thấp nhất
1
2
3
4
5
6
7
Lai Châu
Hà Giang
Điện Biên
Sơn La
Lào Cai
Gia Lai
Cao Bằng
57,4
65,5
67,6
75,2
77,5
80,5
82,2
mà toàn bộ thông tin chủ yếu bằng tiếng Việt, thì thông tin về khoa học
12
công nghệ và kinh tế xã hội đến với bà con người DTTS cực kỳ khó khăn.
Thực tế ghi nhận tại một số tỉnh 3 miền Tây Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây
Nam Bộ cho thấy: các đối tượng mù chữ phần lớn là người cao tuổi, có tâm
lý ngại đi học, cho nên việc vận động họ đến lớp là vô cùng khó khăn. Tuy
nhiên, giờ đây ngay cả thanh niên của nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn,
lại là lao động chính, nên họ cũng không có thời gian học tập. Đáng chú ý,
tại vùng biên giới Tây Bắc, tỷ lệ người DTTS trong độ tuổi từ 15 đến 60
không biết đọc, biết viết hiện chiếm trên 21% số dân. Nguyên nhân dẫn đến
tình trạng này là do các ban chỉ đạo phổ cập giáo dục tại cấp xã, cấp huyện,
nhất là ở những xã biên giới, xã đặc biệt khó khăn chưa thật sự chú trọng,
quan tâm công tác xóa mù chữ và ngăn ngừa hiện tượng tái mù. Số người mù
chữ, tái mù chữ ở các xã này rất cao, công tác xóa mù chữ không đạt hiệu
quả như yêu cầu của các đề án phát triển đặt ra.
Khi người mù chữ ở nhiều DTTS chiếm tỷ lệ cao, đồng nghĩa với
việc một số lượng đáng kể của lực lương lao động không thể tiếp cận
thông tin từ báo chí, sách vở…. Nguồn thông tin chỉ đến với bà con qua phát
thanh, truyền hình, qua tuyên truyền miệng của cán bộ địa phương trong các
buổi tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn.v.v... Song, thực tế trong nhiều năm
qua, không chỉ truyền thông trên các phương tiện nghe nhìn, mà cả tuyên
truyền trực tiếp vẫn chưa mang lại hiệu quả mong muốn cho nhiều nhóm
người DTTS.
Trong khi đó, bên cạnh các yếu tố đặc thù về điều kiện tự nhiên và
kinh tếxã hội, vấn đề giáo dục, đặc biệt tình trạng bỏ học nổi lên như một
thực tế cấp bách tại cùng đồng bào DTTS. Một nghiên cứu việc học tập của
học sinh DTTS địa bàn ba tỉnh nghiên cứu cho thấy,tính từ năm 2004 trở lại
đây4 hiện tượng học sinh DTTS bỏ học diễn ra ngày càng phổ biến. Đáng
Điện Biên
Yên Bái
Nguồn: Số học sinh phổ thông thuộc các
DTTS phân theo địa phương năm 2010. TCTK
Kết quả nghiên cứu này đã cho nhận xét tương tự như nhiều công
trình cứu khác về tình hình giáo dục vùng DTTS khu vực Tây Nguyên mà các
nhà nghiên cứu khác đã công bố (xem Trương Huyền Chi, 2010). Nghiên cứu
tại 3 tỉnh Hà Giang, Yên Bái và Điện Biên cho thấy tỷ lệ này dường như
không được cải thiện trong suốt thời gian từ 2004 đến năm 2010. Đối chiếu
với số liệu thống kê tại thời điểm 2010, số lượng học sinh đến trường thậm
chí còn giảm đi tại một số tỉnh như Hà Giang từ 128,955 em (năm 2004) đến
năm 2010 xuống còn 120,410; Yên Bái từ 93,734 giảm còn 76,064 học sinh.
