SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC
CHO HỌC SINH LỚP 1
MỤC LỤC
Nội dung
ĐẶT VẤN ĐỀ
1-Vị trí, tầm quan trọng của việc rèn đọc cho học sinh
2- Tình hình của việc dạy đọc cho học sinh hiện nay
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận của việc dạy đọc cho học sinh lớp 1
2. Thực trạng về dạy đọc cho học sinh lớp 1
3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
4. Hiệu quả SKKN
PHẦN KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Ý kiến đề xuất
TÀI LIỆU THAM KHẢO
trang
1
1
2
4
4
8
12
23
28
28
1
Cuối cùng tiết Tập đọc phải đạt được cả ba yếu tố về kiến thức, kĩ
năng và giáo dục.
Vì những lí do trên, dạy đọc có một ý nghĩa to lớn ở Tiểu học. Đọc trở
thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với người đi học. Đầu tiên là trẻ phải
học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học. Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh một ngôn ngữ
để dùng trong giao tiếp và học tập. Nó là công cụ để học các môn học khác,
tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Như
vậy, đọc có một ý nghĩa vô cùng to lớn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo
dưỡng, giáo dục và phát triển.
2. Tình hình của việc dạy đọc cho học sinh hiện nay:
Từ năm học 2002- 2003 đến nay, học sinh lớp 1 được học chương
trình thay SGK lớp 1 mới. Chương trình Tiếng Việt 1 là một bộ phận của
chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học, chương trình này kế thừa và phát
triển những thành tựu về dạy học Tiếng Việt lớp 1 ở nước ta; khắc phục một
số tồn tại của dạy học Tiếng Việt lớp 1 trong giai đoạn vừa qua; thực hiện
những đổi mới về dạy học Tiếng Việt ở lớp 1 nói riêng, ở Tiểu học nói chung
để đáp ứng những yêu cầu giáo dục và đào tạo trong giai đoạn công nghiệp
hoá và hiện đại hoá đất nước đầu thế kỉ XXI. Đây là chương trình có nhiều
ưu điểm, đáp ứng được nhu cầu dạy học hiện nay. Tuy Trường Tiểu học
Chính Nghĩa ở gần trung tâm thành phố nhưng vẫn còn một số gia đình còn
khó khăn nên sự quan tâm đến việc học tập của con em còn hạn chế. Nhiều
em khi vào lớp 1 chưa qua mẫu giáo nên chưa nhận biết được mặt chữ cái
hoặc phát âm chưa chuẩn. Một phần phụ huynh học sinh còn chưa thực sự
quan tâm đến việc học của các em, dẫn đến tình trạng học sinh chưa tự giác
luyện đọc ở nhà. Vì thế nhiều em còn đọc chậm, phát âm sai, chưa cảm thụ
tốt nội dung bài đọc. Học sinh ít có điều kiện tiếp cận với sách báo nguồn tri
khoa học của ngôn ngữ quyết định lôgíc môn học Tiếng Việt. Phương pháp
dạy học Tiếng Việt phải phát hiện được những quy luật riêng, đặc thù của
dạy học Tiếng Việt.
Các bộ phận của ngôn ngữ học (bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp,
phong cách) có vai trò quan trọng trong việc xác định nội dung và phương
pháp dạy học. Ngữ âm trong quan hệ qua lại với chữ viết là cơ sở của việc
soạn thảo phương pháp dạy học đọc, viết, cơ sở của việc hình thành kĩ năng
đọc sơ bộ.
Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức
chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc
thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn
vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm).
Đọc không chỉ là công việc giải mã gồm hai phần chữ viết và phát âm,
nghĩa là nó không phải chỉ là sự “đánh vần” lên thành tiếng theo đúng như
các kí hiệu chữ viết mà còn là một quá trình nhận thức để có khă năng thông
hiểu những gì được đọc. Trên thực tế nhiều khi người ta không hiểu khái
niệm “ đọc” một cách đầy đủ. Nhiều chỗ, chỉ nói đến đọc như nói đến việc
sử dụng bộ mã chữ - âm, còn việc chuyển từ âm sang nghĩa đã không được
chú ý đúng mức.
