Chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam hiện nay - Pdf 50

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ANH TUẤN

CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NÔI, 2018


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN GIAO
CÔNG NGHỆ QUA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
........................................................................................................................... 9
1.1. Các khái niệm cơ bản ................................................................................. 9
1.2. Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam ............................. 16
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ qua đầu tư trực tiếp nước
ngoài ................................................................................................................ 23
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút chuyển giao công nghệ qua các dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài ............................................................................. 29
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUA
CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM . 33
2.1. Những quy định về chuyển giao công nghệ và thực tiễn hoạt động đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam ................................................................................. 33
2.2. Hoạt động chuyển giao công nghệ qua dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam .................................................................................................... 47

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

ESCAP

Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu ÁThái Bình Dương (Economic and Social
Commission for Asia and the Pacific)

UNIDO

Tổ chức Phát triển của Liên hợp quốc
(United Nations Industrial Development
Organization)

OECD

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(Orgnization Economic Cooporation
Development)

KCX, KCN

Khu Chế xuất, Khu Công nghiệp


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng 2.1: Tỷ lệ giải ngân vốn FDI qua các năm ............................................ 37
Bảng 2.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành ......................................... 38
Bảng 2.3: Qui mô FDI chia theo vùng lãnh thổ (%) ...................................... 40
Bảng 2.4: Quốc gia có doanh nghiệp FDI đầu tư lớn nhất tại Việt Nam........ 41
Hình 2.5: Tỷ trọng vốn FDI theo hình thức đầu tư giai đoạn 2005 -2015 ...... 42

Chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Việt Nam thời gian qua đã có những đóng góp nhất định đối với phát triển
kinh tế-xã hội của Việt Nam. Nhiều ngành nghề, sản phẩm mới được tạo ra
với công nghệ hiện đại, chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, góp phần tăng đáng
kể năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam. Thông
qua ứng dụng công nghệ chuyển giao, nguồn lực trong nước được sử dụng
hiệu quả hơn.
Những thành tựu đạt được nêu trên đã khẳng định chủ trương đúng
đắn của Đảng và Nhà nước đối với thu hút FDI nói chung và chuyển giao
1


công nghệ qua FDI nói riêng trong điều kiện của Việt Nam nhằm nâng cao
năng lực công nghệ quốc gia.
Tuy nhiên, CGCN qua các dự án FDI vẫn chưa đạt hiệu quả như kỳ
vọng, chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế. Công nghệ tiếp
nhận và sử dụng trong FDI là các công nghệ đã và đang được sử dụng phổ
biến ở bản quốc. Điều này cho thấy hoạt động CGCN từ nước ngoài vào Việt
Nam thông qua các dự án FDI chưa đạt hiệu quả như mục tiêu đặt ra. Công
nghệ nhận chuyển giao chưa tương xứng với số dự án đầu tư vào Việt Nam
cũng như chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước.
Tại sao CGCN qua các dự án FDI lại không thành công như mong
đợi? Có rất nhiều nguyên nhân như: hệ thống văn bản chính sách thúc đẩy
CGCN, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động
CGCN, vấn đề đào tạo và sử dụng nhân lực tay nghề cao, vấn đề tiếp cận các
thông tin về công nghệ, nguồn tài chính,… Do đó, việc đánh giá thực trạng
hoạt động CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam qua các dự án FDI để từ đó đề
xuất những giải pháp thu hút CGCN trong các dự án FDI là cần thiết nhằm
thực hiện được mục tiêu CNH, HĐH đất nước. Vì vậy, tôi đã chọn vấn đề
“Chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt

những vướng mắc trong việc CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam thông qua
các dự án FDI, trong đó nhấn mạnh đến giải pháp chia sẻ rủi ro với các nhà
đầu tư nước ngoài để nâng cao hiệu quả CGCN vào Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN “Những rào cản đối
với chuyển giao công nghệ qua dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam” của học viên Đỗ Thị Bích Ngọc thực hiện năm 2010 đã nhận diện
những rào cản đối với CGCN qua các dự án FDI tại Việt Nam và đề xuất
những giải pháp khắc phục rào cản đối với CGCN qua các dự án FDI tại Việt
Nam. Tuy nhiên, đề tài này thực hiện cách đây gần 10 năm. Đến nay, những
rào cản và giải pháp khắc phục rào cản đối với CGCN được tác giả đề cập đến
đã có những thay đổi.
3


Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu đi trước, Luận văn tập trung nghiên
cứu, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động CGCN trong các dự án FDI
tại Việt Nam.
2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Ở nước ngoài, nhiều nghiên cứu chỉ đề cập tới chính sách phát triển
công nghệ và chuyển giao công nghệ. Đáng chú ý là cuốn “Phát triển công
nghệ và chuyển giao công nghệ ở Châu Á” (Nhà xuất bản Bunshindo, Nhật
bản) đã được dịch sang tiếng Việt của tác giả Lâm Trác Sử. Các tác giả chủ
yếu phân tích các mô hình và chính sách phát triển công nghệ nói chung của
một số các quốc gia Đông Á, điển hình nhất là mô hình Trung Quốc, Hàn
Quốc và Nhật Bản.
Công trình nghiên cứu “Technological Independence - The Asian
Experence” của United Nations University, Nhật Bản chủ yếu nghiên cứu về
chính sách công nghệ các quốc gia Châu Á trong các thời kỳ các nước tiếp
nhận công nghệ của Hoa kỳ và Châu Âu. Nhìn chung, các công trình đã công
bố trên thế giới chủ yếu tập trung nghiên cứu chính sách phát triển công nghệ

hẹp và số liệu, thông tin khá cũ. Đến nay, cùng với tác động của cuộc cách
mạng công nghiệp 4.0, tình hình kinh tế trong và ngoài nước có nhiều thay
đổi, chính sách của nhà nước về quản lý hoạt động CGCN qua các dự án FDI
cũng có những thay đổi. Do đó, trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu đi trước,
Luận văn tập trung phân tích và làm rõ “khoảng trống” mà các nghiên cứu đi
trước chưa đề cập, đó là phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động CGCN qua
các dự án FDI vào Việt Nam từ góc độ chính sách, cơ chế phối hợp trong
công tác quản lý đến góc độ của doanh nghiệp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng
hoạt động chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam, Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm thu hút hoạt động chuyển giao
5


công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích như đề ra, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ
sau:
- Nghiên cứu khái quát cơ sở lý luận của CGCN và thu hút CGCN
trong các dự án FDI.
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng hoạt động CGCN trong các dự án
FDI tại Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp thu hút hoạt động CGCN qua các dự án FDI
tại Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động chuyển giao công nghệ tại các dự án
FDI ở Việt Nam
4.2. Phạm vi nghiên cứu:

thực tiễn sau:
- Đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư và đầu tư trực tiếp nước
ngoài, về công nghệ và CGCN, về các hình thức CGCN qua dự án FDI và vai
trò của CGCN qua dự án FDI trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay của Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động CGCN qua các dự án FDI
vào Việt Nam từ góc độ chính sách, từ cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản
lý nhà nước và từ góc độ doanh nghiệp.
- Chỉ ra những bất cập, hạn chế của hoạt động CGCN qua các dự án
FDI vào Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp về mặt chính sách nhằm thu
hút CGCN qua các dự án FDI vào Việt Nam.
7. Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của Luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển giao công nghệ qua
7


các dự án FDI
- Chương 2. Thực trạng chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
- Chương 3. Giải pháp thu hút chuyển giao công nghệ qua các dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.

8


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ


- Thể hiện ở dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm)
- Thể hiện ở dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện
thích hợp…. được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu v.v…)
- Thể hiện ở dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá,
công ty tư vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp…).
Theo OECD: “Công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà
bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa
chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của
con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước (và đôi khi được kỳ vọng)
trong hoàn cảnh cụ thể nhất định”[20, tr.4].
Theo UNIDO: “Công nghệ là việc áp dụng khoa học (kết quả) vào sản
xuất bằng cách sử dụng những kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ
thống và có phương pháp” [28, tr.5].
Theo ESCAP: “Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ
thuật chế biến nguyên liệu và thông tin”[12, tr.5].
Để mở rộng và cụ thể hoá khái niệm công nghệ, ESCAP lại đưa ra định
nghĩa sau: “Công nghệ bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương
pháp sử dụng trong sản xuất hoặc trong dịch vụ (công nghiệp và quản lý)”.
Theo Luật CGCN (2006): “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết
kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi
nguồn lực thành sản phẩm”[24, tr.1].
Trong khuôn khổ của Luận văn, tác giả sử dụng khái niệm công nghệ
trong Luật CGCN năm 2006 mặc dù khái niệm này còn có thể chưa hoàn toàn
nhận được sự nhất trí của một số nhà nghiên cứu nhưng khái niệm này được
thể hiện xuyên suốt trong các văn bản pháp quy của Nhà nước về công nghệ
và CGCN.
1.1.2. Khái niệm chuyển giao công nghệ

