nghiên cứu thực trạng hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn thành phố thái nguyên, tỉnh thái nguyên - Pdf 24


S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM MẠC THỊ HỒNG LƢƠNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
THÁI NGUYÊN,TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16 luËn v¨n th¹c sü khoa häc n«ng nghiÖp Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Minh Thọ

LỜI CẢM ƠN Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các tổ chức và các cá nhân. Tôi xin bày
tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này.
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông
lâm Thái Nguyên, Phòng quản lý sau đại học của nhà trường cùng các thầy cô
giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm
ơn cô giáo, TS. Nguyễn Thị Minh Thọ, người đã trực tiếp chỉ bảo, hướng
dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành
luận văn này.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo Chi cục Phát
triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên, UBND thành phố Thái Nguyên và các
HTX nông nghiệp trên địa bàn thành phố đã giúp đỡ tôi về thông tin, số liệu
trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi chắc hẳn không thể
tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận đuợc sự đóng góp của
các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc.
Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 08 tháng 11 năm 2013
Tác giả
Mạc Thị Hồng Lương


1.2.4. Một số bài học để phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam 26
Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1. Câu hỏi nghiên cứu và nội dung nghiên cứu 28
2.1.1. Câu hỏi nghiên cứu 28
2.1.2. Nội dung nghiên cứu 28

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

iv
2.2. Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 28
2.2.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 29
2.2.4. Hệ thống chỉ tiêu phân tích 31
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 32
3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Thái Nguyên 36
3.1.3. Những lợi thế so sánh 39
3.2. Thực trạng hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên 40
3.2.1. Giai đoạn trước Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị 05/4/1988 40
3.2.2. Giai đoạn từ Nghị quyết 10 đến khi có chủ trương chuyển đổi HTX
nông nghiệp 41
3.2.3. Thời kỳ chuyển đổi theo Luật HTX đến nay 43
3.2.4. Kết quả thực hiện chuyển đổi các HTX nông nghiệp 45
3.2.5. Tình hình hoạt động marketing và phân phối sản phẩm của hợp tác
xã trên địa bàn tỉnh 48
3.3. Khái quát quá trình phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp trên địa
bàn thành phố Thái Nguyên 49


S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DVNN : Dịch vụ nông nghiệp
DVTL : Dịch vụ thủy lợi
HTX : Hợp tác xã
HTX NN : Hợp tác xã nông nghiệp
NN : Nông nghiệp
SX : Sản xuất
CB : Chế biến
KD : Kinh doanh

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

vii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 3.1. Số lượng các HTX NN theo loại hình kinh doanh sản xuất trên
địa bàn thành phố Thái Nguyên trước năm 2003 50
Bảng 3.2. Số lượng các HTX NN theo loại hình kinh doanh sản xuất trên
địa bàn thành phố Thái Nguyên 51
Bảng 3.3. Tình hình tổ hợp tác nông nghiệp trên địa bàn thành phố Thái
Nguyên 53
Bảng 3.4. Phân loại các hợp tác xã nông nghiệp điều tra theo loại hình sản

cực, thu được kết quả khá tốt. Một số loại hình hợp tác xã đa dạng về dịch vụ,
vốn đã được thành lập và đi vào hoạt động. Các hợp tác xã này đã và đang
thích ứng với cơ chế mới, tạo đà thúc đẩy sản xuất và tăng thu nhập cho người
lao động, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội. Tuy nhiên việc phát triển kinh tế
hợp tác và hợp tác xã hiện nay ở tỉnh Thái Nguyên nói chung cũng như của
thành phố Thái Nguyên nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế.
Với lợi thế về điều kiện tự nhiên và tài nguyên đất đai tạo điều kiện cho
thành phố Thái Nguyên sản xuất nông nghiệp theo hướng đa canh, đa dạng
hóa sản phẩm. Mô hình kinh tế hợp tác và hợp tác xã trong những năm qua
không ngừng phát triển và đạt kết quả. Tuy nhiên, số hợp tác xã hoạt động
trên địa bàn thành phố số hợp tác xã yếu kém chiếm 21,43 %[13]. Trong đó,
cá biệt còn một số hợp tác xã hoạt động mang tính hình thức, chưa được củng
cố hoặc phải giải thể. Tình trạng hợp tác xã thành lập mới không xuất phát từ
nhu cầu thực tiễn mà ra đời với mục đích để được hưởng chính sách vay vốn
ưu đãi hoặc đón các chương trình tài trợ vẫn còn tồn tại. Vì thế, khi bước vào
hạch toán độc lập thì các hợp tác xã này tỏ ra lúng túng bị rơi vào tình trạng
hoạt động cầm chừng. S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

