Nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện mèo vạc tỉnh hà giang - Pdf 50

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

SÙNG MÍ LỬ

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HỢP
TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÈO
VẠC - TỈNH HÀ GIANG

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8 34 04 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ ANH VŨ

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ bất cứ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Sùng Mí Lử



1.1. Các khái niệm.......................................................................................10
1.2. Hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp.................................15
1.3. Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
của một số địa phương................................................................................22
Chương 2. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÈO VẠC........................................... 27
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động
của hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc.......................... 27
2.2. Thực trạng hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn
huyện Mèo Vạc...........................................................................................31
2.3. Hiệu quả hoạt động của Hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Mèo Vạc .. 39

Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP HUYỆN MÈO VẠC...................................50
3.1. Bối cảnh mới nâng cao hiệu quả của hợp tác xã nông nghiệp tại huyện
Mèo Vạc......................................................................................................50
3.2. Quan điểm nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
trên địa bàn huyện Mèo Vạc....................................................................... 52
3.3. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hợp tác xã nông
nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc........................................................... 53
KẾT LUẬN..................................................................................................... 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................ 67


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HTX

Hợp tác xã

KTTT


TW

Trung ương

DVNN

Dịch vụ nông nghiệp


Hình 2.1

Hình 2.2

Bảng 2.1
Bảng 2.2

Bảng 2.3

Bảng 2.4

Bảng 2.5

Bảng 2.6

Bảng 2.7


Bảng 2.8


Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, địa đầu phía Bắc của
Tổ quốc. Hiện nay, trên địa bàn toàn huyện có 38 HTX và 27 Tổ hợp tác hoạt
động trong lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp tại các thôn, bản của
1


các xã trong huyện. Nhìn chung, các HTX trên toàn huyện hoạt động sản xuất
kinh doanh tương đối ổn định, hiệu quả trong các lĩnh vực như: chăn nuôi,
trồng trọt, giao thông, thủy lợi, dịch vụ giống, vật tư, thương mại phục vụ
nông nghiệp. Bên cạnh đó, các HTX tham gia thực hiện các dự án, Chương
trình của huyện như Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo, Chương
trình 30a, Chương trình xây dựng Nông thôn mới... Qua đó, góp phần xóa đói
giảm nghèo, đặc biệt đẩy nhanh tiến độ thực hiện và hoàn thành các tiêu chí
về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện.
Tuy nhiên, các HTX chưa phát huy được vai trò và vị trí của KTTT
trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Quy mô của HTX nhỏ; có
HTX tổ chức và hoạt động chưa tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật HTX;
nhiều HTX nông nghiệp chuyển đổi còn hình thức, chưa đảm bảo đầy đủ yêu
cầu của Luật HTX và đòi hỏi phát triển của HTX; xã viên tham gia HTX với
ý

thức trông chờ vào sự giúp đỡ của tập thể và Nhà nước; nhiều HTX không

huy động được nguồn lực từ chính xã viên, tính bền vững và ổn định trong tổ
chức và hoạt động chưa cao; chưa thực hiện tốt chế độ hạch toán và báo cáo
tài chính. Các HTX hoạt động với quy mô nhỏ, khả năng cạnh tranh còn hạn
chế, mức đóng góp cho ngân sách hàng năm chưa cao, số nộp ngân sách Nhà
nước năm 2017 (đến thời điểm 31 tháng 7 năm 2017) chỉ đạt 1,06 tỷ đồng.
Có thể nói, những đóng góp của các HTX nông nghiệp tại huyện Mèo
Vạc vẫn còn ít, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thấp, chưa phát huy

-

Nguyễn Văn Bích, Phát triển và đổi mới quản lý HTX theo Luật HTX,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997. Cuốn sách đã khái quát quá trình phát
triển kinh tế hợp tác và quá trình đổi mới tổ chức quản lý hợp tác xã ở Việt
Nam trên cơ sở đó góp phần tìm hiểu những nội dung cơ bản để phát triển
cũng như phát huy hiệu quả hoạt động của HTX.
-

Lương Xuân Quỳ, Nguyễn Thế Nhã (1999), Đổi mới tổ chức và quản

lý các hợp tác xã trong nông nghiệp, nông thôn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
Công trình đã nghiên cứu các quá trình phát triển hình thức tổ chức và quản lý
HTX nông nghiệp qua các giai đoạn, trong đó có đề cập đến giai đoạn thực
hiện Luật HTX 1996. Từ thực trạng phát triển các mô hình tổ chức quản lý
các HTX ở nông thôn của một số địa phương miền Bắc tiêu biểu, các tác giả
cũng đã đưa ra những phương hướng và giải pháp cụ thể để xây dựng mô
hình tổ chức và quản lý có hiệu quả các HTX.
3