Trong đó, tỷ lệ học sinh bậc tiểu học của Hà Giang từ 55,92% xuống
34,24% và giảm tiếp còn 9,84% tại bậc phổ thông trung học. Tình hình Yên
Bái cũng không khả quan hơn khi tỷ lệ học sinh đi học từ 54% xuống 34,40
và đến cấp 3 thì tỷ lệ học sinh chỉ còn 10,61%.
Tham khảo công trình. Học không được hay học để làm gì? Trải nghiệm của thanh thiếu niên các DTTS
tại 3 tình Yên Bái, Hà Giang và Điện Biên. Công bố tháng 12/2011.
8
14
Con số này thực sự đáng lưu tâm bởi nó dường như không thể hiện
tương thích với nỗ lực không ngừng từ phía Nhà nước và các cơ quan chức
năng về hỗ trợ giáo dục cho đồng bào DTTS trong mấy năm trở lại đây.
Hình như, tình hình học sinh bỏ học có vẻ như không đi đôi với mức độ ưu
chuyên tâm học tập bởi họ còn có bố làm ở xã, có anh làm ở huyện….. họ có
cơ hội xin được việc làm….10
4. Thách thức về mặt thể lực của nguồn nhân lực vùng DTTS
Chất lượng NNL phải được tính đến từ khi đứa trẻ mới hình thành.
Dựa vào một số chỉ báo chính như tỷ lệ suy dinh dưỡng, tỷ suất chết trẻ
em, tình trạng bệnh tật và tuổi thọ bình quân…, chúng ta có cơ sở để đánh
giá về chất lượng (về mặt thể chất, thể lực) của NNL của DTTS chưa cao.
Thứ nhất, tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em vùng DTTS còn cao.
Mặc dù, tỷ lệ này có giảm so với thập niên trước, nhưng tỷ lệ này vẫn cao
so với mức trung bình của cả nước 3 tiêu thức đo lường: suy dinh dưỡng
cân nặng/độ tuổi, suy dinh dưỡng chiều cao/tuổi và suy dinh dưỡng cân
nặng/chiều cao (Xem bảng 4).
Bảng 4: Một số chỉ số về thể lực nguồn nhân lực vùng DTTS
Đơn vị: %
Nhóm dân số
Cả nước
Trung du và miền
núi phía Bắc
Tây Nguyên
Mảng
La Hủ
Cờ Lao
Tày
Thái
Mường
Khmer
70,3
27,1
69,2
22,2
68
18
69,5
45,5
61,3
32,0
64,9
Tham khảo công trình. Học không được hay học để làm gì? Trải nghiệm của thanh thiếu niên các DTTS
tại 3 tình Yên Bái, Hà Giang và Điện Biên. Công bố tháng 12/2011.
10
16
Nguồn: Kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2009; Dự án bảo tồn và
phát triển kinh tế xã hội các dân tộc Mảng, La Hủ, CốngỦy ban nhân
dân tỉnh Lai Châu năm 2010; Dự án bảo tồn và phát triển kinh tế xã hội
các dân tộc Cờ Lao Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang năm 2010
Đối với một số nhóm DTTS số rất ít người tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ
em còn cao hơn rất nhiều như ở dân tộc Mảng 40,03%, La Hủ 44%, Cờ
Lao 47,37%... Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ em dưới 24 tháng
trong các nhóm DTTS có giảm, từ 35% (1998) xuống còn 33% (2006), nhưng
lại tăng lên đối với nhóm trẻ em từ 24 tháng trở lên, từ 54% (1998) lên 57%
(2006). Ngược lại, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm của trẻ em dưới 24
huyện Tân Uyên, nơi đồng bào dân tộc Mông sinh sống tình trạng tảo hôn cũng
xảy ra phổ biến, hầu hết nữ giới kết hôn trước 16 tuổi, thậm chí con của các
đồng chí lãnh đạo cũng tảo hôn. Trên địa bàn vùng cao, đồng bào dân tộc không
làm giấy khai sinh, vì thế chính quyền không có cơ sở để xử lý các cặp vợ chồng
tảo hôn.
