A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với việc phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội bức
xúc, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng hoàn thiện Nhà nước cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách nền hành chính. Hoạt
động thanh tra đã góp phần tăng cường pháp chế, thiết lập kỷ cương xã hội,
bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, cơ quan,
tổ chức thông qua đó nâng cao hiệu quản quản lý trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hằng năm, ngành thanh tra đã tiến hành hàng ngàn cuộc thanh tra, tập
trung vào nhiều lĩnh vực, tham mưu giúp Thủ trưởng cơ quan hành chính
nhà nước các cấp giải quyết được hàng ngàn vụ việc khiếu nại, tố cáo.
Thanh tra nhân dân là một bộ phận của ngành thanh tra. Ban thanh tra nhân
dân ở cơ sở - tổ chức thanh tra của quần chúng, có vai trò quan trọng trong
quản lý xã hội cấp cơ sở, là phương thức thực hiện quyền dân chủ trực tiếp ở
cơ sở.
Bồ Lý là một xã thuộc huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc, theo Pháp lệnh
thanh tra ban hành ngày 01/4/1990, Ban thanh tra nhân dân ở đây đã được
thành lập và đi vào hoạt động khá tốt và ổn định. Tuy nhiên, trong điều kiện
phát triển nền kinh tế thị trường, công tác quản lý các hoạt động về kinh tế,
xã hội ở đây đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, bất cập. Tình trạng tiêu cực,
tham nhũng và nhiều tệ nạn còn diễn ra đòi hỏi yêu cầu phải tăng cường
công tác thanh tra nhân dân của Ban thanh tra nhân dân để giải quyết các
mâu thuẫn, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân. Xuất phát từ thực tế trên,
Tôi chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban thanh tra nhân dân
ở xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo trong giai đoạn hiện nay” làm tiểu luận Môn
Học.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
1
Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ V
Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX đã chỉ rõ: “Cấp cơ sở ở
xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống. Hệ
thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận
động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, phát huy mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống cộng
đồng dân cư”
Như vậy, có thể khái quát về cấp cơ sở như sau:
Thứ nhất, cấp cơ sở là cấp xã, phường, thị trấn, là đơn vị hành chính lãnh
thổ nhỏ nhất.
Thứ hai, cấp cơ sở là cấp hành chính thấp nhất trong hệ thống hành chính
của nước ta.
1.1.2. Quản lý xã hội cấp cơ sở
Trước hết, quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và
định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh
các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và
phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đặt ra.
Quản lý xã hội là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống xã hội. Xã
hội phát triển càng cao thì vai trò của quản lý xã hội càng lớn và nội dung
càng đa dạng, phong phú. Bởi theo Mác, quản lý là chức năng đặc biệt được
3
sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi
sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua
quản lý (con người điều khiển con người).
Như trên đã trình bày, cấp cơ sở là một cấp hành chính trong hệ thống
hành chính của nhà nước ta, cấp cơ sở như một xã hội thu nhỏ, một đơn vị
Uỷ ban Nhân dân (UBND) cấp cơ sở có trách nhiệm thông báo cho Ban
thanh tra nhân dân biết các Nghị quyết của Hội Đồng nhân dân (HĐND),
quyết định của HĐND cấp cơ sở và xem xét, giải quyết kịp thời các kiến nghị
của Ban TTND; tạo điều kiện thuận lợi và phương tiện cần thiết cho ban
TTND hoạt động… Xử lý nghiêm khắc các hành vi cản trở hoạt động của các
uỷ viên Ban TTND.
1.2. Nội dung của Ban thanh tra nhân dân cấp cơ sở
1.2.1. Về cơ cấu tổ chức
Được quy định tại Điều 58, Luật Thanh tra 2004.
Ban TTND ở xã phường, thị trấn do Hội nghị nhân dân hoặc Hội nghị
đại biểu nhân dân ở thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố bầu ra. Việc bầu ra thành
viên Ban thanh tra nhân dân phải căn cứ vào địa bàn, số lượng dân cư ở xã,
phường, thị trấn.
Số lượng thành viên Ban TTND được bầu có thể từ 05 đến 11 người.