2
Nhằm định hướng và có những giải pháp phát triển kinh tế hợp tác xã
phù hợp với xu thế phát triển của xã hội, trong nền kinh tế thị trường và điều
kiện của thành phố Thái Nguyên, thì việc đánh giá lại thực trạng và định
hướng phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp là hết sức cần thiết. Với lý do
này tôi tiến hành chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các hợp tác
xã nông nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đưa ra những nhận định, đề xuất những giải pháp và cơ chế, chính sách
nhằm phát triển HTX nông nghiệp góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định
kinh tế xã hội trong khu vực nông thôn, giảm khoảng cách giàu nghèo giữa
nông thôn và thành thị, phát huy lợi thế, tiềm năng sản phẩm nông nghiệp của
thành phố trên thị trường trong và ngoài tỉnh.
Kết quả nghiên cứu giúp cho các chủ hợp tác xã nông nghiệp có định
hướng và giải pháp nhằm phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp, nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh.
5. Bố cục luận văn
Ngoài 2 phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hoạt động và một số giải pháp nhằm phát triển
các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở lý luận về kinh tế hợp tác và hợp tác xã
1.1.1. Khái niệm về kinh tế hợp tác, hợp tác xã và hợp tác xã nông nghiệp
1.1.1.1. Kinh tế hợp tác

thức tất yếu trong lao động sản xuất và các hoạt động kinh tế, gắn liền với sự
phát triển kinh tế và bị ràng buộc và quy định bởi sự tiến triển trong quá trình
xã hội hoá của hoạt động kinh tế của con người và phải thích ứng với tiến
trình phát triển kinh tế đó. HTX phải tạo ra xung lực tăng năng suất lao động
và đạt hiệu quả kinh tế cao.
Xuất phát từ khái niệm kinh tế hợp tác, nhiều tổ chức và các nhà kinh tế
đã đưa nhiều khái niệm về HTX, cụ thể:
Liên minh HTX quốc tế đưa ra khái niệm như sau: “Hợp tác xã là một tổ
chức chính trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu
cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một
xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ”[11].
Còn Tổ chức Lao động quốc tế cho rằng: “ Hợp tác xã là sự liên kết của
những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện
liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài
sản mà họ đã chuyển giao vào hợp tác xã phù hợp với các nhu cầu chung và
giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ chịu trách nhiệm và
bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục
vụcho lợi ích vật chất và tinh thần chung”[11].
Sự giống nhau ở hai khái niệm trên đều cho rằng HTX là một tổ chức
được hình thành trên cơ sở sự liên kết tự nguyện của các thành viên, được vận
hành và quản lý trên cơ sở dân chủ và sự đồng thuận nhằm đạt mục tiêu mang
lại lợi ích chung cho các thành viên. Tuy vậy, với khái niệm do Liên minh
HTX quốc tế nhấn mạnh đến yếu tố hợp tác giữa các thành viên trong quá
trình thành lập và điều hành các HTX để phục vụ lợi ích chung, còn với khái
niệm HTX do Tổ chức Lao động quốc tế lại nhấn mạnh cơ sở của sự hợp tác
giữa các thành viên là để khắc phục sự khó khăn khi hoạt động riêng lẻ, với
sự liên kết này đã mang lại lợi ích chung cho tập thể.

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn


S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

7
Từ các khái niệm về HTX, có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản về
HTX như sau:
Hợp tác xã là hình thức thực hiện các quá trình hợp tác trong hoạt động
kinh tế. Mục tiêu của HTX là phát triển được sức sản xuất xã hội, tiết kiệm
lao động, tăng hiệu quả kinh tế, phải thích hợp với các mối quan hệ kinh tế
mới trong điều kiện mới.
Việc thành lập HTX không làm mất đi tính tự chủ vốn có của các bên
tham gia, trái lại nó tăng thêm sức mạnh tổng lực và phát triển được những ưu
thế của phương thức HTX.
Thành lập HTX là tạo ra đòn bẩy để phát triển kinh tế các chủ thể kinh tế
tự chủ. HTX là việc liên kết nhau lại giữa các chủ thể kinh tế tự chủ tạo ra sức
mạnh mới, thông qua đó phát triển được kinh tế của mình. Như vậy khi thành
lập HTX mới không phải vì kinh tế HTX mà là sự phát triển kinh tế của các
thành viên. Do đó, kinh tế HTX là tổ chức kinh tế tự nguyện của các chủ thể
kinh tế tự chủ. Kinh tế HTX thể hiện được bản chất tự do lựa chọn phương
thức hoạt động kinh tế của họ trong điều kiện kinh tế thị trường vì kinh tế thị
trường thì các chủ thể kinh tế tự chủ họ có nhiều cách để đạt tới mục đích
kinh tế của mình. Như vậy, trong điều kiện mới, các chủ thể kinh tế tự chủ họ
có thể tham gia HTX hoặc không, khi HTX không đáp ứng yêu cầu của họ.
Từ các khái niệm trên chúng ta có thể nhận định rằng: Hợp tác xã là tổ
chức kinh tế mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Hình thành HTX là một
quá trình hoàn toàn tự nhiên từ những đòi hỏi, nhu cầu thực tế của con người
trong các hoạt động kinh tế.
1.1.1.3. Hợp tác xã nông nghiệp
HTX nông nghiệp là một trong các hình thức cụ thể của kinh tế HTX

