Vai trò của công nhân trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay - Pdf 50

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TẠ THU THỦY

VAI TRÒ CỦA CÔNG DÂN TRONG PHÒNG,
CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp – Luật Hành chính
Mã số: 9 38 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ VIỆT HƯƠNG

HÀ NỘI - 2018


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................................ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ................................................. 10

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ..........................................................................10
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ..............................................................................17
1.3. Nhận xét tình hình nghiên cứu đề tài luận án ...........................................................22
1.4. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu về đề tài luận án ...............................26
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG DÂN TRONG
PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG ...................................................................................... 31


Ban TTND:

Ban Thanh tra nhân dân

PAPI:

Chỉ số hiệu quả quản trị hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam

PCTN:

Phòng, chống tham nhũng

QLHCNN:

Quản lý hành chính nhà nước

MTTQ:

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

UNCAC:

Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng

VBQPPL:

Văn bản quy phạm pháp luật

XHCN:


nhiệm bảo đảm các điều kiện để công dân thực hiện vai trò của mình trong PCTN.
Điều này được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Trên phương diện lý thuyết, vai trò của công dân trong PCTN là biểu hiện của
cơ chế dân chủ, khẳng định chủ quyền nhân dân với mục tiêu kiểm soát quyền lực.
Dân chủ là điều kiện tiền đề chính trị - xã hội để bảo đảm cho công dân thực hiện
vai trò của mình trong quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội nói chung và trong
nỗ lực phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng nói riêng một cách trực tiếp hoặc
thông qua cơ chế đại diện. Bên cạnh đó, nguyên lý chủ quyền nhân dân cũng là cơ
sở để nhận diện bản chất và nội dung mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong
Nhà nước pháp quyền XHCN; qua đó, chỉ ra được vai trò của công dân trong PCTN.
Công dân bằng quyền lực của mình thiết lập ra Nhà nước và ủy quyền cho Nhà
nước thực hiện quyền lực nhân dân nên xét về bản chất, quyền lực nhà nước phải

1


chịu sự kiểm soát của công dân. Và, công dân có quyền kiểm soát việc thực hiện
quyền lực nhà nước; giám sát cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn được
giao để vụ lợi. Cách đặt vấn đề đó đã chỉ ra nhu cầu tìm kiếm cơ sở lý thuyết để tạo
khung tư duy cho việc xác định nội dung, phương thức thực hiện vai trò của công
dân trong PCTN và các yếu tố bảo đảm để công dân có thể thực hiện được vai trò đó.
Trên phương diện pháp lý, các chính sách, pháp luật về PCTN của Đảng và
Nhà nước đều khẳng định vai trò của công dân là một trong những nhân tố quan
trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của công tác này. Trong
Chiến lược quốc gia về PCTN đến năm 2020, nâng cao nhận thức và phát huy vai
trò của công dân được khẳng định là một trong những giải pháp quan trọng trong
PCTN [11]. Hiến pháp 2013 cũng có những chế định về địa vị pháp lý cơ bản của
công dân; mở rộng các quyền, nghĩa vụ cụ thể và nâng cao tính khả thi trong việc
quy định quyền công dân, trong đó có quyền của công dân trong kiểm soát việc thực
hiện quyền lực nhà nước. Ngoài ra, các yêu cầu của cải cách hành chính, cải cách tư

