MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục có ý nghĩa phổ biến, giáo dục làm cho con người mở mang tri
thức, hình thành đầy đủ ba mặt của nhân cách: nhân, trí, dũng. Khổng Tử nhà giáo dục tiêu biểu của Trung Quốc cổ đại (554 – 479 TCN) đã đánh giá
rất cao vai trò của giáo dục. Giáo dục là con đường duy nhất, cần thiết đối với
mọi người, giúp họ hiểu được đạo lý sống trong trời đất – tức là cách cư xử
với tự nhiên, với xã hội và với con người. Ông cho rằng con người là bẩm thụ
thiêng liêng của trời đất nhưng không được học tập thì không biết đạo lý làm
người cũng như viên ngọc vốn là sản phẩm quý hiếm nhưng không được mài
dũa thì không thể trở thành đồ dùng có giá trị được“Ngọc bất trác bất thành
khí, nhân bất học bất tri lý” – Lễ kí. Khổng Tử cho rằng nhờ có học, cái đức
sáng càng sáng thêm, người ta càng ngày càng mới hơn, đạt đến cõi chí thiện
mới thôi“Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện”
– Đại học. Theo Khổng Tử, việc giáo dục còn là một nhiệm vụ vô cùng quan
trọng của quốc gia, góp phần văn minh, cường thịnh của dân tộc, những người
nắm quyền chính trị, quản lý phải quan tâm.
Giáo dục nước ta hiện nay đang phát triển trong bối cảnh thế giới có
nhiều thay đổi nhanh chóng và phức tạp. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về
giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu. Cách mạng khoa học công nghệ, công
nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ,
tác động trực tiếp đến sự phát triển nền giáo dục của thế giới trong đó có giáo
dục nước nhà.
Trong Nghị quyết 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XI với nội dung Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Đảng và
1
Nhà nước ta đã xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: Tạo chuyển biến
trường Trung học đạt chuẩn Quốc gia theo Quyết định số: 5788/QĐ-UB ngày
07 tháng 11 năm 2014 của Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội. Nhiều năm
liền, nhà trường đã đạt danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc”, được nhận Cờ
thi đua của UBND thành phố Hà Nội, Bằng khen của Uỷ ban nhân dân Thành
phố, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Huân chương lao động hạng Ba…
Tuy nhiên, đứng từ góc độ khoa học, công tác quản lý, chỉ đạo hoạt
động dạy học của người Hiệu trưởng theo tiếp cận phát triển năng lực người
học tôi nhận thấy:
Thứ nhất: Một hiệu trưởng muốn quản lý hoạt động chuyên môn tốt
phải là một hiệu trưởng có chuyên môn giỏi, giỏi ở mọi lĩnh vực chuyên môn,
phải thực sự là cốt cán của chuyên môn. Hiệu trưởng phải là người làm mẫu
rồi hướng dẫn, giúp đỡ, tư vấn cho từng giáo viên. Muốn vậy, người hiệu
trưởng cần phải không ngừng học tập, nghiên cứu tài liệu chuyên môn. Sự
tinh thông của hiệu trưởng ở tất cả các môn học sẽ là đòn bẩy tốt nhất về
chuyên môn về hoạt động dạy học cho giáo viên trong nhà trường. Những
kiến thức chuyên môn cùng với những hiểu biết xã hội và kinh nghiệm nghề
nghiệp, tâm huyết nhà giáo sẽ giúp đỡ rất nhiều cho thế hệ trẻ trưởng thành.
Hiệu trưởng khi đã thực sự quyết tâm và tâm huyết về chuyên môn thì sẽ
truyền được sự say mê cho giáo viên để từ đó giáo viên sẽ truyền cảm hứng
sang cho phụ huynh và học sinh.
Thứ hai: Để hoạt động dạy học có hiệu quả, người hiệu trưởng phải có
tầm nhìn, có trực cảm. Đó là khả năng hình dung về một trạng thái tốt hơn của
tập thể. Đó là khả năng nhạy bén trước mọi thay đổi của hoàn cảnh, khả năng
nhạy cảm trong phân tích, xem xét một tình huống, dự đoán trước được
những thay đổi, nhanh chóng chuyển hướng hoạt động, đôi khi đón đầu hoàn
cảnh. Muốn làm được việc này, người lãnh đạo phải biết được chiều hướng
3
nối kết được các nguồn lực bên trong của tổ chức với các cơ hội và nguy cơ
trong môi trường bên ngoài của tổ chức. [8]
Những yếu tố này chính là lý do để tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Biện pháp quản lý dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực người học ở
trường THCS Phú Diễn – Quận Bắc Từ Liêm – Thành phố Hà Nội” với
mong muốn nâng cao hiệu quả quản lý các hoạt động dạy học theo hướng đổi
mới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng đòi hỏi của
thực tiễn chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới.
