MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài................................................................1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.........................................1
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu..........................................2
4. Phương pháp nghiên cứu...................................................2
5. Bố cục................................................................................2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG TỰ
NHIÊN ẢNH HƯỞNG LÊN TÍNH CÁCH, TƯ DUY CỦA CON
NGƯỜI.....................................................................................3
1.1. Môi trường tự nhiên........................................................3
1.2. Mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường tự nhiên.........3
1.3. Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên lên tư duy, tính
cách dân tộc Nga...................................................................4
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN MÔI
TRƯỜNG TỰ NHIÊN ĐẤT NƯỚC NGA...................................6
2.1. Vị trí địa lý......................................................................6
2.2. Địa hình..........................................................................6
2.3. Khí hậu............................................................................6
2.4. Hệ thống sông ngòi........................................................8
2.5. Các miền thực vật tự nhiên............................................9
2.6. Nga có nhiều loại khoáng sản có trữ lượng lớn............11
CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG
TỰ NHIÊN ĐẾN TƯ DUY, TÍNH CÁCH DÂN TỘC NGA.......12
3.1. Ảnh hưởng của vị trí địa lý đến tư duy, tính cách dân tộc
Nga......................................................................................12
3.2. Ảnh hưởng của khí hậu đến tư duy, tính cách dân tộc
Nga......................................................................................12
3.3. Ảnh hưởng của cảnh quan và độ rộng lãnh thổ đến tư
duy, tính cách dân tộc Nga..................................................15
KẾT LUẬN..............................................................................19
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ các đặc điểm điều kiện môi trường tự nhiên của đất
nước Nga, từ đó chỉ ra những ảnh hưởng của điều kiện môi trường tự nhiên
đến tư duy, tính cách dân tộc Nga.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tiểu luận thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về điều kiện môi trường tự
nhiên, mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên với con người.
- Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên của đất nước Nga
- Phân tích đặc trưng tính cách con người Nga thông qua sự ảnh hưởng
của điều kiện môi trường tự nhiên đất nước Nga.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Sự ảnh hưởng của điều kiện
môi trường tự nhiên lên tư duy, tính cách dân tộc Nga.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào tìm hiểu một số yếu tố địa lý – cụ thể là: (1) vị trí
địa lý, (2) khí hậu, (3) cảnh quan và độ rộng lãnh thổ nước Nga – ảnh hưởng
đến tư duy, tính cách dân tộc Nga.
4. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được thực hiện dựa trên việc sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu như: Phương pháp quan sát, nghiên cứu tài liệu để thu thập thông
tin liên quan, phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá.
5. Bố cục
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, tiểu luận được
chia làm 03 chương.
2
Con người được sinh ra từ tự nhiên, là một phần của tự nhiên, nhưng lại
là một phần đặc biệt nhất, bời vì sau khi hình thành, trải qua hàng chục triệu
năm tiến hóa cong người trở thành một loài động vật thông minh có thể tác
động mạnh mẽ vào tự nhiên, làm biến đổi tự nhiên. Trước hết, môi trường tự
nhiên là tiền đề cần thiết cho sự xuất hiện con người, là cái nôi nuôi dưỡng
con người. Trong mối quan hệ giữa văn hóa với môi trường tự nhiên, thực
chất đó là mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên.
4
Bất cứ các thành tựu sáng tạo nào của con người (văn hóa) đều quan hệ
mật thiết với môi trường tự nhiên- trong một không gian, thời gian xác định.
Những trạng thái tự nhiên, điều kiện tự nhiên như một lực lượng có tính vật
chất tác động vào hoạt động sáng tạo của con người. Để cắt nghĩa chúng, nhất
thiết phải tìm đến các nguyên nhân thuộc về môi trường tự nhiên, nếu chỉ
bằng các nguyên nhân thuộc về xã hội tuy rất cần thiết nhưng chưa đủ.