-

Chu Tiến Quang (2003), Kinh nghiệm hoạt động của một số hợp tác

xã sau sáu năm thực hiện Luật hợp tác xã ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2003. Công trình là kết quả nghiên cứu, điều tra, khảo sát thực tiễn
quá trình thực hiện Luật HTX 1996 ở 33 HTX trong các lĩnh vực trong đó có
lĩnh vực nông nghiệp của nhóm nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu kinh tế

4


chủ yếu về khía cạnh phát triển HTX, trong đó đề cập đến việc nâng cao hiệu
quả HTX nông nghiệp.
Các công trình khoa học nói trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác
nhau về Hợp tác xã nói chung và Hợp tác xã nông nghiệp nói riêng; đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các Hợp
tác xã nông nghiệp. Những quan niệm, định hướng đó đã giúp cho tác giả luận
văn có những cơ sở khoa học, lý luận cũng như thực tiễn khi triển khai nghiên
cứu về hiệu quả hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưa nghiên cứu có hệ thống về
hiệu quả và nâng cao hiệu quả của HTX nông nghiệp. Cũng chưa có công
trình nghiên cứu nào về thực trạng và việc nâng cao hiệu quả hoạt động của
các Hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.
Những công trình nghiên cứu trên đây đã cho những kiến thức vô cùng quý
giá để tác giả tham khảo, kế thừa trong quá trình thực hiện đề tài luận văn
“Nâng cao hiệu quả hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn
huyện Mèo Vạc - tỉnh Hà Giang”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về HTX nông nghiệp và hiệu quả hoạt
động của HTX nông nghiệp, làm rõ hiệu quả hoạt động của các HTX nông
nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động của HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện.
3.2. Nhiệm vụ
-

Nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động HTX



Giới hạn không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các HTX nông

nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.
-

Giới hạn thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng hoạt động và

hiệu quả của các HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc từ năm 2012
khi sửa đổi Luật HTX đến năm 2017. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp giai đoạn 2018 - 2025.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về HTX
nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng. Ngoài ra, luận văn còn chú ý sử
dụng các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan trực tiếp đến
nội dung đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Chọn địa điểm nghiên cứu
Tính đến thời điểm hiện tại, trên toàn huyện Mèo Vạc có 38 HTX nông
nghiệp. Huyện Mèo Vạc được chia làm 03 tiểu vùng kinh tế với các đặc điểm
6


khác nhau: (1) Vùng 1: gồm 03 xã biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, đây là
vùng có địa hình hiểm trở, sương mù che phủ, được chia cắt bởi dòng sông
Nho Quế, về nông nghiệp chủ yếu phát triển trồng ngô, lúa, đậu tương và phát
triển chăn nuôi gia súc (bò, dê); (2) Vùng 2: gồm 9 xã và 01 thị trấn, đây là
vùng có điều kiện tự nhiên khó khăn nhất, là vùng thường xuyên thiếu nước

Cáng, HTX Tam Giác Mạch, HTX DVNN Tả Lủng, HTX rau quả Bản Tồng.
Đồng thời tiến hành lấy phiếu khảo sát tại tất cả 38 HTX.

7


-

Số liệu sơ cấp là số liệu chưa được công bố, tính toán chính thức,

phản ánh kết quả hoạt động của các HTX, các vấn đề khác có liên quan.
-

Số liệu thu thập từ các HTX trong huyện.

-

Để thu thập được số liệu sơ cấp, tác giả sử dụng những phương pháp

+

Gửi phiếu điều tra đến các HTX trên địa bàn huyện

+

Gửi phiếu điều tra đến từng HTX thông qua các buổi bồi dưỡng kiến

sau:

thức cho cac cán bộ quản lý HTX do Chi cục Phát triển nông thôn tổ chức.


tổng hợp tài liệu, phân chia theo các nội dung, chỉ tiêu nhằm phù hợp với việc
nghiên cứu; sử dụng các công cụ và kĩ thuật tính toán trong nghiên cứu là
chương trình Excel của Microsoft Window trên máy tính.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
8


-

Đề tài góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển

-

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu khoa học để các nhà

nghiên cứu, các nhà quản lý, giáo viên và sinh viên các trường đại học tham
khảo.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
-

Đề tài làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho các HTX trong huyện Mèo

Vạc tham khảo để đưa ra những giải pháp phát triển HTX của mình trong thời
gian tới. Đồng thời giúp cho cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp có luận cứ
khoa học trong việc xây dựng cơ chế, chính sách phát triển kinh tế tập thể trên
địa bàn.
-