Thành viên của Ban TTND không thể là người đương nhiệm trong UBND xã,
phường, thị trấn. Quy định này nhằm đảm bảo hoạt động của Ban thanh tra
nhân dân có hiệu quả, đảm bảo nguyên tắc khách quan, độc lập trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ của thành viên Ban TTND.
Trong một nhiệm kỳ, thành viên Ban TTND không hoàn thành nhiệm
vụ hoặc không còn được nhân dân tín nhiệm thì Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam xã, phường, thị trấn đề nghị Hội nghị nhân dân hoặc hội nghị
đại biểu nhân dân đã bầu ra thành viên đó bãi nhiệm và bầu ra người khác
thay thế.
5
1.2.2. Về nhiệm vụ, quyền hạn
Khác với thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan
nhà nước, hoạt động mang tính quyền lực của Nhà nước, thanh tra nhân dân là
được xây dựng căn cứ vào Nghị quyết của HĐND hoặc Nghị quyết Hội
nghị công nhân, viên chức, Hội nghị đại biểu công nhân, viên chức và sự
chỉ đạo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hoặc ban chấp
hành công đoàn cơ sở.
- Ban TTND có trách nhiệm báo cáo với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cùng cấp hoặc Ban chấp hành công đoàn cơ sở về kết quả hoạt động
của mình.
Hoạt động của Ban TTND bao gồm:
- Giám sát chính quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân, tổ chức.
- Tiếp dân; lắng nghe phản ánh của nhân dân.
- Nắm tình hình, xác minh, theo dõi.
- Trao đổi trong Ban TTND và Mặt trận Tổ quốc.
- Kiến nghị HĐND, UBND vừa bằng hình thức phát biểu, vừa bằng văn bản.
- Theo dõi việc giải quyết của chính quyền.
- Tham gia trong các đoàn kiểm tra của Thanh tra nhà nước
1.3. Vai trò của Ban TTND trong quản lý xã hội cấp cơ sở
Vai trò của Ban TTND là giám sát cơ quan chính quyền, người điều
hành, quản lý, thực thi các văn bản pháp luật và ban hành các văn bản pháp
quy cấp cơ sở.
Ban TTND được thành lập ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước để
giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo,
việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, góp phần phát huy dân chủ, đấu tranh
chống tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
cơ quan, tổ chức.
Ban TTND vừa là tổ chức thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của nhân
dân ở cơ sở, vừa là tổ chức thực hiện quyền kiểm tra có tính nhà nước đối
7
định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, nhân dân tuyệt đối tin tưởng vào sự
lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền.
Tuy vậy, Bồ Lý là xã thuộc huyện miền núi, có diện tích đất đai rộng
nhưng địa hình khá phức tạp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa phát
triển, quy mô kinh tế còn nhỏ, có cấu kinh tế còn nhiều lạc hậu đặc biệt là
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông – lâm ngiệp còn chậm và
chủ yếu là phụ thuộc vào thiên nhiên; đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều
khó khăn. Đây cũng là vấn đề đặt ra cho các cấp uỷ đảng, chính quyền xã
cần đẩy mạnh công tác nghiệp vụ và hoạt động của Ban thanh tra nhân
dân, phản ánh tốt hơn mọi mặt đời sống của nhân dân, giúp ổn định tình
hình kinh tế - xã hội
9
2.2. Thực trạng của Ban thanh tra xã Bồ Lý
2.2.1. Về tổ chức
Ban TTND xã Bồ Lý nhiệm kỳ (2010-2013) gồm có 01 Trưởng ban, 01
phó ban và 09 thành viên được phân công phụ trách từng thôn theo địa bàn
dân. Tháng 12/2010, thực hiện Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-KHĐTUBMTTW-TC ngày 04/12/2006 của Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Ủy Ban Trung
Ương Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Tài Chính về thực hiện Quyết định
số 80/2005/QĐ-TTg về quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng, Ban TTND
xã Bồ Lý đề nghị và được Uỷ ban Mặt trận xã ra Quyết định công nhận Ban
TTND kiêm thêm nhiệm vụ Giám sát đầu tư cộng đồng (GSĐTCĐ). Từ đó,
Ban TTND tiếp tục bầu bổ sung thêm 01 Phó trưởng ban. Tất cả thành viên
Ban TTND kiêm GSĐTCĐ được tập huấn kỹ năng nghiệp vụ tại huyện.