Trước đây, truyền thống văn hóa phương Đông, thường giải thích sự ra
đời của một vĩ nhân, bậc hiền tài, hoặc một thành tựu to lớn nào đó của cá
nhân cũng như của cộng đồng bằng những “điềm báo”, “sự lạ”, “linh khí núi
sông”, “long mạch”… Ngày nay, vẫn hay bắt gặp cách nói “Địa linh nhân
kiệt”, “Đất lành chim đậu”, “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”…
Trong quá trình hình thành và phát triển, con người gắn với môi trường
tự nhiên và phải biết nương vào điều kiện tự nhiên để mà tồn tại và phát triển.
Còn rất rất lâu nữa, con người mới có thể làm chủ tự nhiên, chinh phục tự
nhiên một cách tuyệt đối. Chính vì vậy, mà tùy theo điều kiện tự nhiên, khí
hậu, thủy văn, địa hình, thổ nhưỡng mà mỗi dân tộc có cách ứng xử khác
nhau và từ đó hình thành nên những phong tục, tập quán khác nhau về lao
động sản xuất, về cách ăn mặc, cách làm nhà và cách đi lại, vận chuyển, cách
tổ chức gia đình, họ mạc, làng xóm, cũng như cách thờ cúng các vị thần
Bulgakov thì viết về khí hậu lục địa (sự cách biệt nhiệt độ ở Oimiakon đạt đến
104oC) có lẽ là tác nhân làm cho tính cách Nga có đặc trưng là mâu thuẫn:
Vừa khao khát tự do tuyệt đối vừa thuần phục kiểu nô lệ, vừa tín ngưỡng vừa
vô thần – những tính chất này của nếp nghĩ, tư duy Nga rất khó hiểu đối với
người châu Âu, tạo cho nước Nga vòng bí ẩn, thách đố và không thể đạt đến
được.
6
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN
MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN ĐẤT NƯỚC NGA
2.1. Vị trí địa lý
Nga có diện tích xấp xỉ Hoa Kỳ và Trung Quốc cộng lại. Dân số đứng
hàng thứ tám trên thế giới sau Trung Quốc, An Độ, Hoa Kỳ, Indonesia, Brazil,
Pakistan và Bangladesh. Nga giáp 14 quốc gia là Na Uy, Phần Lan, Estonia,
Latvia, Lithuania, Ba Lan, Belarus, Ukraine, Georgia, Azerbaijan,
Kazakhstan, Trung Quốc, Mông Cổ, Bắc Triều Tiên. Nga có đường bờ biển
dài 37.000km dọc theo Bắc Băng Dương và Thái Bình Dương cũng như dọc
theo các Biển Đen và biển Caspian. Do phần lớn các biển thường bị đóng
băng nhiều tháng trong năm nên Nga ít có các cảng tốt.
2.2. Địa hình
Nga có thể được chia thành ba khu vực rộng lớn:
- Đồng bằng Nga Âu (vùng trung tâm Nga) gồm lãnh thổ nằm ở phía
Tây dãy Ural.
- Siberia từ dãy Ural trải rộng về phía Đông hầu như đến tận Thái
Bình Dương.
- Hệ thống núi phía Nam và phía Đông, bao gồm cực đông nam và
chuỗi đồng bằng duyên hải hẹp (vùng Tiền đồn phía đông và Viễn đông).
Phần chính của lãnh thổ nằm ở phía Bắc của vĩ tuyến 50 o Bắc, và diện
cuối mùa hạ.
Do khí hậu Nga chủ yếu là khí hậu lục địa. Nhiệt độ mùa đông lạnh
nhất diễn ra ở Đông Siberia. Verkhoyansk ở Đông Bắc Siberia thường được
gọi là “cực lạnh của thế giới”. Suốt tháng giêng, nhiệt độ trung bình – 48,9 oC
và đạt tối đa là – 67,8oC. Ở phía Tây có khí hậu ôn hoà do ảnh hưởng Đại Tây
Dương. Tuy nhiên, dọc Bắc Băng Dương và Thái Bình Dương nhiệt độ cao
hơn, ví dụ: Vladivostok, bên bờ Thái Bình Dương có nhiệt độ trung bình vào
tháng giêng là -14,4oC ; tháng bảy là 18,3oC.
Quốc gia rộng lớn này có nhiều vùng khí hậu khác nhau. Các miền khí
hậu trải thành những vành đai dài rộng từ Tây sang Đông:
8
- Dọc bờ Bắc Băng Dương là khí hậu vùng địa cực, vùng này trải rộng
về vùng cực Đông trên các sườn núi.