phòng trừ sâu bệnh, chế biến và tiêu thụ nông sản, thủy lợi… trong điều kiện
này từng hộ nông dân tự đảm nhiệm tất cả các khâu trong quá trình sản xuất
sẽ gặp khó khăn hoặc không có khả năng đáp ứng, hoặc hiệu quả kinh tế thấp
hơn so với hợp tác. Từ đó nảy sinh nhu cầu hợp tác ở trình độ cao hơn, đó là
hợp tác thường xuyên, ổn định, có tính đến giá trị ngày công, giá trị dịch vụ,
dẫn đến hình thành HTX. Như vậy, sự ra đời của HTX trong nông nghiệp là
nhu cầu khách quan gắn với quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hóa.

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

9
Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển cùng với quá trình phân công
chuyên môn hóa làm nảy sinh các cơ quan chuyên ngành như sản xuất lương
thực, hoa, rau, quả, cây công nghiệp…. Đồng thời cũng xuất hiện nhiều loại
hình dịch vụ chuyên ngành phục vụ cho nông nghiệp như cung ứng vật tư,
vận chuyển, chế biến tiêu thụ nông sản.
Như vậy, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, không phân biệt chế độ
chính trị, xã hội, xuất phát từ mục tiêu kinh tế nông dân đều có nhu cầu hợp
tác từ hình thức đơn giản đến phức tạp, từ đơn ngành đến đa ngành. Lực
lượng sản xuất ngày càng phát triển thì nhu cầu hợp tác ngày càng tăng, mối
quan hệ hợp tác ngày càng sâu rộng, do đó tất yếu hình thành và ngày càng
phát triển các hình thức kinh tế hợp tác ở trình độ cao hơn.
1.1.2. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã
Đối với việc tổ chức hoạt động của HTX nhiều quan điểm của các nhà
kinh tế và chính trị đều tập trung vào một số nguyên tắc cơ bản như sau:
Đầu tiên là nguyên tắc dân chủ và tự nguyện, đây là nguyên tắc quan
trọng nhất vì dựa trên tinh thần tự nguyện các hộ nông dân cá thể nhận thấy
lợi ích của việc gia nhập vào các HTX họ sẽ quyết định tham gia và nhiệt tình
đóng góp để xây dựng phát triển HTX, không chỉ vì lợi ích cá nhân mà còn vì

tài chính, khoa học kỹ thuật, lao động… thông qua các chính sách phát triển
kinh tế, xã hội”[10].
Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến việc xây dựng các HTX nông
nghiệp cần phải đi lên từ những tổ đổi công. Người cho rằng: “Gốc của thắng
lợi là tổ chức, trước hết là tổ đổi công cho tốt rồi tiến dần lên hợp tác xã nông
nghiệp”, “Phải phát triển tốt phong trào đổi công và hợp tác; phải thi đua tăng
gia sản xuất thực hành tiết kiệm hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch
Nhà nước.” và “ Hiện nay phong trào tổ chức hợp tác xã nông nghiệp tiến
bước khá tốt; nhưng nhiều nơi còn lệch lạc. Chúng ta phải củng cố thật tốt các
tổ đổi công và các hợp tác xã đã có, tuyên truyền và giáo dục nông dân làm
cho phong trào phát triển vững chắc… Những nơi chưa có hợp tác xã thì phải
củng cố tổ đổi công thật tốt để tiến lên hợp tác xã. Các địa phương phải cố
gắng làm cho mỗi làng có một vài hợp tác xã thật tốt để làm kiểu mẫu cho
những hợp tác xã sẽ tổ chức sau. Trong việc củng cố và phát triển phong trào
đổi công và hợp tác xã phải chú trọng chất lượng tốt, không nên chỉ chú trọng
con số”[6].