2. Mục đích nghiên cứu
Đây là đề tài mà bản thân tôi đã có nhiều nghiên cứu, nung nấu trên cơ
sở những mâu thuẫn giữa thực trạng với những yêu cầu mới đòi hỏi cần phải
được giải quyết nhanh chóng, kịp thời. Quá trình vận dụng, tôi nhận thấy
những giải pháp đưa ra áp dụng đã đem lại hiệu quả trong công tác quản lý
với cơ sở mình. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý của Hiệu
trưởng trường THCS Phú Diễn – quận Bắc Từ Liêm – thành phố Hà Nội, tôi
chọn đề tài này mong muốn được trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ, góp thêm
kinh nghiệm của cá nhân mình nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dạy học theo
tiếp cận phát triển năng lực người học ở trường THCS.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực người học ở
trường THCS Phú Diễn – quận Bắc Từ Liêm – Thành phố Hà Nội.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Tác động của các biện pháp quản lý dạy học theo tiếp cận phát triển
năng lực người học ở trường THCS Phú Diễn – quận Bắc Từ Liêm – Thành
phố Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học
5
Là phương pháp quan sát thực tế, điều tra các đối tượng để phân tích,
tổng hợp về thực trạng công tác quản lý dạy học ở trường THCS Phú Diễn –
quận Bắc Từ Liêm – Thành phố Hà Nội.
7.3. Nhóm các phương pháp hỗ trợ khác
- Phương pháp chuyên gia (lấy ý kiến về những biện pháp mà đề tài đề
xuất).
- Phương pháp quan sát (thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu
bằng cách quan sát , tri giác trực tiếp hoạt động dạy học của giáo viên và học
sinh).
- Phương pháp thống kê toán học, xử lý các thông tin, số liệu thu thập
được.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc nội
dung chính của luận văn gồm có 3 chương
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý dạy học theo tiếp cận phát triển
năng lực người học ở trường THCS.
Chương 2. Thực trạng quản lý dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực
người học ở trường THCS Phú Diễn – quận Bắc Từ Liêm – Thành phố Hà
Nội.
Chương 3. Đề xuất các biện pháp quản lý dạy học theo tiếp cận phát
triển năng lực người học ở trường THCS Phú Diễn – quận Bắc Từ Liêm –
Thành phố Hà Nội.
Kết luận và khuyến nghị danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
7
chính thống của người dân Trung Hoa. Quản Trọng cũng cho rằng phúc lợi
của dân là nền tảng nước nhà. Người dân no đủ sẽ dễ dàng tiếp thụ sự chính
trực và lễ nghĩa, theo đó mới dễ dàng cai quản. Ông chủ trương: nhà vua cần
quan tâm đến sự phát đạt của tất cả mọi tầng lớp xã hội, đảm bảo người dân ai
cũng no cơm ấm áo, sẵn lòng phụng sự ngôi rồng. Ông tin rằng bốn cột trụ
của một nước là lễ nghi, công bằng, chính trực và lương tâm. Thân làm lãnh
đạo phải tuân theo nếp sống này và trở thành một tấm gương đạo đức cho dân.
Khổng Tử (554 – 479 TCN) với học thuyết Lễ trị đã đề cao sự cai trị bằng đạo
đức, sự chính xác của các mối quan hệ xã hội , sự công bằng và ngay thẳng.
Đến thời kì cận đại, quản lý dần tách khỏi triết học và trở thành một
khoa học độc lập. Thời kì này đánh dấu sự xuất hiện của nhiều thuyết quản lý
mới tương ứng với sự ra đời của xã hội công nghiệp. Henry Fayol (1841 –
1925) nhà đại diện xuất sắc nhất của thuyết quản lý hành chính, người được
mệnh danh là “Taylor của Châu Âu” cho rằng quản lý là hoạt động cơ bản,
là chức năng của nhà quản lý giữ vai trò là hoạt động kết nối, phát huy thế
mạnh và thúc đẩy các hoạt động khác phát triển. Ông nhấn mạnh nhà quản lý
phải giỏi về quản lý hành chính và người công nhân phải giỏi về kỹ thuật.
