VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THANH
ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Giáo viên hướng dẫn: TS Phạm Thị Thúy Nga
HÀ NỘI, 2018
HÀ NỘI, 2018
HÀ NỘI - năm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật – Học viện Khoa
học và xã hội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật – Học viện Khoa học
QUYỀN ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA
NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ................................................................ 55
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam về quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động ....................... 55
3.2. Định hướng, yêu cầu hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam về quyền
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động ...... 56
3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam về quyền đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động ............................ 59
KẾT LUẬN ................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 73
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLLĐ:
Bộ luật lao động
HĐLĐ:
Hợp đồng lao động
NLĐ:
Người lao động
NSDLĐ:
Người sử dụng lao động
QHLĐ:
muốn tham gia vào quan hệ lao động. Pháp luật Việt Nam đã đưa ra những
yêu cầu các bên phải thực hiện giao kết hợp đồng khi tham gia quan hệ lao
động đồng thời cũng cho phép các bên được đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động nhằm phù hợp với nhu cầu, điều kiện mới của mỗi bên. Nhờ đó có
thể hạn chế tới mức tối đa những thiệt hại cũng như tranh chấp, khiếu nại,
khởi kiện giữa các bên.
Tuy nhiên trong quá trình thực tiễn áp dụng, đơn phương chấm dứt
hợp đồng đặc biệt là đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao
động vẫn còn nhiều vướng mắc và bất cập. Nguyên nhân là do sự hiểu biết
của các chủ thể liên quan về vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
còn rất hạn chế, bản thân những quy định của pháp luật cũng còn nhiều vấn
đề chưa minh bạch, rõ ràng, hợp lý thiếu hiệu quả thực tế. Đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động của các chủ thể trong quan hệ lao động là quyền được
1
pháp luật nước ta ghi nhận trong Sắc lệnh 29/SL năm 1947 và được đưa vào
Bộ luật lao động năm 2002, 2006, 2007, các văn bản liên quan và mới đây
nhất là Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/06/2012. Bộ luật lao động
2012 đã góp phần hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh các vấn đề quan hệ lao
động, dần đáp ứng một phần về yêu cầu phát triển thị trường lao động trong
nước và quốc tế trong quá trình hội nhập và phát triển. Mặc dù Bộ luật có
nhiều điểm mới, tiến bộ và khắc phục được những bất cập nhưng cũng chưa
thể giải quyết được một cách triệt để vấn đề liên quan đến đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động.
Từ những yêu cầu thực tiễn áp dụng, việc đơn phương chấm dứt hợp
đồng có thể tác động xấu tới quyền và lợi ích hợp pháp, đến việc làm, thu nhập
của người lao động, đến thị trường lao động và đến nền kinh tế - xã hội nói
chung của người lao động, thị trường lao động của Thành phố Hà Nội nói
Ngọc Thích (2010) “Giải quyết tranh chấp lao động theo pháp luật
Singapore và Malaysia- Bài học kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào điều
kiện thực tiễn ở Việt Nam”. Các giáo trình như: “ Giáo trình Luật lao động”
của trường Đại học Luật TP.HCM, Nxb.Đại học Quốc gia TP.HCM xuất bản
năm 2011 do PGS.TS Trần Hoàn Hải chủ biên; giáo trình “Giáo trình Luật
lao động” của Trường Đại học Luật Hà Nội. Nxb. Công an nhân dân phát
hành 2008 do tác giả Chu Thanh Hưởng chủ biên; “Giáo trình Luật Lao
động” của trường Đại học Lao động - Xã hội do Nxb.Lao động - Xã hội phát
hành năm 2009; “Giáo trình Luật Lao động Việt Nam” do tác giả Phạm Công
Trứ chủ biên, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội (1999)...
Bên cạnh các luận văn, luận án, khóa luận, sách, giáo trình còn có
những bài báo, bài viết mang tính nghiên cứu, trao đổi như: bài “Về phương
hướng hoàn thiện chế độ hợp đồng lao động ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị
Hoài Thu, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (4/2003 - Số 180); bài “Một số vấn
đề về chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật lao động và Luật
3
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động” của tác giả Nguyễn Hữu
Chí, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (4/2003); bài “Một số nội dung cơ bản
của pháp luật lao động CHLB Đức” của tác giả Đào Thị Hằng, Tạp chí Luật
học (2011- Số 9); bài “Quá trình duy trì và chấm dứt hợp đồng lao động” của
tác giả Lưu Bình Nhưỡng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (11-2002 -Số 117);
bài “Vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, lý luận và thực tiễn
áp dụng pháp luật” của tác giả Phạm Công Bảy, Tạp chí Tòa án nhân dân tối
cao số 03/2007”...