(Nguồn: Phỏng vấn các cán bộ huyện Tân Uyên )
Pà Thẻng (Yên Bái) thường lấy vợ lấy chồng ở độ tuổi 1415 thường do cha
mẹ sắp đặt. Xuất phát từ nhu cầu thiếu người lao động bên nhà trai muốn
lấy thêm lao động về làm hơn là việc xây dựng hạnh phúc cho con cái. Một
số gia đình khi hỏi vợ cho con, ‘cô dâu’ vẫn đang học lớp 7, lớp 8. Khi hỏi
cưới, gia đình nhà trai hay cam kết cưới về vẫn cho con dâu học tiếp.
Nhưng thực tế, sau khi về nhà chồng, cô gái không được đi học nữa mà chỉ
ở nhà làm nội trợ. Nhà gái cũng ít khi thắc mắc bởi họ cho rằng con mình
thuộc về gia đình người chồng quản lý.
Vấn đề tảo hôn của người Hmông khác biệt ở chỗ việc lấy chồng
lấy vợ sớm thường do tự các em đề xuất. Đến tuổi trưởng thành, các em
được tự do tìm hiểu yêu đương và được quyền đề xuất mong muốn lấy vợ,
lấy chồng. Bởi lẽ theo quan niệm người Hmông, con gái 1617 tuổi mà chưa
lấy chồng xem như ‘ế.’ Các em thường thông báo với cha mẹ việc kết hôn
của mình và chờ gia đình định ngày tổ chức. phần đa các em học sinh người
Thái đều học hết cấp 2, nhiều em học lên cấp 3, khi đi học ít bị cha mẹ ép
lấy chồng sớm. Độ tuổi kết hôn của người Thái hiện nay từ 18 đến 20. Mặc
dù nhà nước ban hành luật hôn nhân và gia đình, không cho phép nam hay nữ
chưa đến tuổi quy định được phép kết hôn, trên thực tế, người dân vẫn tổ
chức cưới hỏi nhưng không đăng ký để tránh phiền phức pháp lý. Vấn đề là
ở chỗ phong tục của người Hmông, người Dao hay người Pà Thẻn thường
dựng vợ gả chồng từ 14 15 tuổi và điều này được thôn bản công nhận là
“hợp thức” so với phong tục tập quán truyền thống địa phương.
Căn cứ vào các nguồn dữ liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau trên trang
12
Bob Baulch và các tác giả viện Hàn lâm KHXH Việt Nam(2009), Nghèo ở các dân tộc thiểu số tại Việt
Nam
13
Đây là kết quả nằm trong nội dung điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế
tiến hành từ tháng 810/2015 với sự tham gia của gần 4.000 người trong độ tuổi từ 1869 tại 63 tỉnh thành.
19
Averageheight.co cùng các thống kê khác để đưa ra bản đồ chiều cao người dân
các nước trên thế giới. Theo bản đồ này thì chiều cao trung bình của người dân
Việt Nam nằm trong top 10 nước người dân thấp nhất thế giới, với vị trí thứ 4
(tính từ dưới lên) chiều cao trung bình của nam giới là 1,621m.
Nếu xem xét trong hơn 30 năm qua, chiều cao trung bình của nam thanh niên
Việt Nam chỉ tăng thêm trên 4,5cm thấp hơn chuẩn quốc tế 13cm, trung bình mỗi
năm chỉ tăng 0,15cm. Qua tham khảo thấy rằng Nhật Bản những năm 50 của thế
kỷ trước là một trong các quốc gia có chiều cao hạn chế trên thế giới đã tăng lên
10cm trong vòng 40 năm. Hiện nay thanh niên Nhật Bản đã đạt mức trung bình
1,72 m đối với nam và 1,57m đối với nữ, chỉ thua kém chiều cao trung bình thế
giới 5cm. Do có sự quan tâm và quyết tâm đầu tư của Chính phủ nếu chúng ta
không có giải pháp phù hợp và quyết tâm cao sẽ mất khoảng 50 năm để phấn đấu,
có nghĩa là đến năm 2050 Việt Nam mới có thể đạt chiều cao trung bình 1,72m
như thanh niên Nhật Bản hiện nay. Nguồn. Theo
Telegrath.