4
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá, khoa học,
tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời
phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người
không thể tiếp thụ nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc
sống bình thường, có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện
đại. Biết đọc con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây ta
biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên xã hội,
Vào lớp Một, học sinh bắt đầu chuyển từ hoạt động chủ đạo vui chơi
là chính sang hoạt động học tập, đó là một khó khăn đối với các em. Đặc biệt
vào lớp một, các em bắt đầu tiếp xúc với một dạng hoạt động ngôn ngữ mới,
hoàn toàn khó đó là hoạt động đọc. Nhiều em còn chưa được đi học mẫu
giáo, nói còn ngọng, còn nói lắp. Giáo viên cần hiểu rõ những khó khăn của
học sinh Tiểu học, đặc điểm lứa tuổi của các em để tổ chức dạy học theo một
chiến lược dạy học lạc quan, nhấn mạnh vào mặt thành công của trẻ.
1.3. Mục tiêu của việc dạy tập đọc ở lớp 1
Như chúng ta đã biết, đổi mới mục tiêu nội dung chương trình Tiểu
học và cách đánh giá kết quả học tập của học sinh, vì vậy phương pháp dạy
học cũng phải đổi mới theo.
Chương trình môn Tiếng Việt lớp 1 được đổi mới nhằm đáp ứng mục
tiêu, nội dung chương trình bậc Tiểu học. Học sinh được tăng cường luyện
tập thực hành, chú ý đến cả 4 kĩ năng : nghe, nói, đọc, viết. Việc vận dụng
linh hoạt, phù hợp các phương pháp dạy học là yếu tố quan trọng quyết định
chất lượng giờ dạy.
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại hoá, thay thế các
phương pháp, phương tiện dạy học đơn điệu, hạn chế khả năng, hứng thú của
học sinh bằng phương tiện hiện đại, đa dạng, phong phú, hấp dẫn học sinh,
giúp học sinh ham thớch, tự giác trong học tập.
1.4. Nội dung chương trình
6
Sách giáo khoa Tiếng Việt 1(2 tập)gồm hai phần: Học vần và Luyện
tập tổng hợp.
Phần Học vần được dạy trong 24 tuần, phần Luyện tập tổng hợp dạy
trong 11 tuần, mỗi phần có đặc trưng riêng, nhưng xuyên suốt các bài học là
mạch kiến thức và mạch kĩ năng được thực hiện từ đơn giản đến phức tạp.
chức theo mô hình các vòng đồng tâm phát triển. Có thể nói mô hình này đã
làm cho việc dạy học đọc cho học sinh lớp 1 được tự nhiên, nhẹ nhàng, kĩ
lưỡng do đó nó đã đảm bảo được tính hiệu quả tất yếu của hoạt động.
2. Thực trạng dạy – học tập đọc ở lớp 1
2.1. Khái quát về đặc điểm trường Tiểu học Chính Nghĩa năm học
2012- 2013:
Trường Tiểu học Chính Nghĩa nằm trên địa bàn phường Tiên Cátthành phố Việt Trì. Đây là một phường nằm ở trung tâm thành phố, nhưng
mặt bằng kinh tế không đồng đều. Bố mẹ các em học sinh đa số là lao động
tự do hoặc làm nông nghiệp. Vì vậy sự quan tâm đến việc học tập của con
em mình là rất ít, chưa thường xuyên. Mặt khác, trường thuộc địa bàn có
nhiều người dân nhập cư ở nơi khác đến sinh sống, vì vậy phương ngữ cũng
có sự khác nhau.
Trường tiểu học Chính Nghĩa có 3 lớp Một với tổng số học sinh là :67
em. Các em đều học 2 buổi / ngày.
Qua quá trình thực dạy học đọc ở lớp cùng với sự tìm hiểu nắm bắt
tình hình chung của các lớp khác tôi thấy việc học đọc đối với các em là khó
khăn.
Yêu cầu cơ bản của việc dạy tập đọc cho học sinh lớp 1 là đọc đúng
được các âm, vần, tiếng, từ, câu. Đọc ngắt nghỉ đúng, biết đọc phân vai theo
nhân vật, hiểu được nội dung của đoạn văn bản đó .