Đề tài đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng
lao động được nhiều tác giả, các nhà nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên
ngành cũng như các giáo trình, tài liệu. Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề chưa
được làm rõ như: Khái niệm chấm dứt hợp đồng lao động và đơn phương
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của Luận văn gồm
người sử dụng lao động là cá nhân, pháp nhân Việt Nam và người lao động
làm việc tại Việt Nam trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn có phạm vi nghiên cứu trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong
khoảng thời gian từ năm 2013 đến nay.
Đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NDSLĐ là một vấn đề khá phức
tạp, có được nghiên cứu dưới nhiều góc độ như luật Tố tụng Dân sự, luật
Hành chính… Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tác giả chỉ tập trung
nghiên cứu pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ với tư cách là một bộ
phận của chế định HĐLĐ trong pháp luật lao động Việt Nam.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin và chủ
trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước ta. Trong quá
trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học,
đặc biệt là các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích,
5
tổng hợp, đối chiếu, so sánh, mô tả, thống kê lịch sử cụ thể và khái quát hóa
đối tượng nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý Nhà
nước, xây dựng pháp luật, người làm công tác nghiên cứu khoa học pháp lý,
học tập và giảng dạy chuyên ngành và không chuyên ngành Luật;
Người sử dụng lao động, người lao động có thể tham khảo trong quá
trình thực hiện, giải quyết tranh chấp phát sinh trong các quan hệ lao động về
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
7. Kết cấu của Luận văn
lao động của Hàn Quốc thì các hình thức chấm dứt HĐLĐ đều được gọi là “sa
thải”. Cho đến nay, khái niệm chấm dứt HĐLĐ cũng chưa được đề cập một
cách trực tiếp trong các văn bản pháp luật lao động Việt Nam. Chấm dứt
HĐLĐ được hiểu là chấm dứt một quan hệ pháp luật về lao động giữa người
lao động (NLĐ) và người lao động (NSDLĐ) được pháp luật thừa nhận hoặc
cho phép nhằm chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên theo HĐLĐ. Chấm
dứt HĐLĐ là sự kiện pháp lý quan trọng bởi hậu quả pháp lý của nó là kết
thúc quan hệ lao động. Điều đó sẽ ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập, cuộc
sống của NLĐ, gây xáo trộn lao động và có thể gây ảnh hưởng, thiệt hại cho
NSDLĐ.
Căn cứ vào các sự kiện pháp lý dẫn đến việc chấm dứt HĐLĐ có thể
chia thành hai trường hợp là đương nhiên chấm dứt HĐLĐ và đơn phương
7
chấm dứt HĐLĐ. Đơn phương chấm dứt HĐLĐ là biện pháp mà các bên có
thể sử dụng khi những cam kết trong HĐLĐ không được thực hiện đầy đủ,
hoặc một bên có hành vi vi phạm pháp luật lao động. Các bên thực hiện
quyền này khi quyền lợi của mình có nguy cơ hoặc đang, đã bị vi phạm mà
cần có biện pháp để bảo vệ.
Có thể hiểu rằng đơn phương chấm dứt HĐLĐ là việc một bên tự ý
chấm dứt thực hiện các quyền và nghĩa vụ thỏa thuận trong HĐLĐ trước thời
hạn mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia.
Việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ có thể bằng văn bản hay bằng lời
nói. Nếu bằng hình thức văn bản, văn bản về đơn phương chấm dứt HĐLĐ
phải được gửi cho chủ thể bên kia và ý chí chấm dứt quan hệ lao động trong
đó phải được biểu đạt rõ ràng, cụ thể để chủ thể đối tác có thể hiểu được. Nếu
bằng hình thức lời nói thì bên bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải được
truyền đạt, thông báo cụ thể và có thể hiểu được chính xác nội dung của thông
báo đó.