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

11
Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến việc xây dựng các HTX nông
nghiệp cần phải đi lên từ những tổ đổi công. Người cho rằng: “Gốc của thắng
lợi là tổ chức, trước hết là tổ đổi công cho tốt rồi tiến dần lên hợp tác xã nông
nghiệp”, “Phải phát triển tốt phong trào đổi công và hợp tác; phải thi đua tăng
gia sản xuất thực hành tiết kiệm hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch
Nhà nước” và “Hiện nay phong trào tổ chức hợp tác xã nông nghiệp tiến bước
khá tốt; nhưng nhiều nơi còn lệch lạc. Chúng ta phải củng cố thật tốt các tổ
đổi công và các hợp tác xã đã có, tuyên truyền và giáo dục nông dân làm cho
phong trào phát triển vững chắc…Những nơi chưa có hợp tác xã thì phải củng cố

phẩm Người nêu: “HTX còn nghèo, thường thường Chính phủ phải giúp
đỡ, phải cho vay vốn” “Chính phủ phải cố gắng phục vụ lợi ích HTX” và “cái
gốc trong việc lãnh đạo HTX vẫn là Chi bộ Đảng ở cơ sở”[12].
Thực tiễn hiện nay cho thấy, địa phương nào được cấp ủy quan tâm
lãnh đạo, chính quyền quan tâm hỗ trợ, cán bộ HTX nhiệt tình, có tâm
huyết, có năng lực quản lý, các nguyên tắc tự nguyện dân chủ trong HTX
được phát huy thì địa phương đó có phong trào HTX phát triển mạnh và
có hiệu quả rõ rệt.
Thứ ba, về cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh: theo quan điểm của
Các Mác và Ăng-ghen thì “Hình thức và biện pháp thực hiện hợp tác phải
thiết thực cụ thể, hết sức tránh những biện pháp và hình thức thiếu thực tế, mơ
hồ. Hợp tác được thực hiện ở nhiều lĩnh vực, hình thức và biện pháp, trong
mỗi lĩnh vực lại khác nhau. Trong lĩnh vực nông nghiệp, loại hình đất đai
khác nhau, cây trồng, vật nuôi khác nhau, quan hệ thị trường khác
nhau…ngoài ra phải tính đến nhiều yếu tố khác như phong tục, tập quán của
mỗi vùng”[6]. Vì vậy, biện pháp và hình thức hợp tác phải thiết thực, cụ thể
phù hợp với điều kiện cụ thể.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: sản xuất cũng phải hợp tác với nhau thì
mới thành sức mạnh, mới khắc phục được khó khăn để phát triển. Người nông
dân không thể tiến lên ấm no, hạnh phúc nếu làm ăn cá thể, riêng rẽ: “Nếu
chúng ta đứng riêng rẽ, thì sức nhỏ làm không nên việc”[6]. Do đó, những cá
nhân hợp sức, hợp vốn với nhau để xây dựng hợp tác xã. Nhưng để ngôi nhà
chung đó ngày càng to, đẹp hơn thì Bác cũng dạy: “Mỗi hợp tác xã cần có

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

13
phương hướng sản xuất đúng đắn, phù hợp với tình hình kinh tế trong hợp tác
xã và phù hợp với tình hình và yêu cầu chung của nền kinh tế quốc dân” và “

ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

14
chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh; tự quyết định về
phân phối thu nhập. Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và trang trải
các khoản lỗ của HTX, lãi được trích một phần vào các quỹ của HTX, một
phần chia theo vốn góp và công sức đóng góp của xã viên, phần còn lại chia
cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX.
Thứ tư: Hợp tác và phát triển cộng đồng: xã viên phải có ý thức phát huy
tinh thần xây dựng tập thể và hợp tác với nhau trong HTX, trong cộng đồng
xã hội; hợp tác giữa các HTX trong nước và ngoài nước theo quy định của
pháp luật[14].
1.1.3. Luật HTX năm 2012
1.1.3.1. Sự cần thiết của Luật HTX năm 2012
Luật HTX sửa đổi 2003 ra đời đã góp phần thể chế hoá những quan
điểm của Nghị quyết số 13, hội nghị trung ương 5 khoá 9 về tiếp tục đổi mới,
phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể.Tuy nhiên, sau gần 10 năm đi
vào thực tế cuộc sống, Luật HTX năm 2003 đã bộc lộ những mặt hạn chế,
thiếu sót cần thiết phải điều chỉnh, bổ sung nhằm thúc đẩy khối kinh tế tập thể
phát triển mạnh, bền vững và đúng với bản chất của HTX. Chính vì vậy, Luật
HTX sửa đổi năm 2012 đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/7/2013,
thay thế cho Luật HTX năm 2003. Trong bối cảnh hiện nay, Luật HTX sửa
đổi năm 2012 được kỳ vọng sẽ mang một luồng gió mới đến cho khu vực
kinh tế tập thể vốn còn nhiều khó khăn, vướng mắc.
10 năm là khoảng thời gian đủ dài để một bộ Luật phát huy hiệu quả trong
cuộc sống. Thế nhưng, có những HTX, 10 năm dường như vẫn chưa đủ để họ
tìm hiểu, nghiên cứu Luật, nói gì đến việc áp dụng Luật vào thực tiễn. Trớ trêu
hơn nữa, khi nhiều HTX chưa kịp chuyển đổi theo Luật HTX năm 2003 thì Luật
HTX sửa đổi 2012 đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/7/2013.
Những hạn chế, thiếu sót, những quy định không còn phù hợp trong bối