10

11


Xét về yếu tố nội tại của công nghệ được chuyển giao: công nghệ được
xem gồm hai phần: phần cứng (máy móc, thiết bị…) và phần mềm (quy trình,
công thức, bí quyết…). Phạm trù CGCN chủ yếu thuộc phần mềm của công
nghệ. Phần cứng của công nghệ được mua bán trên cơ sở các quan hệ thương
mại thông thường, vì nó có hiện vật cụ thể và giá cả ấn định. Tuy nhiên, vì
phần mềm của công nghệ thường được thể hiện trên những phương tiện, thiết
bị cụ thể, cho nên trong quá trình CGCN luôn phải giải quyết mối quan hệ với
phần cứng. Tuy nhiên, phần cứng chỉ được coi là đi kèm công nghệ được
chuyển giao lần đầu, còn các lần tiếp theo chỉ đơn thuần là máy móc, thiết
bị… bởi vậy giá cả phần cứng đi kèm công nghệ được chuyển giao rất khác
với giá cả phần cứng khi được chuyển giao độc lập.
Theo Luật CGCN, phương thức CGCN bao gồm:
- Chuyển giao tài liệu về công nghệ.
- Đào tạo cho bên nhận công nghệ nắm vững và làm chủ công nghệ
theo thời hạn quy định trong hợp đồng CGCN.
- Cử chuyên gia tư vấn kỹ thuật cho bên nhận công nghệ đưa ra công
nghệ vào sản xuất với chất lượng công nghệ và chất lượng sản phẩm đạt các
chỉ tiêu và tiến độ quy định trong hợp đồng CGCN.
Về hình thức CGCN:
- CGCN theo chiều dọc: Chuyển giao từ khu vực nghiên cứu và triển
khai vào khu vực sản xuất. Chuyển giao dọc có ưu điểm là mang đến cho
người sản xuất một công nghệ hoàn toàn mới, nhưng phải chấp nhận một độ
rủi ro nhất định. Xác suất rủi ro thấp khi sự khảo nghiệm cho những kết quả
chắc chắn. Mô hình CGCN từ các doanh nghiệp khoa học và công nghệ có
hoạt động nghiên cứu và triển khai đến người nông dân là một trong những
hình thức CGCN theo chiều dọc.
- CGCN theo chiều ngang: Trường hợp này thường áp dụng đối với

Các cấp độ CGCN:

13


- Trao kiến thức: Việc chuyển giao chỉ dừng lại ở mức độ truyền đạt,
hướng dẫn, huấn luyện, tư vấn các kiến thức về công nghệ được chuyển giao.
- Chìa khóa trao tay (Turn-Key, Clé en main): Bên CGCN chỉ cam kết
CGCN vận hành được cho bên nhận chuyển giao sử dụng. Cấp độ này có thể
gây rủi ro cho bên nhận CGCN, bởi vì rất có thể công nghệ được chuyển giao
chỉ vận hành được khi có mặt bên chuyển giao, sau khi chìa khóa đã trao tay
rồi thì công nghệ đó lại không vận hành được.
- Sản phẩm trao tay (Produit en main): Bên CGCN cam kết CGCN vận
hành được cho bên nhận chuyển giao sử dụng và đảm bảo rằng có loạt sản phẩm
được sản xuất bằng cách áp dụng công nghệ đó, cấp độ chuyển giao này có ít rủi
ro cho bên nhận chuyển giao hơn so với cấp độ chìa khóa trao tay.
- Thị trường trao tay (Marché en main): Bên CGCN cam kết CGCN
vận hành được cho bên nhận chuyển giao sử dụng và đảm bảo rằng có loạt
sản phẩm hàng hóa được sản xuất bằng cách áp dụng công nghệ đó, đồng thời
đảm bảo có thị trường tiêu thụ sản phẩm đó, cấp độ chuyển giao này ít có rủi
ro cho bên nhận chuyển giao.
Phạm vi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ do các bên thỏa thuận,
bao gồm:
- Độc quyền hoặc không độc quyền sử dụng công nghệ;
- Được chuyển giao lại hoặc không được chuyển giao lại quyền sử dụng
công nghệ cho bên thứ ba;
- Lĩnh vực sử dụng công nghệ;
- Quyền được cải tiến công nghệ, quyền được nhận thông tin cải tiến
công nghệ;
- Độc quyền hoặc không độc quyền phân phối, bán sản phẩm do công