sát, phát hiện tham nhũng hiệu quả còn thấp; việc xử lý tham nhũng trong nhiều
trường hợp còn chưa nghiêm, chưa kịp thời... [28]. Thực trạng này có nhiều nguyên
nhân, trong đó nhìn từ góc độ xã hội có nguyên nhân từ năng lực nhận thức, từ ý
thức thực hiện pháp luật PCTN của công dân; từ thể chế pháp lý về quyền và nghĩa
vụ của công dân tham gia PCTN; từ cơ chế thực hiện đại diện cho tiếng nói người
dân của các tổ chức xã hội; và đặt trong mối quan hệ Nhà nước – công dân, thực
trạng đó còn xuất phát từ nguyên nhân thực tiễn thực hiện các biện pháp bảo đảm
của Nhà nước về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, bảo đảm quyền tiếp
cận thông tin, bảo vệ và khen thưởng người tố cáo... chưa thực sự hiệu quả để phát
huy được vai trò của công dân trong nỗ lực chung của cả hệ thống chính trị nhằm
PCTN. Tình hình này đặt ra nhu cầu tổng kết thực tiễn trên cơ sở nghiên cứu những
vấn đề lý luận và rà soát pháp luật để hình thành cơ sở khoa học đề xuất các giải
pháp nâng cao vai trò của công dân trong PCTN.
Trong bối cảnh đó, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài luận án: "Vai trò của công
dân trong PCTN ở Việt Nam hiện nay" là rất cần thiết. Luận án sẽ góp phần làm
sáng tỏ những vấn đề lý luận về vai trò của công dân trong PCTN, các quy định
pháp luật và thực tiễn về vai trò của công dân trong PCTN ở nước ta hiện nay. Trên
cơ sở đó, Luận án sẽ đề xuất những giải pháp, kiến nghị về hoàn thiện thể chế, về tổ
chức thực hiện nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của công dân trong PCTN ở Việt
Nam thời gian tới.

3


2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu:

Cung cấp những luận cứ khoa học cho việc đề xuất các giải pháp, kiến nghị
góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao vai trò của công dân trong PCTN ở
Việt Nam.

thể xã hội công dân.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu vai trò của công dân trong PCTN ở Việt
Nam và tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này. Trên
cơ sở đó đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.
- Về thời gian: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu về khuôn khổ thể chế,
chính sách và thực tiễn liên quan đến vai trò của công dân trong PCTN từ khi Luật
PCTN năm 2005 có hiệu lực (và qua hai lần sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm 2012).
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án nghiên cứu vai trò của công dân trong PCTN được thực hiện trên cơ
sở một số lý thuyết phổ biến về chủ quyền nhân dân; về kiểm soát quyền lực nhà
nước; về bản chất của dân chủ; về quyền con người, quyền công dân; học thuyết về
nhà nước pháp quyền XHCN và yêu cầu của kiểm soát quyền lực nhà nước trong
Nhà nước pháp quyền XHCN,
Luận án cũng nghiên cứu dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan
điểm, định hướng chính trị được đề cập trong các Văn kiện Đại hội VIII, IX, X, XI,
XII của Đảng về tiếp tục phát huy dân chủ, phát huy vai trò của nhân dân trong cuộc
đấu tranh phòng chống tham nhũng, về xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, minh
bạch, đảm bảo các quyền con người, quyền công dân…
4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Luận án cũng sử dụng các phương pháp
nghiên cứu phổ biến hiện nay của khoa học pháp lý, trong đó chú trọng các phương
pháp: phân tích và tổng hợp, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, cấu trúc hệ thống.
Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số phương pháp cụ thể như quan sát, thống kê,
so sánh, tham khảo, logic lịch sử... PCTN là tổng thể các biện pháp phòng ngừa,
phát hiện và xử lý tham nhũng với sự tham gia của nhiều chủ thể với nhiều phương
thức khác nhau như sự lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện thể chế và giám sát của cơ
quan lập pháp, thực hiện quản lý nhà nước của cơ quan hành pháp, cơ chế xử lý của


hóa – xã hội và cơ sở vật chất (Chương 2); đánh giá được tồn tại, hạn chế và nguyên
nhân (Chương 3) và đưa ra các giải pháp mang tính tổng thể nhưng cũng có sự chọn
lọc, cơ bản, phù hợp với yêu cầu thực tiễn (Chương 4).