- Phía Nam của vùng này là vành đai rộng của khí hậu cận cực. Phía
Tây vành đai này tiến hầu như tận đến gần thành phố St.Perterburg, sau đó
nó mở rộng về phía Đông của Ural để bao phủ phần lớn Siberia và Viễn
Đông Nga.
- Phần lớn Nga Âu có khí hậu lục địa ẩm ướt. Vành đai này rộng nhất ở
phía Tây; trải dài từ biển Baltic tới Biển Đen, sau đó thon nhọn về phía Đông
ăn sâu vào nội địa Nga. Điều kiện khí hậu ôn hoà này cũng tìm thấy ở cực
Đông Nam của vùng Viễn Đông Nga, bao gồm Vladivostok. Đa số thành phố
lớn, đường xe lửa đều nằm ở vùng khí hậu lục địa ẩm ướt. Moscow cũng nằm
ở vùng khí hậu ôn hoà này có nhiệt độ trung bình -9,4 oC vào tháng giêng và
18,9oC vào tháng bảy. St.Peterburg chịu ảnh hưởng của biển Baltic nhiệt độ
trung bình – 8,3oC vào tháng giêng và 17,8oC vào tháng bảy.
- Vành đai rộng thảo nguyên khô với mùa đông lạnh và mùa hè nóng
bắt đầu dọc Biển Đen và mở rộng về Đông Bắc ngang qua hạ lưu sông Volga,
Hồ lớn thứ hai ở Nga là hồ Baikal là hồ nước ngọt sâu nhất thế giới, độ sâu
trung bình 1.637m.
Hồ Baikal là một trong những hồ lý thú nhất ở Siberia. Hầu như có
khoảng 2000 loại cây và thú hoang dã sống ở hồ Baikal. Có lúc sóng ở hồ
này cao khoảng 4,57m. Hai hồ lớn kế tiếp là Ladoga và Onega, gọi là vùng
Hồ Lớn ở Tây Bắc Đồng bằng châu Âu, cả hai chảy vào vịnh Phần Lan.
Giống như nhiều hồ nước ngọt ở vùng này, Ladoga và Onega hình thành do
băng hà đệ tứ.
2.5. Các miền thực vật tự nhiên
Vùng thực vật tự nhiên rộng lớn và đất trồng ở Nga phù hợp với các
miền khí hậu. Về phía Bắc thực vật miền lãnh nguyên (đài nguyên) là rêu, địa
y, và cây bụi thấp mọc ở nơi mà mùa hạ quá mát với các loại cây. Vùng băng
tuyết vĩnh viễn lớp đất bên dưới thường xuyên bị đóng băng và chỉ lớp đất
nông trên bề mặt ấm về mùa hè cho phép thực vật tăng trưởng.
Rừng bao phủ 45% diện tích, phần lớn nằm ở Siberia. Toàn bộ rừng
đóng góp gần 25% diện tích rừng thế giới. Vùng rừng có thể chia thành phần
10
lớn ở phía Bắc là rừng quả nón phương Bắc, hay rừng taiga và vùng rừng nhỏ
hơn ở phía Nam là rừng hỗn hợp giữa cây quả nón và loài rụng lá.
Rừng taiga nằm phía Nam miền lãnh nguyên chiếm 40% Nga Âu và
mở rộng bao phủ phần lớn Siberia và Viễn Đông. Phần lớn vùng này cũng
đóng băng nhiều tháng trong năm. Mặc dù vùng rừng taiga rộng lớn chủ yếu
là cây quả nón, ở một số nơi cũng có các cây lá nhỏ như bu lô, cây dương
mềm, cây dương rụng lá và liễu đóng góp vào sự đa dạng của rừng. Ở cực
Tây Bắc Nga Âu rừng taiga chủ yếu là thông, mặc dù có một số đáng kể linh
sam, bu lô và các loài cây khác hiện diện. Rừng taiga ở đồng bằng Tây Siberia
chủ yếu là các loài thông khác nhau, nhưng dọc rìa phía nam rừng bulô trở
nên phổ biến. Khắp phần lớn sơn nguyên Trung Siberia và núi vùng Viễn
giới, trữ lượng than đứng hàng thứ nhì, và trữ lượng dầu mỏ đứng thứ tám thế
giới. Nga cũng là quốc gia đứng hàng đầu về quặng sắt, amiăng, kẽm, nickel,
kim cương, kali, chì, vàng, bạch kim, và uranium.