Ông đã nghiên cứu và đưa ra kết luận rằng: Sự thành công của nhà quản lý là
do phương pháp quản lý và những nguyên tắc quản lý của anh ta. Trong quan
niệm về quản lý của mình, ông đã đưa ra 5 chức năng của quy trình quản lý
là: Dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp, kiểm tra. Đại diện
cho thuyết tổ chức trong tổ chức và quản lý là Max Weber và Chester
Barnard. Họ là những người sáng lập ra mô hình tổ chức để quản lý các doanh
nghiệp lớn với yếu tố chủ yếu là sự phân công, sắp xếp rõ ràng từng vị trí, lựa
chọn nhân lực nghiêm ngặt, lương thưởng và đề bạt hợp lý. Thuyết hành vi
trong quản lý có H.Simon và Douglas MC Gregor với sự vận dụng khoa học
tâm lý vào quản lý.[10]
9
quan tâm nghiên cứu, tìm ra những biện pháp quản lý hoạt động dạy học có
hiệu quả nhẵm thực hiện thành công mục tiêu giáo dục. Nhiều nhà nghiên cứu
như Hà Thế Ngữ, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Đức Minh, Phạm Minh Hạc,
Nguyễn Văn Lê…đã vận dụng lý luận của quản lý trường học Xô Viết vào
thực tế nhà trường Việt Nam, xây dựng lý luận quản lý hoạt động dạy học
trong điều kiện thực tiễn Việt Nam. Ở các công trình nghiên cứu này, các tác
giả đã nêu lên những nguyên tắc chung của việc quản lý hoạt động dạy học,
chỉ ra các biện pháp quản lý vận dụng trong quản lý trường học, quản lý giáo
dục. Các tác giả đều cho rằng việc quản lý hoạt động dạy học là nhiệm vụ
trọng tâm của người Hiệu trưởng trọng việc thực hiện mục tiêu đào tạo. Trong
thời gia gần đây, nhiều Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ đã cho ra đời những tài
liệu có giá trị lớn trong lĩnh vực quản lý giáo dục: Những vấn đề cơ bản của
Khoa học quản lý giáo dục - Trần Kiểm, Bài giảng Lý luận chung về quản lý
và quản lý giáo dục – Trần Quốc Thành, Quản lý văn hóa tổ chức - Nguyễn
Vũ Bích Hiền, Bài giảng Quản lý nhà nước về giáo dục – Nguyễn Xuân
Thanh….
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý
Nguồn gốc phát triển loài người là lao động của cá nhân và lao động
chung. C. Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao
động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần
đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những
chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất... Một
người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần
phải có nhạc trưởng”. [5]Lao động chung cần có tổ chức và thống nhất nhằm
tạo ra sức mạnh để đạt được mục đích chung. Trong lịch sử phát triển loài
người xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức - điều khiển
đề ra.
14
Chức năng kiểm tra: quản lý mà không có kiểm tra thì coi như không
có quản lý. Kiểm tra là thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý. Theo tác
giả Lưu Xuân Mới “Chức năng quản lý của kiểm tra là đo lường và điều
chỉnh việc thực hiện nhằm bảo đảm rằng các mục tiêu, các kế hoạch vạch ra
để đạt tới mục tiêu đang được hoàn thành …Từ đó tìm ra những biện pháp
động viên, giúp đỡ, uốn nắn và điều chỉnh. Kiểm tra là chức năng đích thực
của quản lý, là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình quản lý, giúp người
quản lý hình thành cơ chế điều chỉnh theo hướng đích”.
Ngoài ra, trong chu trình quản lý, chủ thể phải sử dụng thông tin như
một công cụ hay chức năng đặc biệt để thực hiện các chức năng trên. Người
quản lý phải luôn nắm bắt thông tin, xử lý thông tin và tiến hành việc quản lý
theo bốn chức năng trên để dẫn dắt tổ chức, hệ thống để đến được mục tiêu
cần đạt được trên cơ sở thông tin là mạch máu của quản lý.
1.2.2. Hoạt động dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực người học
1.2.2.1. Khái niệm dạy học: Trong nhà trường phổ thông, dạy học là
con đường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển
nhân cách con người mới.
Tiếp cận từ góc độ giáo dục học thì dạy học-một bộ phận của quá trình
tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn: là quá trình tác động qua lại giữa giáo
viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kĩ
năng, kĩ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn để trên cơ sở đó hình thành thế
giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng các phẩm chất của nhân
cách người học. Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức
và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực
hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kĩ
năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác);năng lực công cụ (bao gồm năng lực tính
toán, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin).
16
Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng
tất cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua
học tập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống.
1.2.2.3. Hoạt động dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực người học:
là hoạt động dạy học quan tâm đến việc học sinh vận dụng được cái gì qua
việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện dạy học sinh cách học,
cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm
chất. Cần tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực
xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn
học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát
triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp. Phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử
dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin...), trên cơ sở đó trau
dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một
cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học
để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm
bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với
sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên” [ ].
Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức
dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có
những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp,
học ở ngoài lớp... Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành
để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào
thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học. Cần sử dụng đủ và hiệu quả các
trường THCS
18
Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm
thoại, luyện tập… để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng.
Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên
trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật
của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật đặt các
câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong
luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn
chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết
hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực
nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học
giải quyết vấn đề.
Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học. Việc phối hợp đa dạng các
phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương
hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học.
Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình
thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những
chức năng riêng. Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng
phương pháp thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc
nhóm. Trong thực tiễn dạy học ở trường trung học hiện nay, nhiều giáo viên
đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kết hợp thuyết trình của giáo viên với hình
thức làm việc nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh.
Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc
giải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có
những hình thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể
chiếm một hoặc nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp chuyên biệt như
trong mối tương tác xã hội của việc học tập. Các chủ đề dạy học phức hợp là
những chủ đề có nội dung liên quan đến nhiều môn học hoặc lĩnh vực tri thức
khác nhau, gắn với thực tiễn. Trong nhà trường, các môn học được phân theo
20
các môn khoa học chuyên môn, còn cuộc sống thì luôn diễn ra trong những
mối quan hệ phức hợp. Vì vậy sử dụng các chủ đề dạy học phức hợp góp phần
khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn của các môn khoa học chuyên môn, rèn
luyện cho học sinh năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, liên môn.
Phương pháp nghiên cứu là một phương pháp dạy học điển hình của dạy học
theo tình huống, trong đó học sinh tự lực giải quyết một tình huống điển hình,
gắn với thực tiễn thông qua làm việc nhóm. Vận dụng dạy học theo các tình
huống gắn với thực tiễn là con đường quan trọng để gắn việc đào tạo trong
nhà trường với thực tiễn đời sống, góp phần khắc phục tình trạng giáo dục hàn
lâm, xa rời thực tiễn hiện nay của nhà trường phổ thông. Tuy nhiên, nếu các
tình huống được đưa vào dạy học là những tình huống mô phỏng lại, thì chưa
phải tình huống thực. Nếu chỉ giải quyết các vấn đề trong phòng học lý thuyết
thì học sinh cũng chưa có hoạt động thực tiễn thực sự, chưa có sự kết hợp
giữa lý thuyết và thực hành.
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho
hoạt động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong quá
trình học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản
phẩm hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động
tay chân. Đây là một quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể.
Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trong cho việc thực
hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động,
nhà trường và xã hội. Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của dạy
học định hướng hành động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm
Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn. Phương pháp dạy
học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học, việc sử dụng các
phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn.
Các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận
dạy học bộ môn. Ví dụ: Thí nghiệm là một phương pháp dạy học đặc thù quan
22
trọng của các môn khoa học tự nhiên; các phương pháp dạy học như trình
diễn vật phẩm kỹ thuật, làm mẫu thao tác, phân tích sản phẩm kỹ thuật, thiết
kế kỹ thuật, lắp ráp mô hình, các dự án là những phương pháp chủ lực trong
dạy học kỹ thuật; phương pháp “Bàn tay nặn bột” đem lại hiệu quả cao trong
việc dạy học các môn khoa học...
Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh. Phương pháp
học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát
huy tính sáng tạo của học sinh. Có những phương pháp nhận thức chung như
phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm
việc, phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học tập chuyên
biệt của từng bộ môn. Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học
sinh các phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập riêng trong
bộ môn.
Chương trình giáo dục định hướng năng lực (định hướng phát triển
năng lực) nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra đã trở thành xu
hướng giáo dục quốc tế. Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất
lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các
phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình
huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình
huống.
Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào
chuẩn: đến một thời điểm nào đó, học sinh có thể/phải đạt được những gì?
Để hình thành và phát triển năng lực, ta cần phải hiểu được rằng thực tế
có nhiều loại năng lực: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng
lực xã hội, năng lực cá thể. Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô
tả là sự kết hợp của 4 năng lực trên phù hợp với 4 trụ cột giáo dục theo
UNESCO: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng
định. Học sinh trung học cơ sở phải hình thành và phát triển được những biểu
hiện về phẩm chất và năng lực cụ thể như sau:
24
BẢNG 1.1.
CÁC BIỂU HIỆN PHẨM CHẤT CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
(Kèm theo Công văn số 4669/BGDĐT-GDTrH, ngày 10 tháng 9 năm 2015)
Phẩm
chất
Biểu hiện
a) Yêu Tổ quốc: Có ý thức tìm hiểu và gìn giữ các truyền thống tốt
đẹp của dân tộc Việt Nam; quan tâm đến những sự kiện chính trị,
thời sự nổi bật ở địa phương, trong nước và quốc tế.
b) Giữ gìn, phát huy truyền thống gia đình Việt Nam: Yêu mến,
quan tâm, giúp đỡ các thành viên gia đình; giữ gìn và phát huy truyền
1. Sống yêu thương
thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ; thực hiện trách nhiệm đối với gia
đình.