6


- Phương pháp so sánh, tham khảo: So sánh một số quy định pháp luật về vai
trò của công dân trong PCTN của Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia trên
cơ sở có sự đánh giá tương đồng về sự phát triển kinh tế - xã hội. Tham khảo kinh
nghiệm của một số quốc gia, tổ chức quốc tế trong việc xây dựng khung pháp lý và tổ
chức thực hiện các nội dung nghiên cứu đặt ra trong Luận án (Chương 2, Chương 4).
- Phương pháp quan sát, thống kê: Quan sát, thống kê việc thực hiện vai trò
của công dân trong PCTN được biểu hiện qua việc công dân trực tiếp hoặc thông
qua các tổ chức đại diện tham gia xây dựng, hoàn thiện thể chế chính sách về
PCTN; thực hiện giám sát, phát hiện, phản ánh, tố cáo tham nhũng; lên án đấu tranh
xử lý vụ việc tham nhũng… bằng quan sát thực tiễn, qua phương tiện truyền thông,
xem xét báo cáo và kết quả nghiên cứu khảo sát đã được công bố (Chương 3).
- Phương pháp lịch sử: Đánh giá nội dung, phương thức thực hiện vai trò của
công dân trong PCTN và bảo đảm của Nhà nước để công dân có thể thực hiện được
vai trò của mình theo sự tương ứng về giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội (Chương 3,
Chương 4).
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Nghiên cứu vai trò của công dân trong
PCTN không đơn thuần chỉ là nhận thức riêng lẻ về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của
một chủ thể trong xã hội, mà bản chất là phải đặt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm đó
trong tổng hòa mối quan hệ giữa Nhà nước – xã hội – công dân. Cách tiếp cận này
trong các chương của Luận án cho phép quan sát, mô tả được sự đa diện của các yếu
tố về chính trị học, luật học, kinh tế học, triết học, xã hội học, văn hóa học... tác động
đến vai trò của công dân trong PCTN với các chiều cạnh khác nhau.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

quyền XHCN, thực hiện Hiến pháp năm 2013 và thực hiện các cam kết quốc tế về
PCTN của nước ta hiện nay.
6.2. Về thực tiễn
Luận án cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để các cơ quan có thẩm quyền và
các nhà hoạch định chính sách, quản lý nghiên cứu, tham khảo trong việc ban hành, sửa
đổi các quy định pháp luật liên quan nhằm nâng cao vai trò của công dân trong PCTN.
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các hoạt động giảng dạy, học tập,
nghiên cứu khoa học về PCTN tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo ở Việt Nam hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của Luận án cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
các tổ chức như MTTQ, Ban TTND, Ban GSĐTCĐ trên phạm vi toàn quốc trong quá
trình nâng cao vai trò của công dân trong PCTN.

8


7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án
gồm có 4 chương, bao gồm:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2. Những vấn đề lý luận về vai trò của công dân trong PCTN
Chương 3. Thực trạng vai trò của công dân trong PCTN ở nước ta hiện nay
Chương 4. Quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của công dân trong
PCTN ở Việt Nam hiện nay