Than rải rác khắp lãnh thổ, nhưng các vỉa than lớn hơn hết nằm ở
Donbass (biên giới Ukraine), Pechora (ở vòng cực ), Kuzbass, hay Kuznetsk
(Tây Siberia), và Kansk-Achinsk (Trung Siberia). Mỏ dầu chính nằm ở Tây
Siberia và vùng Volga – Ural. Tuy nhiên các mỏ nhỏ hơn hiện diện ở nhiều
nơi vùng Biển Azov – Biển Đen và bang Bashkortostan. Khí thiên nhiên ở
vùng Tyumen ở Tây Siberia, biên giới Kazakhstan, vùng Orenburg tây nam
Nga, bang Komi ở Đông Bắc Nga Âu, và ở bang Yakutia (Sakha) Đông Bắc
Siberia.
Các mỏ sắt chính nằm ở Kursk giữa Moscow và Ukraine, các mỏ nhỏ
hơn nằm rải rác khắp nước. Chì và kẽm cũng rất phong phú nằm ở phía bắc
dãy Caucasus, vùng Viễn Đông Nga, và rìa tây bồn địa Kuznetk ở Siberia.
Nga cũng có trữ lượng vàng lớn nhất thế giới, chủ yếu ở Viễn Đông Nga và
Urals và là nước sản xuất đá quý chính, nổi bật là kim cương.
12
CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN MÔI
TRƯỜNG TỰ NHIÊN ĐẾN TƯ DUY, TÍNH CÁCH DÂN
TỘC NGA
Đề tài tập trung vào tìm hiểu một số yếu tố địa lý – cụ thể là: (1) vị trí
địa lý, (2) khí hậu, (3) cảnh quan và độ rộng lãnh thổ nước Nga – ảnh hưởng
đến tư duy, tính cách dân tộc Nga.
3.1. Ảnh hưởng của vị trí địa lý đến tư duy, tính
cách dân tộc Nga
Dân tộc Nga được sinh ra ở trung tâm lục địa Á – Âu, ở đồng bằng
không được biển cũng như núi che chở cả ở phía Tây và phía Đông để chống
chuyển chất đốt, bảo quản hệ thống sưởi ấm nhà cửa, củng cố các công
trình xây dựng, cứu nạn tàu thuyền, bến cảng, cầu cống, dọn tuyết trên các
con đường, chống lũ lụt, may quần áo ấm” [Shirikin P.S. 2002]. Mùa đông
Nga kéo dài và lạnh giá được phản ảnh bằng dấu ấn khốn khó trong tâm hồn
người Nga.
Mùa đông Nga khắc nghiệt ảnh hưởng đến truyền thống hiếu khách của
người Nga. Từ chối người đi đường trong điều kiện khí hậu mùa đông có
nghĩa là đẩy họ vào cái chết lạnh. Vì vậy, tính hiếu khách được người Nga
hiểu là nghĩa vụ. Tính khắc nghiệt và hà khắc của thiên nhiên dạy cho người
Nga tính chịu đựng và biết lắng nghe. Nhưng có ý nghĩa hơn cả là cuộc đấu
tranh không ngừng và bền bỉ với thiên nhiên khắc nghiệt. Từ lâu, bên cạnh
nghề nông người Nga phải làm nhiều nghề khác nhau. Điều này được giải
thích bởi hướng suy nghĩ thực tế của họ, tính linh hoạt và tính sáng suốt. Cách
tiếp cận cuộc sống một cách sáng suốt, tính toán và thực dụng không phải lúc
nào cũng giúp được người Nga, vì khí hậu độc đáo của nước Nga cũng có lúc
làm đánh lừa cả những kỳ vọng khiêm tốn nhất. Và do quen với những thất
vọng này, người Nga đôi khi lại chọn những quyết định thiêu thân, ít hy vọng
nhất để chống lại thói đỏng đảnh của thiên nhiên bằng sự đỏng đảnh của lòng
14
can đảm của chính mình. Xu hướng trêu chọc hạnh phúc, đùa với thành công
là sự may rủi của người Nga.