Trong thực tế, việc dạy đọc cho học sinh lớp Một của giáo viên
Trường Tiểu học Chính Nghĩa còn hạn chế, mang tính hình thức. Học sinh
8
chỉ cần đọc được âm, vần, tiếng, từ, câu, hoặc đọc được một bài tập đọc là
được mà giáo viên chưa sửa lỗi triệt để như đọc ngọng, phát âm sai, đọc chưa
gọn tiếng hay ngắt nghỉ chưa đúng cho học sinh. Trong giờ đọc một số giáo
viên chỉ gọi học sinh đọc bài mà không theo trình tự một tiết luyện đọc cho
Chính âm sẽ quy định nội dung luyện phát âm ở chương trình lớp 1. Để
luyện phát âm đúng cho học sinh, trước hết thực chất phải giải quyết vần đề
về phương ngữ. Mỗi giáo viên tiểu học cần phải xác định được các trường
hợp phát âm lệch chuẩn chữ viết của học sinh mỗi vùng phương ngữ mình
đang dạy học.
Trường Chính Nghĩa nằm trên địa bàn phường Tiên Cát cũng giống
như các địa phương khác của thành phố Việt Trì còn một số học sinh thường
mắc lỗi phát âm sai l / n . Những lỗi kể trên sẽ là nội dung thứ nhất của mục
luyện đọc đúng trong giáo án. Có điều cần lưu ý là trong các tài liệu dạy hiện
nay chỉ ghi các từ cần luyện đọc mà không nói rõ khi đọc học sinh đọc như
thế nào mới xem là lỗi để luyện đọc các từ đó, tức là không nói rõ chuyển từ
cách đọc nào về cách đọc nào.
Ngoài ra một số giáo viên chưa thực sự đầu tư nghiên cứu tài liệu, bài
dạy. Nhiều giáo viên chỉ xem qua giáo án trước khi lên lớp mà không đọc kĩ
bài học này cần rèn kĩ năng phát âm nào, học sinh hay phát âm sai ở đâu, hay
cần sử dụng phương pháp nào khác để sửa lỗi triệt để cho học sinh. Chính vì
vậy việc rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh còn nhiều hạn chế.
Nguyên nhân khách quan:
Sự chưa quan tâm của phụ huynh học sinh đến học đọc ít nhiều ảnh
hưởng đến việc rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh. Qua tìm hiểu một số phụ
huynh, nhiều người cho rằng các cháu chỉ cần rèn chữ viết đẹp là đủ, còn
việc đọc trước sau các cháu cũng đọc được không cần rèn. Nhưng họ đâu có
hiểu kĩ năng đọc đúng rất quan trọng với mỗi học sinh khi ở ngưỡng cửa đầu
tiên của việc học. Có đọc đúng thì học sinh mới viết đúng theo chuẩn, mới có
10
thể hoàn thành các môn học khác. Việc đọc đúng còn bổ sung cho tư duy ngôn
ngữ, nói năng lưu loát giúp cho con người có thể diễn đạt được tâm tư, nguyện
hiểu nghiên cứu phương pháp giảng dạy rèn kĩ năng đọc cho học sinh ở lớp
1.
3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
3.1. Các nguyên tắc xây dựng biện pháp
Tập đọc với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt nhằm phát
triển năng lực đọc cho học sinh. Đây là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ
quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh, chú ý rèn
luyện các thao tác tư duy và bồi dưỡng các năng lực, phẩm chất tư duy cho
học sinh như so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp. Vận dụng những kiến
thức đó để rèn luyện kỹ năng đọc và viết, phát triển vốn Tiếng Việt. Khi biết
đọc, biết viết các em có điều kiện nghe lời thầy giảng trên lớp, sử dụng SGK,
sách tham khảo… từ đó có điều kiện học tốt các môn học khác có trong
chương trình.
Để rèn kĩ năng đọc cho người học sinh thì người giáo viên phải có kĩ
năng đọc kết hợp với các phương pháp dạy học Tiếng Việt và phương pháp
rèn kĩ năng đọc cho học sinh.