9


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

bảo đảm các điều kiện cần thiết để các chủ thể giám sát thực hiện quyền giám sát
đối với hoạt động của các cơ quan công quyền. Cơ cấu của cơ chế đó về cơ bản
được đề cập đến trong các công trình gồm các quy phạm xã hội, hoạt động hợp
pháp của các chủ thể giám sát, tính công khai, dư luận xã hội, các bảo đảm chung,
bảo đảm pháp lý, tổ chức, văn hóa... Tuy nhiên, việc hình thành và xây dựng cơ chế
giám sát đó phụ thuộc vào điều kiện chính trị - kinh tế - văn hóa – xã hội của mỗi
quốc gia.
Trong hệ thống các chủ thể xã hội kiểm soát quyền lực, công dân đóng vai trò
quan trọng. Nhận định này đã được nhiều công trình nghiên cứu với các góc nhìn đa
chiều như:
Nghiên cứu của Huguette Labelle, “Vai trò của xã hội công dân trong đấu
tranh chống tham nhũng” (The role of civil society in the fight against corruption),
Santo Domingo, Cộng hòa Dominican ngày 15 tháng 2 năm 2012 [133]. Công trình
đã phân tích vai trò của kiểm soát xã hội nhằm hạn chế tham nhũng và phân tích
giải pháp chống tham nhũng phải là sự tổng hòa của nhiều biện pháp khác nhau như
tăng cường sự minh bạch quốc tế thông qua bảng xếp hạng chỉ số tham nhũng; đẩy
mạnh tính minh bạch, sự liêm khiết và trách nhiệm giải trình trong nhà nước;
khuyến khích hoạt động kinh doanh lành mạnh, trong sạch; tập trung giáo dục sớm
về chống tham nhũng và đặc biệt là đề cao vai trò của xã hội công dân trong quá
trình đấu tranh chống tham nhũng.
Bài phát biểu của đại diện UNODC “Công dân có thể trở thành những người
lính trong đấu tranh chống tham nhũng” (Citizens can be soldiers in the fight
against corruption) trong buổi kỷ niệm ngày chống tham nhũng quốc tế với sự hợp
tác của chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP), Bộ phát triển hành chính
công Ai Cập (MSAD), Uỷ ban hợp tác quốc gia chống tham nhũng (NCCC) và tổ
chức minh bạch quốc tế [154]: Bài phát biểu tập trung vào “Một sự khởi đầu mới và
một cách nhìn khác biệt trong đấu tranh chống tham nhũng ở Ai Cập”. Tác giả đề
cao vai trò của người dân đặc biệt là những người trẻ trong việc phát hiện hành vi
tham nhũng bên cạnh sự hỗ trợ của các công cụ truyền thông xã hội. Sự nỗ lực của


nhũng quốc tế lần thứ 9 tại Durban, Nam Phi [152]: Vai trò của xã hội công dân
trong việc đấu tranh chống tham nhũng chưa được thực hiện hiện thường xuyên và
áp dụng triệt để. Do đó, cần phải có cái nhìn bao quát hơn về tham nhũng và cần

12


xây dựng chiến lược toàn diện để chống tham nhũng. Ở Nam Phi, tham nhũng được
coi là một vấn đề xã hội, được chia thành năm cấp độ (cá nhân, khu vực, quốc gia,
quốc tế và không gian ảo) và được thực hiện bởi ba loại chủ thể (chủ thể công, tư và
xã hội công dân). Công tác phòng chống tham nhũng hiện nay được chủ yếu chỉ
được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tổ chức xã hội công dân được
nhìn nhận như chủ thể giám sát hoặc đối tác của nhà nước.
Tiến sĩ Patrick Ukase - trường Đại học Anyigba, Kogi State Nigeria và Bem
Audu, Học viện Quốc phòng Nigerian, “Vai trò của xã hội công dân trong việc đấu
tranh chống tham nhũng ở Cộng hòa Negeria: Các vấn đề, thực trạng và cách giải
quyết” (The role of civil society in the fight against corruption in Nigeria’s fourth
republic: Problems, prospects and the way forward) [141]: Bài viết phân tích vai trò
và sự đóng góp của xã hội công dân đối với chế độ dân chủ, quá trình quản lý, xây
dựng pháp luật và PCTN ở Nigeria. Xã hội công dân đã tạo nền tảng để người dân
Nigeria truy vấn các chính sách nhà nước, hành động hoặc không hành động của
nhà nước ví dụ như tư nhân hóa, sự thương mại hóa của các tổ chức công và các
dịch vụ, các chính sách không phù hợp của các tổ chức tài chính quốc tế.
Về cơ bản, các tác phẩm này trước khi đề cập đến vai trò giám sát của chủ thể
công dân đều có phân tích khái quát công tác chống tham nhũng trên cả phương
diện chính trị và kinh tế để có cái nhìn toàn cảnh và phát hiện những chuyển biến
tích cực trong công tác phòng chống tham nhũng trên cơ sở đề cao vai trò, trách
nhiệm các tổ chức xã hội và công dân.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về nội dung, phương thức thực hiện
vai trò của công dân trong PCTN