1.1. Các khái niệm
1.1.1. Kinh tế hợp tác
Trong quá trình phát triển của các hình thức hợp tác, từ hình thức hợp
tác mang tính ngẫu nhiên, thời vụ đến việc hình thành sự liên kết giữa người
sản xuất với người phân phối, hay dựa trên cơ sở chuyên môn hóa và phân
công lao động ngày càng cao mà có sự liên kết, hợp tác giữa các khâu của quá
trình sản xuất. Cho đến ngày nay sự hợp tác không chỉ được thực hiện giữa
các hộ gia đình, các doanh nghiệp, các địa phương mà nó còn được thực hiện
trên phạm vi thế giới giữa các quốc gia với nhau gắn với quá trình toàn cầu
hóa về kinh tế. Hợp tác trong sản xuất cũng như trong phân phối lưu thông
làm cho năng suất lao động ngày càng tăng lên, thúc đẩy và mở rộng sản xuất,
làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới và tăng cường sự giao lưu giữa các chủ
thể kinh tế.
Kinh tế hợp tác (KTHT) là phương thức hoạt động kinh tế, tồn tại
khách quan và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Do vậy, có thể
hiểu: “Kinh tế hợp tác là hình thức tự nguyện của những người lao động,
những người sản xuất nhỏ dưới các hình thức đa dạng, để kết hợp sức mạnh
của các thành viên tạo nên sức mạnh tập thể để giải quyết các vấn đề sản
xuất kinh doanh và đời sống tạo điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh có
hiệu quả, bền vững”.
Ở nước ta trong những năm gần đây có nhiều quan niệm mới về KTHT,
đó là:
-

Kinh tế hợp tác là sự liên kết tự nguyện của những chủ thể độc lập

trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.

10


phía đông nam nước Pháp.
Trong luật HTX của nhiều nước cũng như một số tổ chức quốc tế đều
có định nghĩa về HTX. Liên minh HTX quốc tế đã định nghĩa HTX như sau:
11


“HTX là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp
ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá
thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ”. Năm 1995 định
nghĩa này đã được hoàn thiện: “HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự
chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết. Theo truyền thống của
những người sáng lập ra HTX, các xã viên HTX tin tưởng vào ý nghĩa đạo
đức, về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc
người khác”.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: “HTX là sự liên kết của
những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện
liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi, nghĩa vụ sử dụng tài sản mà
họ đã chuyển giao vào HTX, phù hợp với nhu cầu chung và giải quyết những
khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử
dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật
chất và tinh thần chung”...
Nhằm tạo hành lang pháp lý cho hệ thống HTX phát triển, ngày
20/3/1996, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa IX kỳ
họp thứ IX đã thông qua Luật HTX. Theo điều 1 của Luật HTX thì HTX là:
“Tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung,
tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát
huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có
hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời
sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”.
Đến năm 2003, Luật HTX mới ra đời đã kế thừa quy định của Luật

Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm về HTX nông nghiệp
như sau:
“HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách
pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ
lẫn nhau trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở tự chủ, tự chịu

13


trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX”. Định nghĩa này dựa
trên cơ sở định nghĩa HTX trong Luật HTX năm 2012 [27].
“HTX nông nghiệp là một tổ chức kinh tế tự chủ được các thành viên
thành lập trên cơ sở tự nguyện, tiến hành các hoạt động sản xuất hoặc cung
ứng các yếu tố phục vụ hoạt động sản xuất nhằm tạo ra các sản phẩm nông,
lâm, thủy sản để đáp ứng nhu cầu xã hội”.
Do vậy, sự liên kết để hình thành lên HTX là các thành viên đó là các
hộ gia đình nông nghiệp hoặc các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp. Do sự khó khăn vì hoạt động đơn lẻ đã tự nguyện tiến hành hợp tác để
có sức mạnh tổng hợp và mong muốn đạt được lợi ích lớn hơn.
HTX nông nghiệp là một trong các hình thức cụ thể của kinh tế HTX
trong nông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những người nông dân có cùng nhu
cầu và nguyện vọng, tự nguyện liên kết lại để phối hợp giúp đỡ nhau phát
triển kinh tế hoặc đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về đời sống của mỗi thành
viên, tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc luật pháp quy định, có tư cách
pháp nhân.
Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp là một nhu cầu khách quan. Đó là
con đường phát triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân. Bởi lẽ, do đặc điểm của
sản xuất nông nghiệp, cây trồng vật nuôi đều là những cơ thể sống chịu ảnh
hưởng trực tiếp của ngoại cảnh như thời tiết thuỷ văn, khí hậu và các sinh vật
khác. Cùng với các điều kiện thuận lợi, sản xuất nông nghiệp gặp không ít

quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ
chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ
này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của HTX và khả năng đáp ứng về
mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường.
1.2.2. Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông
nghiệp
Như trên thì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX nông
nghiệp được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt
được kết quả đó. Vì vậy, tác giả cho rằng hiệu quả hoạt động dịch vụ nông