đồng vốn cũng như kết quả sản xuất kinh doanh của mình.
Đứng ở mỗi góc độ khác nhau, quan điểm về đầu tư sẽ khác nhau. Theo
quan điểm của chủ đầu tư (doanh nghiệp): Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh
15


doanh, để từ đó thu được số vốn lớn hơn số vốn đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận.
Theo quan điểm của xã hội (quốc gia): Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển,
để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế - xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia.
Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư
bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và quản lý dự án đầu tư.
Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến
hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời
gian xác định.
Dự án là một thuật ngữ dùng để chỉ việc đầu tư tại một địa điểm nhất
định; Thuật ngữ này khác với đăng ký kinh doanh của một doanh nghiệp,
được hoạt động trong phạm vi toàn quốc. Việc quyết định về địa điểm là một
quyết định có tầm quan trọng chiến lược. Địa điểm tác động lâu dài đến hoạt
động và lợi ích của doanh nghiệp, đồng thời ảnh hưởng lâu dài đến dân cư
quanh vùng.
Dự án đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn và tham
gia quản lý hoạt động đầu tư (góp vốn vào Công ty TNHH, nhà đầu tư tham
gia Hội đồng thành viên và trở thành người quản lý công ty/hay góp cổ phẩn,
nhà đầu tư trở thành cổ đông và được trực tiếp tham gia Đại hội cổ đông - cơ
quan quản lý cao nhất của công ty cổ phần).
1.2. Chuyển giao công nghệ từ nƣớc ngoài vào Việt Nam
1.2.1. Các luồng chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam

16


chuyên gia được đào tạo bài bản đó vì những lý do khác nhau, có xu hướng
trở về sống và làm việc tại quê hương khi có điều kiện thuận lợi.
Ưu điểm của luồng này:
Đây là hình thức chuyển giao vô hình. CGCN không qua hợp đồng nên
bên nhận thường không phải chịu những hạn chế (về bảo vệ những bí mật) mà
Bên giao hoặc Chính phủ của Bên giao đã đặt ra. Do đó qua luồng này Bên
nhận có thể nhận được những công nghệ mà khó có thể có được bằng con
đường CGCN qua hợp đồng.
Chuyển giao qua con đường nhập cư của chuyên gia tránh được những
thủ tục hành chính rườm rà nên quá trình chuyển giao thường được rút ngắn
hơn nhiều so với quá trình chuyển giao qua hợp đồng.

17


Giá chuyển giao thường khá rẻ do tiết kiệm được chi phí đào tạo và giảm
được nhiều khoản phụ phí khó tránh khỏi trong các cuộc CGCN qua hợp đồng.
Tuy nhiên, luồng này đối với Việt Nam hầu như rất hạn chế bởi Việt
Nam chưa có chính sách đủ mạnh, cũng như chưa có điều kiện cũng như môi
trường tốt để các chuyên gia cũng như Việt kiều trở về làm việc.
Nhược điểm của luồng này:
Do CGCN không thông qua hợp đồng, không có chuyện “bảo đảm”,
“bảo hành” nên xác suất rủi ro thường là cao đối với Bên nhận.
Mỗi chuyên gia nhập cư thường chỉ nắm được một số yếu tố công nghệ
nhất định. Do đó, nếu Bên nhận không chuẩn bị kỹ và nếu không có được một
đội ngũ chuyên gia nhập cư đủ đồng bộ thì kết quả sẽ rất hạn chế.
Vốn của phần lớn chuyên gia - Việt kiều không lớn, trong khi đó các
Công ty trong nước đều thuộc loại quy mô vừa và nhỏ, tài chính còn hạn chế
thì bằng luồng này rất khó thực thi những công nghệ đòi hỏi cần rất nhiều vốn
đầu tư.