nhất là chức năng giám sát của công dân và các tổ chức xã hội có thể tạo ra áp lực
làm thay đổi hoặc hoàn thiện hệ thống pháp luật và cũng có thể ảnh hưởng tới
những chính sách chung của Nga; sử dụng phương thức truyền thông như một công
cụ hữu hiệu để phòng chống tham nhũng và công nhận vai trò của người tố cáo
hành vi tham nhũng, đồng thời xây dựng cơ chế pháp lý để bảo vệ họ.
- Bài viết của Niklas Kossow, “Vai trò của xã hội công dân trong phòng
chống tham nhũng: Câu chuyện của Ukraine” (The role of civil society in Anticorruption: The story of Ukraine) [140]: Bài viết chỉ ra vai trò của xã hội công dân
trong PCTN bên cạnh vai trò của truyền thông xã hội. Bài viết này cũng nhấn mạnh
vai trò của công dân trong biểu đạt ý kiến về chính sách, pháp luật; vai trò giám sát,

14


phát hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực trên cơ sở sử dụng công cụ truyền thông xã
hội hỗ trợ.
1.1.3. Những công trình nghiên cứu về các điều kiện bảo đảm thực hiện
vai trò của công dân trong PCTN
Trong mối quan hệ với quyền lực nhà nước, ở xã hội hiện đại đang hiện diện
các hệ thống kiểm soát quyền lực khác nhau. Mỗi hệ thống được cấu thành từ nhiều
bộ phận khác nhau với những phương thức thực hiện khác nhau nhưng đều hướng
đến mục tiêu kiểm soát quyền lực, loại trừ tham nhũng. Đối với sự tham gia của
công dân, để phát huy vai trò của chủ thể này, nhiều công trình nghiên cứu đã luận
bàn điều kiện bảo đảm trên cơ sở phân tích lồng ghép công cuộc chống tham nhũng
với bảo vệ quyền con người cũng như đề xuất phương án giải quyết những thách
thức tiềm tàng; hoặc có công trình nghiên cứu cũng lý giải mối quan hệ pháp lý
giữa tham nhũng và quyền con người, khuyến khích các chính phủ, tổ chức và các
nhà hoạt động chống tham nhũng cần ghi nhận giá trị của quyền con người trong
cuộc chiến chống tham nhũng, nhấn mạnh sự cần thiết kết hợp PCTN với bảo vệ
quyền con người như là một phương thức bảo đảm phát huy sức mạnh của chủ thể
này; hoặc cũng có tác giả đã tiếp cận các điều kiện bảo đảm từ yêu cầu của nhà

/>ion.aspx [132]. Nghiên cứu đã chỉ rõ tham nhũng gây ra những ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền con người trên các phương diện dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội,
văn hóa và phát triển. Điều kiện bảo đảm cho việc phát huy vai trò của người dân là
tôn trọng và thi hành các nguyên tắc nhân quyền cốt lõi như trách nhiệm giải trình,
tính minh bạch, không phân biệt đối xử và đảm bảo thi hành. Để làm được như vậy,
cần thiết phải tăng cường sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc thực thi Công ước
Liên hợp quốc về chống tham nhũng và Công ước Liên hợp quốc về quyền con người.
- Báo cáo của Alina Mungiu - Pippidi, “Kinh nghiệm của xã hội công dân như
một chủ thể chống tham nhũng ở Đông Trung Âu” (The experience of civil society
as anticorruption actor in East Central Europe), Romanian Academic Society and
Hertie School of Governance [122]: Bài viết đã phân tích các điều kiện về: (1) sự
liên kết của xã hội công dân và sự quản lý tốt; (2) kiểm tra, đánh giá sự liên kết này;
(3) đề xuất một mô hình có thể giải quyết vấn đề khó khăn trong việc thiết lập một
“thuyết phổ biến đạo đức” như một quy chuẩn trong việc quản lý ở các nước cộng
sản hậu chủ nghĩa; (4) đưa ra các số liệu của dự án “quản trị tốt” để thấy được sự
ảnh hưởng của các nhân tố (quy định pháp luật, sự tự do định đoạt các viện trợ
công, tham nhũng, sự đối xử bất bình đẳng của Chính phủ) đối với xã hội công dân.
- Tác phẩm Controlling corruption in Asia and the Parcific/Asia Development
Bank, 2004/Kiểm soát tham nhũng ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương [127]: Kỷ
yếu hội nghị thường niên lần thứ tư về cuộc chiến chống tham nhũng theo sáng kiến
của Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế thuộc Ngân hàng phát triển Châu Á cho khu
vực Châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Kuala Lumpur, Malaysia từ 3-5/12/2003.
Bao gồm các bài thuyết trình về chiến lược chống tham nhũng; kiểm soát tính chính
trực trong khu vực tư nhân và khu vực công; phác thảo và vận dụng luật bảo vệ đối
tượng tố cáo tham nhũng, những hỗ trợ pháp lý và vấn đề thu hồi tiền tham nhũng...