3.2. Kĩ năng đọc của giáo viên:
Kĩ năng đọc của giáo viên có vai trò quan trọng trong tiết học âm vần
và tập đọc của học sinh lớp 1.
Kĩ năng đọc là một yêu cầu bắt buộc đối với mỗi giáo viên tiểu học nói
chung và giáo viên lớp 1 nói riêng. Đó là phương tiện đầu tiên để chuyển
những nội dung bài học đến cho mỗi học sinh đặc biệt học sinh lớp 1 là trẻ
mới đến trường, hoạt động học tập còn rất mới mẻ. Vì vậy kĩ năng đọc của
cô là một chuẩn mực để học sinh noi theo. Phần học vần kĩ năng chủ yếu của
giáo viên là đọc đúng , phát âm đúng chuẩn chữ viết, còn ở phần luyện tập
12
tổng hợp có phân môn Tập đọc thì người giáo viên phải đọc đúng và đọc
Ví dụ 1 : Bài 85 : ăp - âp
Khi dạy từ khoá “cải bắp”, giáo viên cho học sinh quan sát 1 cái bắp
cải, học sinh nhận ra ngay vật rất quen thuộc nên dễ dàng gọi tên chính xác
vật đó. Thêm phần đọc mẫu của giáo viên thì đương nhiên học sinh sẽ đọc
đúng từ “cải bắp”, hơn thế học sinh còn hiểu được nghĩa của nó.
Ví dụ 2 : Bài “Chú công”
Trước tiên, giáo viên đọc mẫu toàn bài nhằm giới thiệu, gây xúc cảm,
tạo hứng thú và tâm thế đọc cho học sinh. Sau đó, giáo viên mới đọc mẫu và
hướng dẫn đọc từng câu. Ví dụ ở câu 2 :
Sau vài giờ,/ công đã có động tác xoè cái đuôi nhỏ xíu / thành hình rẻ
quạt.
Qua việc lắng nghe giáo viên đọc mẫu, học sinh nắm được cách phát
âm tiếng, từ khó như : xoè, rẻ quạt ; và biết ngắt hơi sau dấu phẩy, sau tiếng
“xíu”.
Ví dụ 3 : Bài tập đọc : Hồ Gươm
Khi tìm hiểu nội dung đoạn 1 của bài với câu hỏi : “Từ trên cao nhìn
xuống, mặt Hồ Gươm trông như thế nào?”
Học sinh sẽ đọc kĩ đoạn 1 để trả lời câu hỏi. Sau khi học sinh trả lời
xong, giáo viên đưa tranh cảnh hồ Gươm trong SGK phóng to, đồng thời
giảng giải sẽ khơi gợi trí tưởng tượng của các em hình dung ra vẻ đẹp của
mặt hồ, thấy được cái hay của câu văn.
3.3.2. Phương pháp hỏi - đáp
Phương pháp hỏi - đáp là giáo viên xây dựng một hệ thống câu hỏi gợi
mở để học sinh trả lời. Thông qua những câu hỏi, học sinh hiểu được nội
dung bài. Từ đó, học sinh nảy sinh những cảm xúc để cảm thụ tốt bài đọc,
giúp học sinh đọc diễn cảm hơn.
Ví dụ : Bài “Bàn tay mẹ”
14
Phương pháp thực hành giao tiếp là giáo viên tổ chức các hoạt động
trong giờ học sao cho mỗi học sinh trong lớp đều được đọc (đọc thành tiếng,
đọc thầm, đọc cá nhân, đọc theo nhóm), được trao đổi nhận thức riêng của
mình cùng với thầy cô, bạn bè.
Ví dụ : Bài “Đầm sen”
Giáo viên đưa lần lượt từng từ khó, hay những tiếng học sinh trong lớp
dễ phát âm sai có trong bài như: xoè ra, ngan ngát, thanh khiết, xanh thẫm,
thuyền nan. Học sinh luyện đọc lần lượt từng từ. Sau đó, giáo viên chỉ bảng
theo thứ tự và không theo thứ tự cho nhiều học sinh đọc lại giúp các em sang
luyện đọc câu không bị vấp. Giáo viên kết hợp giải nghĩa từ: ngan ngát,
thanh khiết.