Trong khi đó, theo thống kê về chiều cao năm 2008, ở vùng Tây Bắc
chiều cao trung bình của nam thanh niên là 161,8 cm và của nữ thanh niên ở
đúng hướng của các cộng đồng DTTS.
4. Thách thức phát triển NNL trong DTTS từ bình diện văn hóa và ý
thức tộc người
1)Tình trạng duy trì tập quán chữa bệnh không sử dụng dịch vụ y
tế
Nghèo đói cùng với điều kiện tự nhiên khó khăn (xa xôi, đường xá đi
lại khó khăn) càng làm cho nhiều nhóm DTTS duy trì tập quán chữa bệnh
không sử dụng dịch vụ y tế hiện đại. Có tới gần 40% dân số đồng bào các
DTTS miền núi phía Bắc và khoảng 20% đồng bào các tỉnh Tây Nguyên tự
chữa bệnh, mà không đến thăm khám ở cơ sở y tế tại địa phương 17. Điều
này được lý giải bằng nhiều lý do: a) do đường xá xa xôi từ nhà đến cơ sở y
tế; b) do chi phí thuốc đắt đỏ; do không quen cho bác sĩ thăm khám bản thân.
Điều này phổ biến ở các trường hợp phụ nữ sinh nở. Có tới trên 80% phụ
nữ tự sinh con tại nhà thiếu sự giúp đỡ của các nhân viên y tế là vì phong
tục đó. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ suất chết trẻ dưới
1 tuổi và tỷ suất chết mẹ khi sinh cao trong các nhóm DTTS. Khoảng cách
đến trạm y tế xã xa chỉ là nguyên nhân thứ yếu, mà chủ yếu do phong tục
tập quán của các cộng đồng.Bởi nhiều phụ nữ sinh con tại nhà mặc dù nhà
chỉ cách trạm xá xã chưa đầy 1 km.
Một xu thế khác diễn ra ở số các học sinh bỏ học sớm, đó là đi làm ăn
xa với những công việc nặng nhọc, không ổn định và chắc chắn. Tại ba
15
Bộ Y tế (2008) , Báo cáo chung tổng quan ngành y tế
21
điểm nghiên cứu, tùy theo tâm lý tộc người và điều kiện địa lý mà thanh niên
DTTS có những thái độ và cách thích ứng khác nhau với việc đi làm xa.
Thường người dân đi làm theo nhóm hoặc mang tính cá nhân (tự phát) và đi
hiện đại đối với các em như là xu thế tất yếu. Ở chừng mực nhất định,
điều này thể hiện tâm lý muốn khẳng định bản thân là ‘hiện đại.’ Chuyện
lạm dụng điện thoại cũng tác động không nhỏ đến việc học của các em.
Có những học sinh cấp 2 người Thái rủ nhau bỏ học, xuống Hà Nội đi làm
chỉ để mua điện thoại. Một số học sinh người Hmông đòi cha mẹ mình
mua điện thoại, nếu không được đáp ứng sẽ phản ứng bằng cách nghỉ học
hoặc bỏ nhà. Tuy hien, do thiếu hiểu biết về kỹ thuật, nên nhiều khi các
em mua điện thoại dung hết pin rồi vứt.
Cũng như vậy, thanh niên ỏ một số cộng đồng DTTS như người
chứt ở Quảng Bình cũng đua nhau mua xe máy, thậm chí bắt cha mẹ bán
cả trâu bò đi để mua xe. Nhưng không phải thanh niên nào cũng sử dụng
xe máy một cách hiệu quả. Nhiều anh em khi có xe máy đi rĩ ầm ga, chạy
vài chục lần quanh bản để “khoe” với bà ccon. Tuy nhiên, họ dùng xe
chẳng được bao lâu, xe máy chạy hết xăng hoặc hơi trục trặc, họ vứt 1
chỗ và không thiết sửa để đi nữa…16.