thể buộc phải giải thể hoặc chuyển đổi mô hình hoạt động. Thiết nghĩ, đây là
việc làm cần thiết để kinh tế tập thể nói chung, HTX nói riêng có được vị trí
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo quyền và lợi ích cho hàng chục
triệu xã viên, đặc biệt là người nông dân trong cả nước.

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

16
Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa 9 về
kinh tế tập thể đã chỉ rõ: kinh tế tập thể chưa thoát khỏi yếu kém kéo dài, tốc
độ tăng trưởng thấp, cơ sở vật chất nghèo nàn, trình độ công nghệ lạc hậu,
năng lực quản lý hạn chế. Đặc biệt, HTX không tạo được niềm tin cho bà con
nông dân về hiệu quả của mô hình kinh tế HTX, việc có tham gia HTX hay
không cũng không cho thấy sự khác nhau về quyền lợi. Có rất nhiều nguyên
nhân dẫn đến thực trạng yếu kém này của kinh tế tập thể, trong đó phải kể đến
việc Luật HTX năm 2003 chưa thực sự đi vào cuộc sống. Không thể phủ nhận
những lợi ích mà Luật HTX năm 2003 mang lại cho khu vực HTX song cũng
phải thẳng thắng thừa nhận rằng,việc triển khai Luật này còn mang nặng tính
phong trào, số lượng HTX thực sự hoạt động theo Luật còn rất hạn chế, còn
lại phần lớn là chuyển đổi theo kiểu “bình mới rượu cũ”[20].
1.1.3.2. Một số điểm mới trong Luật HTX năm 2012
Luật HTX 2012 đã được Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 4 thông qua
ngày 20 tháng 11 năm 2012 và có hiệu lực thi hành từ 1/7/2013, thay thế cho
Luật HTX năm 2003. So với Luật HTX năm 2003, Luật HTX 2012 có nhiều
điểm mới khác biệt, cụ thể như sau:
- Luật HTX 2012, gồm 9 Chương, 64 Điều, trong khi Luật HTX năm
2003 có 10 chương và 52 điều.
- Trong Luật HTX năm 2003 người đóng góp vốn được gọi là xã viên
HTX thì hiện nay trong Luật mới, thống nhất gọi là thành viên HTX.

ICA là một trong những tổ chức quốc tế lớn nhất trên thế giới, phần lớn các
nước có phong trào HTX đều là thành viên của ICA. Hiện nay, ICA đại diện cho
trên 800 triệu xã viên của 225 tổ chức HTX quốc gia của 96 nước[16].
ICA có vai trò và sứ mệnh quan trọng:
Phát triển giá trị và nguyên tắc HTX. HTX là tổ chức của những người
tự nguyện liên kết lại với nhau để đáp ứng các nhu cầu về kinh tế, xã hội và
văn hoá, tự chủ, tự chiụ trách nhiệm; HTX hoạt động dựa trên các giá trị
tương trợ, dân chủ, bình đẳng, công bằng và đoàn kết.
Tuyên truyền về vai trò HTX trong phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu,
các giải pháp phát triển phong trào HTX trong bối cảnh toàn cầu hoá và tự do
hóa thương mại.

Trích đoạn Tình hình hoạt động marketing và phân phối sản phẩm của hợp tác Khái quát quá trình phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp trên địa Tình hình hoạt động của các HTX sau năm 2003 Tình hoạt động của các tổ hợp tác Thực trạng hoạt động các HTX điều tra
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status