Sang phần luyện đọc câu, học sinh sẽ được đọc những câu khó trong
bài. Song phần luyện đọc câu, học sinh được luyện đọc đoạn. Bài văn chia
thành 3 đoạn, học sinh đọc lần lượt từng đoạn. Sau đó, giáo viên gọi 1 vài
nhóm 3 em đọc nối tiếp đoạn. Cuối cùng, học sinh mới luyện đọc cả bài.
Như vậy, học sinh được thực hành luyện đọc từ đơn vị nhỏ là tiếng, từ
rồi mới nâng cao dần. Học sinh được đọc rất nhiều và 100% học sinh trong
lớp đều được đọc, làm cho học sinh đọc lưu loát, phát âm đúng và biết ngắt
hơi sau dấu phẩy, nghỉ hơi sau dấu chấm. Luyện đọc nhiều cũng khiến học
sinh nhớ được bài đọc, giúp cho việc học thuộc lòng bài đọc (nếu có) trở nên
dễ dàng.
Trong lúc học sinh đọc, giáo viên và cả lớp phải luôn chú ý theo dõi,
sau đó nhận xét, động viên. Học sinh nào đọc sai, sai ở đâu, giáo viên cần
sửa ngay để học sinh khác tránh mắc phải.
Học sinh được rèn kĩ năng đọc thầm trong lúc giáo viên đọc mẫu, học
sinh đọc, và trong phần tìm hiểu bài.
3.4. Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1
16
17
- Đọc lại bài tiết 1.
- Giáo viên hướng dẫn đọc câu - Học sinh đọc.
- Giáo viên hướng dẫn đọc trong sách giáo khoa - Học sinh đọc.
b. Luyện viết (15-17’)
- Luyện nói (5 - 7’)
3. Củng cố, dặn dò(3-5’)
Trong 1 tiết học vần dù ở tiết 1 hay tiết 2 thì thời gian học sinh được
đọc đều không nhiều vì vậy người giáo viên phải có thao tác nhanh gọn để
thời gian cho học sinh được luyện đọc nhiều, em nào cũng được đọc.
Phần học âm vần, đây là phần quan trọng để học sinh biết cách phát
âm và phát âm chuẩn. Vì vậy, giọng đọc hay khuôn miệng khi phát âm của
giáo viên là trực quan cụ thể đối với học sinh. Khi phát âm mẫu, giáo viên
phải nhắc học sinh quan sát khuôn miệng cô giáo, tai lắng nghe để học sinh
phát âm cho chuẩn. Ví dụ khi dạy âm “l” giáo viên hướng dẫn: lưỡi cong lên
chạm lợi, hơi đi ra phía hai bên rìa, xát nhẹ. Sau đó giáo viên phát âm: l, để
học sinh được quan sát và tai lắng nghe âm thanh.
Là địa phương hay sai khi phát âm l/n thì giáo viên đặc biệt chú ý học
sinh cách phát âm theo chuẩn chữ viết đồng thời sửa lỗi sai cho học sinh kịp
thời trong khi đọc và ngay trong giao tiếp hàng ngày.
Với những học sinh đọc nhỏ, lí nhí, giáo viên nên khuyến khích học
sinh bằng những lời động viên khích lệ, bằng những tràng pháo tay của các
bạn. Điều đó sẽ giúp cho học sinh đọc tiến bộ hơn từ đó cũng dễ dàng hơn
trong việc sửa sai cho học sinh.
Giáo viên không nên có những lời nói hoặc biểu lộ bằng thái độ không
bằng lòng khi học sinh đọc sai vì khi đó học sinh sẽ ngày càng ngại đọc hoặc
đọc nhỏ đi, học sinh sẽ mất đi sự tự tin khi đọc, khi học.
19
2. Tìm hiểu nội dung(8-10’)
- Học sinh đọc to, đọc thầm để trả lời câu hỏi
- Giáo viên đọc mẫu cả bài- Học sinh đọc.