3) Hiện tượng thanh niên, học sinh DTTS phản ứng tiêu cực tìm
đến việc tự tử bằng lá ngón gia tăng
Trong nghiên cứu một số DTTS ở một vài tình miề núi phái Bắc,
nhóm nghiên cứu thấy nổi lên hiện tượng tự tử bằng lá ngón của các em học
sinh người Hmông gia tăng. Việc tự tử bằng lá ngón không có gì là mới với
người Hmông, bởi nó xuất hiện nhiều trong các câu chuyện dân gian được
lưu truyền tại cộng đồng, được hiểu như là ‘cách thức’ để người Hmông
giải quyết uất ức mỗi khi bế tắc, không lối thoát. Thế nhưng thời gian gần
đây có nhiều đối tượng học sinh tìm đến phương thức ăn lá ngón và coi đó
như là một ‘phản ứng’ nhất thời khi đòi hỏi của mình không được cha mẹ
đáp ứng.
Nguyên nhân dẫn đến hành vi tự tử có khi giản đơn như ‘đòi cha mẹ
mua điện thoại không được’; ‘yêu một người không được đáp lại tình
Tham khảo công trình. Nghiên ứu cơ ội và năng lực phát triển con người của người Chứt ở miền Trung
con dân tộc Mường không còn bình yên như trước đây nữa. Vì trước đây quá
nghèo khổ, hiếm khi có được lấy một chục triệu đồng trong tay nên khi con
đường đi qua, nhiều người nghe đất có giá, đã bán đổ bán tháo, có khi cả
ngàn mét vuông chỉ bán với vài chục triệu đồng.
Những người buôn đất cũng không ai xa lạ mà chính là các cán bộ địa
phương, họ đã mua đất của bà con người Mường với giá rẻ bèo, sau đó bán
lại cho nhà buôn với giá gấp năm, sáu lần giá mua. Nhà buôn sau đó lại tiếp
tục bán cho những người mở nhà hàng, quán xá với giá cao gấp vài lần nữa.
24
Những người Mường từng là chủ mảnh đất chỉ biết xót xa đứng nhìn người
ta hốt bạc trên mảnh vườn xưa – nơi chon rau cắt rốn của mình.
Và đương nhiên không ít người Mường oán hận bởi lối nói chuyện
khinh bạc, cho rằng vì người Mường ngu ngốc, không hiểu gì nên mới bị
lừa bán đất rẻ như cho. Trong khi đó, người Mường vốn thật thà, tin người
chứ người Mường đâu có ngờ người ta bịp bợm, coi khinh sự thật thà của
Mường như thế!
Chính vì bị coi thường, kinh rẻ, thất nghiệp và mù chữ, nhiều thanh
niên Mường đã nghe theo một số chủ lô đề người Kinh, tham gia đánh đề,
bán số đề, ban đầu cũng kiếm được không ít tiền, lại rủ nhau chích choác,
hút hít, đến khi bị nghiện ma túy thì cũng là lúc tiền đã đi sạch, những khoản
nào còn có thể khoắng được của gia đình, các thanh niên này về khoắng
sạch mỗi khi lên cơn nghiện. Nếu nhà khánh kiệt, không còn gì để khoắng,
thì không biết còn những thực tế kinh hoàng đến mức nào có thể xảy ra như
cha mẹ anh em đánh giết lẫn nhau vì chút tiền để chếch choác…
Đối với một gia đình người Mường thì chỉ mong cuộc sống đơn giản
chất phát thanh đạm, nhưng con cái đua đòi thì là một gánh nặng một cái
khổ chung cho các gia đình dân tộc thiểu số. Không dừng ở đó, nhóm thanh