Trong hoàn cảnh không thể dự đoán trước được như vậy, khi thành quả
lao động phụ thuộc vào thói đỏng đảnh, thất thường của thiên nhiên, thì chỉ có
thể sống được với một sự lạc quan vô bờ bến. Trong bảng xếp loại các nét
tính cách dân tộc do tạp chí Reader’s Digest lập ra bằng cách thăm dò dư luận
ở 18 nước châu Âu vào tháng 02 năm 2001, phẩm chất này ở người Nga đứng
đầu. Có đến 51% người Nga được hỏi cho mình là người lạc quan, chỉ có 3%
là người bi quan. (Ở các nước châu Âu còn lại, những phẩm chất dứng đầu lại
đặt ra các mục tiêu, giáo dục cho mình kỹ năng đưa kết luận về nghệ thuật
quan sát. Kỹ năng này cũng chính là cái mà ta gọi là con mắt sau gáy…
“Thiên nhiên và số phận dẫn dắt người Nga, dạy họ biết bước ra con đường
thẳng rộng lớn từ những quãng đường gập ghềnh khúc khuỷu”[ Shirikin P.S.
2002].
3.3. Ảnh hưởng của cảnh quan và độ rộng lãnh thổ
đến tư duy, tính cách dân tộc Nga
Thiên nhiên Nga tuyệt vời cùng tính đồng bằng của cảnh quan Nga đã
dạy cho nhân dân biết suy tưởng, trực quan. Nhưng suy tưởng thái quá rất dễ
trở nên mơ mộng, lười biếng, thiếu ý chí, ghét lao động. Tính cẩn trọng, ưa
quan sát, trầm ngâm, tập trung suy tưởng và trực quan – đó là những nét tính
cách được giáo dục trong tâm hồn Nga bởi chính cảnh quan Nga.
Phần nhiều những nét tính cách tư duy Nga được xác định bởi tính chất
bao la mênh mông của không gian Nga. Một lãnh thổ rộng lớn thưa dân cư
đòi hỏi có một kiểu người đặc biệt mới khai khẩn được nó. Những người này
có khả năng hành động quyết đoán, táo bạo và quả cảm. Theo tính toán của
P.S.Shirikin, sau 75 năm (từ thời Ermakov chinh phục Siberi đến khi
Moskvitin bước ra Thái Bình Dương), lãnh thổ nước Nga tăng lên 10 triệu
km2 – một trong những nước có tầm cỡ lớn nhất thế giới. Để so sánh, có thể
lấy số liệu các cuộc thám hiểm của Columb nhập vào đế quốc Tây Ban Nha
vùng biển Caribe 2.777.000 km2, Cortes – 2.067.000 km2, Pisarro –
1.285.200 km2 [Shirikin P.S. 2002].
16
Nhưng trong các cuộc chinh phục ở Nga, không một dân tộc Siberi và
Viễn Đông nào bị tuyên bố là “hoang dã” và bị tiêu diệt. Và khắp nơi trên
đường đi của mình, người Nga đã tạo dựng một mạng lưới các pháo đài– làng
thôn và chúng đóng vai trò quan trọng như trung tâm kinh tế của những vùng
lãnh thổ được khai hoá. Cư dân của những pháo đài này có tính đặc trưng là
Vấn đề khắc phục những khoảng không bao la và khoảng cách luôn
luôn là một trong những vấn đề chủ yếu nhân dân Nga. Sa hoàng Nikolai Đệ
nhất từng nói: “Khoảng cách là nỗi bất hạnh của nước Nga”. Ở mỗi người dân
Nga đều có tính bền bỉ, căn cơ của một nông dân hoà cùng dòng máu du mục
can đảm với khát vọng thoát khỏi nơi sống đã lâu để tìm kiếm những gì tốt
đẹp hơn. Người Nga không phân biệt ranh giới Âu–Á mà biết cân bằng giữa
hai phương thức phát triển. Ví dụ cho tính chất này có thể thấy rất nhiều trong
lịch sử Nga: Sự chấp nhận Cơ-đốc giáo với ách cai trị Mông Cổ – Tarta,
những cuộc xâm lược của các quân đội châu Âu với những cuộc nổi dậy của
Stephan Razin và Pugachop, các cuộc cải cách châu Âu với quyền sở hữu
nông nô, định hướng cải tổ phương tây ngày nay với thói tham nhũng châu Á
của các quan chức.