3. Luyện nói (8-10’)
4. Củng cố dặn dò(3-5’)
a) Tổ chức dạy đọc thành tiếng:
* Chuẩn bị cho việc đọc:
Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc. Khi ngồi đọc
cần ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nên nằm trong khoảng 30 35 cm, cổ và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi. Ở lớp, khi
được cô giáo gọi đọc, học sinh phải bình tĩnh, tự tin, không hấp tấp đọc ngay.
Trước khi nói về việc rèn đọc đúng cần nói về tiêu chí cường độ và tư
thế ngồi đọc, tức là rèn đọc to, đọc đàng hoàng. Trong hoạt động giao tiếp,
khi đọc thành tiếng, người đọc một lúc đóng hai vai: một vai - và mặt này
thường được nhấn mạnh - là người tiếp nhận thông tin bằng chữ viết, vai thứ
hai là người trung gian để truyền thông tin, đưa văn bản viết đến người nghe.
Khi giữ vai thứ hai này, người đọc đã thực hiện việc tái sinh văn bản. Vì vậy,
khi đọc thành tiếng, người đọc có thể đọc cho mình hoặc cho người khác
hoặc cho cả hai. Đọc cùng với phát biểu trước lớp là hai hình thức giao tiếp
trước đám đông đầu tiên của trẻ em nên giáo viên phải coi trọng khâu chuẩn
bị để đảm bảo sự thành công, tạo cho các em sự tự tin cần thiết. Khi đọc
thành tiếng các em phải tính đến người nghe. Giáo viên cần cho các em hiểu
rằng các em đọc không chỉ cho mình cô giáo mà để cho tất cả các bạn cùng
nghe nên cần đọc đủ lớn cho tất cả những người này nghe rõ. Nhưng như thế
hoàn toàn không có nghĩa là đọc to quá hoặc gào lên. Để luyện cho những
học sinh đọc quá nhỏ " lí nhí", giáo viên cần tập cho các em đọc to chừng
nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi.
Như vậy đọc đúng cũng bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm.
21
Trước khi lên lớp giáo viên phải dự tính để ngăn ngừa các lỗi khi đọc.
Tuỳ đối tượng học sinh, giáo viên xác định các lỗi phát âm mà học sinh địa
phương dễ mắc phải để định ra các âm, tiếng, từ, câu... khó để luyện đọc
trước.
* Luyện đọc nhanh:
Đọc nhanh (còn gọi là đọc lưu loát, trôi chảy) là nói đến phẩm chất
đọc về mặt tốc độ, là việc đọc không ê a, ngắc ngứ. Vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt
ra sau khi đã đọc đúng.
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ đọc bằng cách đọc
mẫu để học sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị để đọc nhanh là cụm từ,
câu, đoạn, bài. Giáo viên điều chỉnh tốc độ bằng cách giữ nhịp đọc. Ngoài ra
còn có biện pháp đọc tiếp nối trên lớp, đọc nhẩm có sự kiểm tra của thầy, của
bạn để điều chỉnh tốc độ. Giáo viên đo tốc độ đọc bằng cách xem trước bài
xem bài đó có số tiếng là bao nhiêu để dự tính về thời gian đọc. Định tốc độ
như thế nào còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc.
Tổ chức dạy đọc thầm:
Đọc thầm có ưu thế hơn hẳn đọc thành tiếng ở chỗ nhanh hơn đọc
thành tiếng từ 1, 5 đến 2 lần. Nó có ưu thế hơn hẳn để tiếp nhận, thông hiểu
nội dung văn bản vì người ta không phải chú ý đến việc phát âm mà chỉ tập
trung để hiểu nội dung điều mình đọc.
Chuẩn bị cho việc đọc thầm: Cũng như khi ngồi đọc thành tiếng, tư thế
ngồi đọc thầm phải ngay ngắn, khoảng cách giữa mắt và sách là 30 - 35 cm.
Tổ chức quá trình đọc thầm: Kỹ năng đọc thầm phải được chuyển dần
từ ngoài vào trong, từ đọc to đến đọc nhỏ đến đọc mấp máy môi (không
thành tiếng) rồi đọc hoàn toàn bằng mắt, không mấp máy môi (đọc thầm),
- Giáo dục học sinh biết yêu vẻ đẹp của các loài hoa .
II- Đồ dùng dạy học :
- Tranh : đầm sen
23