của đất nước.
Nhược điểm của luồng này :
Với nhà đầu tư nước ngoài, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tận
dụng các yếu tố như lao động rẻ, nguồn tài nguyên phong phú thì vấn đề công
nghệ chuyển giao không được coi là vấn đề trọng yếu khi đầu tư, do vậy khó có
được những công nghệ tiên tiến, hiện đại.
Đối với dự án 100% vốn nước ngoài: Thực chất đây là chuyển dịch
công nghệ nội bộ của các Công ty đa quốc gia. Trên danh nghĩa thì Công ty
bỏ vốn hay còn gọi là “Công ty mẹ” và “Công ty con” là hai pháp nhân chịu
sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật khác nhau nhưng trên thực tế, Công
ty mẹ nắm trọn quyền sở hữu, quyền kiểm soát, quyền sử dụng, quyền định
đoạt đối với mọi hoạt động, mọi khoản tài sản của Công ty con. Do đặc điểm
chủ yếu của phân luồng này là Công ty mẹ có khả năng bí mật về công nghệ
(toàn bộ hay từng phần với công ty con (trường hợp Coca-Cola từ hơn 100
19


năm nay vẫn giữ được tuyệt đối bí mật về công thức pha chế với tất cả các chi
nhánh trên khắp thế giới là một ví dụ). Khả năng đó thường được sử dụng một
cách tinh vi, linh hoạt để thu lợi tối đa cho nhà đầu tư bằng nhiều cách:
+ Thổi phồng giá trị của công nghệ được chuyển giao để tăng vốn đầu
tư, do đó mà tăng khấu hao, chi phí, tăng chi phí sản xuất một cách giả tạo và
trốn thuế.
+ Sử dụng công nghệ như để gia tăng vị thể cạnh tranh của “Công ty
mẹ” và tạo điều kiện cho các “Công ty mẹ” giành thêm thị trường bán sản
phẩm, nguyên liệu, phụ tùng vào lãnh thổ.
CGCN theo luồng này nói chung không làm tăng năng lực công nghệ
của các công ty và của lao động Việt Nam mà chỉ làm tăng nguồn lực công
nghệ trên lãnh thổ. Về cơ bản, các nguồn lực công nghệ vẫn thuộc quyền chi
phối, định đoạt của các nhà đầu tư và họ có thể hoàn toàn sử dụng quyền này

hàng) và chấp nhận thanh toán sòng phẳng, đồng thời được bảo hộ và được
điều chỉnh bởi các điều luật nên bên nhận có vị thế tương đối thuận lợi để chủ
động lựa chọn công nghệ chuyển giao, thương lượng về các điều khoản của
hợp đồng và đòi hỏi trách nhiệm theo hợp đồng của bên giao. Trên cơ sở đó
bên nhận cũng có thể tiếp tục phát triển công nghệ mà không phải thương
lượng lại với bên giao với tư cách một đối tác liên doanh. Do đó, đây là luồng
chuyển giao mà lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của bên nhận có thể được
đảm bảo tốt nhất.
Trong các hợp đồng thuộc luồng này, nguồn tài chính cho việc áp dụng
công nghệ được chuyển giao hoàn toàn do bên nhận lo liệu (thuộc nguồn vốn
của bên nhận). Nếu đạt được thoả thuận thanh toán phí chuyển giao theo kỳ
vụ (royalty) trên cơ sở lợi nhuận hay giá bán tịnh thì có nghĩa là bên giao
cũng đã đầu tư trực tiếp bằng một tài sản vô hình vào bên nhận để rồi cùng
chia sẻ lợi ích và cùng gánh chịu rủi ro với bên nhận. Nhờ đó, quan hệ giữa
hai bên được duy trì trong cả một quá trình. Trong quá trình này, bên nhận có
thể áp dụng nhiều giải pháp khôn khéo để tiếp tục khai thác tiềm năng công
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status