Không gian bao la dễ dàng quy thuận dân tộc Nga, nhưng việc tổ chức
các khoảng không gian này trong một quốc gia lớn nhất thế giới, việc gìn giữ
nó và duy trì trật tự trong nó thì không dễ dàng gì. Tầm rộng lớn của quốc gia
đặt ra trước nhân dân Nga những nhiệm vụ vượt sức, giữ người Nga luôn ở
tình trạng căng thẳng vượt bậc. Tất cả những điều này cũng không thể không
được phản ánh trong tư duy Nga. Tâm hồn Nga bị ức chế bởi những cánh
đồng Nga bát ngát, các lớp tuyết Nga dày mênh mông, nó như bị chìm nghỉm,
hoà tan trong sự mênh mông bát ngát này.
Độ rộng của tâm hồn Nga cũng như đất đai, sông ngòi, cánh đồng Nga
vậy – tất cả đều có thể được tâm hồn Nga tiếp nhận: Mọi tình cảm, cá tính và
phẩm chất con người đều có chỗ trong tâm hồn người Nga. Người học sẽ cảm
thấy thú vị nếu phân tích không chỉ những phẩm chất tốt đẹp của dân tộc Nga,
mà còn cả những nét tính tiêu cực của họ nữa. Quyền lực của độ rộng đối với
tâm hồn Nga cũng làm nảy sinh một loạt “tính xấu” của người Nga.
Đó là các tính lười biếng, vô tư, thiếu chủ động sáng tạo, ít có tinh thần
trách nhiệm. “Độ rộng của đất Nga và độ rộng của tâm hồn Nga đã bóp nghẹt
18
người yêu và cuối cùng lâm vào cảnh nghèo dù xuất thân từ một gia đình quý tộc khá giả
19
“Mỗi người Nga đều nhận thức mình là một phần của cả quốc gia, nhận thức
được sự ruột thịt của mình với toàn thể nhân dân” [Geografija 1992].
20
KẾT LUẬN
Mỗi con người, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có những đặc điểm tính
các khác nhau. Nó là đặc trưng riêng để chúng ta có thể nhận biết cũng như
đánh giá về con người hay dân tộc đó. Tính cách có thể tìm hiểu qua rất nhiều
phương diện và được thể hiện bằng nhiều cách. Sự hình thành tính cách, tư
duy của một dân tộc chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có
các yếu tố về điều kiện địa lý môi trường tự nhiên. Phân tích môi trường văn
hoá dân tộc và tự nhiên về mặt điều kiện địa lý cho phép mở ra những đặc
tính quan trọng nhất của tư duy bất cứ dân tộc nào và cho phép theo dõi
những giai đoạn cũng như các nhân tố hình thành tư duy dân tộc.
Qua việc tìm hiểu một số yếu tố về điều kiện địa lý môi trường tự nhiên
của đất nước Nga, ta có thể thấy rõ được sự ảnh hưởng không nhỏ của chúng
đến tính cách, tư duy con người Nga. Chắc hẳn chúng ta phần nào hiểu thêm
về đặc điểm tính cách và tư duy tiêu biểu của dân tộc Nga, một dân tộc giàu
mạnh nhất thế giới nhưng cũng rất bình dị và giàu lòng nhân ái.
Thiên nhiên Nga, tính cách Nga chân chính, đó là sự thuần khiết, nhân
hậu và cao thượng. Không có cội nguồn tính cách ấy, thì thử hỏi làm sao nước
Nga lại có thể sản sinh ra được những Puskin, Lermôntôv, Gôgôl, Turghênhev,
L.Tôlxtôi, Trêkhôv… và những bậc nhân văn vĩ đại của loài người?