16


- Bài viết của Arthur Larok, “Sự tiếp cận khác nhau, cùng mục tiêu? Xã hội



soát quyền lực; chủ thể thực hiện kiểm soát và vai trò, nội dung, đối tượng của kiểm
soát trong và kiểm soát ngoài.
Mục đích của kiểm soát quyền lực là PCTN. Những vấn đề lý luận về tham
nhũng và PCTN như khái niệm, đặc điểm, bản chất, nguồn gốc của tham nhũng;
khái niệm, đặc điểm, nội dung PCTN đã được đề cập đến trong một số công trình
như: Ngân hàng thế giới (2002), Kiềm chế tham nhũng hướng tới một mô hình xây
dựng sự trong sạch quốc gia, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội [77]; Nguyễn Văn
Thanh, Trần Đức Lượng, Phạm Duy Nghĩa (2004), Một số vấn đề cơ bản về phòng
ngừa và chống tham nhũng, Nxb. Tư pháp, Hà Nội [95]; Phan Xuân Sơn, Phạm Thế
Lực (2008), Nhận diện tham nhũng và các giải pháp PCTN ở Việt Nam hiện nay,
Nxb. CTQG, Hà Nội [83]; Nguyễn Đăng Dung-Phạm Hồng Thái-Chu Hồng ThanhVũ Công Giao (2013), Giáo trình Lý luận và pháp luật về PCTN, Nxb. Đại học
Quốc gia Hà Nội [25]; Nguyễn Văn Huyên (2009), Tham nhũng và giải pháp phòng,
chống từ góc nhìn văn hoá, Tạp chí Cộng Sản, Tháng 7, Số 801 [40]; Đinh Văn
Minh (Chủ biên) (2011), Một số nguy cơ tham nhũng dễ phát sinh trong quản lý và
sử dụng đất đai ở Việt Nam, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội [70]; Phạm Thị
Huệ (2016), Phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay,
Luận án tiến sỹ, Hà Nội [45]... Các công trình nghiên cứu này đã làm rõ khái niệm
tham nhũng, nội dung, bản chất, hình thức, các dấu hiệu của hành vi tham nhũng;
nguyên nhân, tác hại của tham nhũng; các nguy cơ phát sinh tham nhũng; dự báo xu
hướng phát triển của tham nhũng. Bên cạnh đó, các tác giả đã phân tích, đánh giá
trên nhiều khía cạnh khác nhau về tham nhũng, những biểu hiện mới của tham
nhũng trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường.
Trên cơ sở những vấn đề chung về tham nhũng, các công trình cũng đã phân
tích được các giải pháp đấu tranh PCTN như tăng cường công khai, minh bạch
trong hoạt động; trách nhiệm giải trình; quyền tiếp cận thông tin của người dân; tố
cáo hành vi tham nhũng, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về PCTN… Mặc dù
nhiều công trình đã luận bàn kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, dựa trên nhiều cách
tiếp cận, nhiều góc nhìn nhằm đưa ra các phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu

cơ chế khiếu nại, tố cáo, cơ chế giám sát, góp ý phản biện chính sách, pháp luật...
mà chưa đi sâu phân tích, luận giải các quyền, nghĩa vụ trực tiếp của công dân cũng
như thông qua các tổ chức đại diện theo phân lớp trục nội dung, phương thức trong
phòng và chống tham nhũng. Ngoài ra, cũng chưa có công trình nào nghiên cứu sâu
vai trò của công dân trong trạng thái luận giải, đánh giá song song, logics theo từng

19


trục nội dung, phương thức thực hiện vai trò của công dân và bảo đảm của Nhà
nước để công dân thực hiện vai trò theo nội dung, phương thức đó.
1.2.3. Những công trình nghiên cứu về các điều kiện bảo đảm thực hiện
vai trò của công dân trong PCTN
Để phát huy vai trò của công dân trong PCTN, nhiều tác giả đã nghiên cứu
kinh nghiệm quốc tế trong phát huy vai trò của công dân trong PCTN như: Nguyễn
Văn Quyền, Phạm Tất Thắng, Lê Văn Lân (2005), Kinh nghiệm PCTN của một số
nước trên thế giới, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội [58]; Vũ Kim Huế, Hoàng Huệ
Chi, Nguyễn Thị Dung (dịch) (2007), Đấu tranh chống tham nhũng tại các nền kinh
tế Châu Á – Thái Bình Dương, Nxb. Tư pháp, Hà Nội [43]; Ngân hàng phát triển
châu Á (2012), Chính sách cơ chế trách nhiệm giải trình, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội [74]; Thanh tra Chính phủ (2014), Một số kinh nghiệm quốc tế về công
tác PCTN, Nxb. Lao động, Hà Nội [90]… Trong mỗi công trình, các tác giả đều đưa
ra những mô hình chống tham nhũng điển hình; mỗi khu vực, mỗi quốc gia khác
nhau lại có những cách thức đối phó với nạn tham nhũng khác nhau, không có sự
rập khuôn, máy móc với các biện pháp chống tham nhũng chung cho tất cả quốc gia
nhằm kiểm soát tham nhũng. Về cơ bản, các công trình này đã đề cập đến một số
vấn đề chung về tham nhũng và PCTN trên thế giới; những giải pháp PCTN chủ yếu
ở các nước, Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng và kinh nghiệm của các tổ
chức quốc tế; trong đó có những đề xuất giải pháp phát huy vai trò của người dân.
Các tác giả đã chứng minh qua kinh nghiệm quốc tế cho thấy PCTN là hệ

Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên
CNXH ở nước ta, NXB CTQG, Hà Nội [101]; Ngân hàng thế giới – UNODC (2012),
Bộ tài liệu của chương trình Thu hồi tài sản thất thoát (StAR), Việc công, lợi ích tư
– Bảo đảm trách nhiệm giải trình thông qua công khai thu nhập, tài sản [78]; Trần
Văn Long (2016), Luận án tiến sỹ luật học, Quyền được thông tin của công dân
trong PCTN ở nước ta hiện nay, Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa
học xã hội Việt Nam, Hà Nội [62]; Nguyễn Quốc Văn – Vũ Công Giao (2017), Phát
huy vai trò của xã hội trong PCTN, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội [112]... Những công
trình nghiên cứu này đã chỉ ra các thách thức chính trong việc đảm bảo phát huy vai
trò của công dân trong nhà nước pháp quyền. Một số tác giả đã luận giải điều kiện
bảo đảm pháp lý như quyền được thông tin của công dân, trách nhiệm giải trình,
công khai, minh bạch và PCTN là những nội dung có mối quan hệ biện chứng với
việc thực hiện vai trò của công dân trong PCTN. Một số tác giả khác cũng có đề cập

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status