15


nghiệp và kinh doanh của HTX nông nghiệp cần được thể hiện bằng các tiêu
chí sau:
-

Số lượng dịch vụ nông nghiệp trực tiếp mà mỗi HTX thực hiện được,

bao gồm các mặt như: Số lượng các dịch vụ so với nhu cầu, mong muốn của
các thành viên; chất lượng và giá cả các dịch vụ: chất lượng và giá cả các dịch
vụ cho biết hoạt động dịch vụ của HTX có làm tiết kiệm được chi phí dịch vụ
cho các thành viên và chất lượng dịch vụ có đảm bảo hay không vì thực tế,
HTX có thể không giảm giá dịch vụ nhưng đã nâng cao chất lượng dịch vụ
phù hợp với yêu cầu của các thành viên; thời gian cung cấp các dịch vụ: một
trong những đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp là tính thời vụ cao,
đặc biệt là sản xuất trồng trọt, do vậy, việc đáp ứng kịp thời các dịch vụ đầu
vào và đầu ra cho sản xuất của các thành viên, nông dân có ý nghĩa quan
trọng, có tác dụng nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị của các sản phẩm
nông sản, đồng thời giúp cho các hộ nông dân tiết kiệm được chi phí sản xuất

động của HTX với vai trò trước hết là phục vụ, hỗ trợ kinh tế hộ xã viên. Vì
vậy, cần tính tới những đóng góp của HTX cho sự phát triển kinh tế hộ xã
viên như việc hướng dẫn, tổ chức xã viên, nông dân sản xuất; đưa tiến bộ
khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa
vụ... Ngoài ra, hoạt động của HTX nông nghiệp không phải chỉ vì mục tiêu
kinh tế mà còn có những mục tiêu khác mang tính cộng đồng, xã hội; đây là
nét đặc thù của HTX nông nghiệp so với các loại hình kinh tế khác.
1.2.3. Khái niệm, nội dung nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác
xã nông nghiệp
HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế tự chủ ra đời và phát triển xuất
phát từ nhu cầu phát triển của kinh tế hộ nông dân. Mỗi HTX nông nghiệp
thường tham gia hai lĩnh vực hoạt động chính: lĩnh vực hoạt động dịch vụ cho
xã viên vì sự phát triển của kinh tế hộ và lĩnh vực hoạt động kinh doanh
ngành nghề (kể cả kinh doanh dịch vụ và kinh doanh sản xuất ngành nghề) vì
lợi nhuận cho chính HTX và cho xã viên. Điều đó cũng có nghĩa nâng cao
hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp không chỉ là nâng cao hiệu quả
kinh tế mà còn phải nâng cao hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường, trong
đó, nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát
triển của HTX. Trong đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu việc nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh tế của HTX nông nghiệp.
Nội dung nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
Từ các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp đã
trình bày ở mục 1.2.2 và khái niệm hoạt động của HTX nông nghiệp, theo tác
giả, nội dung nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp là:
-

Tăng số lượng dịch vụ nông nghiệp trực tiếp của mỗi HTX.

-


hóa. Nhu cầu hợp tác thực tế không chỉ phát sinh từ phía người sản xuất, mà
còn phát sinh cả từ phía các nhà chế biến và tiêu thụ.
Bên cạnh đó, vị thế của HTX nông nghiệp về mặt kinh tế mặc dù còn
yếu nhưng đã có vai trò quan trọng trong hỗ trợ một phần cho kinh tế hộ phát
triển, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho xã viên, góp phần xây dựng và
cũng cố quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự tồn tại của
HTX nông nghiệp kể cả số HTX chỉ tồn tại một cách hình thức vẫn đảm bảo
giữ được ổn định ruộng đất trong nông nghiệp sau khoán hộ và triển khai Luật
Đất đai, góp phần quan trọng ổn định tình hình chính trị, xã hội nông thôn.
Nhiều HTX nông nghiệp có đóng góp quan trọng trong xây dựng và phát triển
các công trình kết cấu hạ tầng, phúc lợi công cộng như đường giao thông, hệ
thống đường điện, kênh mương thủy lợi, trường học, trạm y tế, nhà trẻ, góp
phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội, đề cao tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status