Trong suốt nhiệm kỳ qua, Ban TTND kiêm GSĐTCĐ đã kịp thời phát hiện
những thiếu sót kiến nghị cho Ủy ban nhân dân giải quyết, góp phần xây
dựng Đảng, Chính quyền trong sạch, vững mạnh, thúc đẩy kinh tế - xã hội
tiếp tục phát triển, trật tự xã hội trên địa bàn từng bước ổn định.
tông hoá giao thông nông thôn, chế độ người có công, cấp gạo cho hộ khó
khăn trong dịp Tết; giám sát áp giá đền bù, tái định cư, xây dựng đường và
cống thoát nước khu tái định cư, các công ty gây ô nhiễm nguồn nước sinh
hoạt và sản xuất, đồng thời bồi lấp mương tưới tiêu, việc lập thủ tục đề nghị
cấp giấy quyền sử dụng đất, việc đóng góp tiền, vật lực của dân để xây dựng
giao thông nông thôn, thu chi ngân sách và các nguồn quỹ đóng góp của dân,
giám sát việc bình xét hộ đói nghèo năm 2010 – 2013…
Qua giám sát, phát hiện kiến nghị cho UBND và các ngành hữu quan
đã kiểm tra, xử lý, giải quyết được nhiều vụ việc, tạo được niềm tin, giảm
khiếu nại đông người, điển hình các vụ việc như: Chi trả tiền hỗ trợ xây
dựng nhà văn hoá thôn; xử lý phạt hành chính 2.000.000 đồng về việc xây
dựng nhà trái phép; buộc công ty khai thác đất cao lanh đền bù cho nhân
dân là 21.000.000đ để khắc phục ô nhiễm nước sinh hoạt; giải quyết tranh
chấp cây cối, thu hồi lại cho người bị hại 350.000đ...
11
Ban TTND xã giám sát việc xây dựng các công trình “Nhân dân làm,
Nhà nước hỗ trợ” như xây dựng đường giao thông nông thôn, Nhà văn hoá
thôn Tân Lập, Nghĩa Lý , Bồ Trong...cũng như các công trình phúc lợi phục
vụ dân sinh, giám sát cơ chế hành chính liên thông “một cửa”. Giám sát việc
thực hiện lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND và
UBND xã, giám sát việc chuyển tải các chủ trương, chính sách của Đảng,
Nghị quyết HĐND xuống dân. Nhìn chung, cán bộ từ xã đến thôn luôn giữ
mối quan hệ mật thiết với nhân dân, luôn phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, tạo được sự đồng thuận trong việc thực hiện chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, mà cụ thể việc lấy phiếu tín nhiệm vừa qua
các đồng chí Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, UBND xã đều đạt 98-100%
phiếu tín nhiệm. Tuy nhiên gần đây do áp lực khối lượng công việc nhiều nên
hội, hạn chế xảy ra khiếu kiện đông người.
Với tinh thần trách nhiệm, Ban TTND xã Bồ Lý đã duy trì tốt việc tổ
chức và phân công từng thành viên phụ trách hoạt động theo địa bàn dân
cư. Được tập huấn công tác giám sát nên khắc phục được tình trạng bị
động, lúng túng, hiệu quả giám sát được nâng lên. Đồng thời, được sự lãnh
đạo của các cấp uỷ Đảng; sự phối hợp, quan tâm tạo điều kiện của HĐND,
UBND; Ban Thường Trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã luôn
hướng dẫn đôn đốc và Ban Công tác Mặt trận thôn thường xuyên giữ mối
liên hệ. Hoạt động của Ban TTND bám sát được chương trình, nhiệm vụ
trọng tâm của xã như xây dựng cơ sở hạ tầng, áp giá đền bù, giải phóng
mặt bằng..., thường xuyên giao ban phản ảnh tình hình kịp thời hạn chế
khiếu kiện và không phát sinh điểm nóng.
Thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, giải thích
chính sách cho nhân dân. Các kiến nghị, phản ánh của công dân đều được
phân loại, xử lý và giải quyết kịp thời.
* Nguyên nhân của những ưu điểm và kết quả đạt được
Có được những kết quả trên, trước hết là do sự phối hợp giữa chính
quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo được chú trọng.
13
Công tác vận động, giáo dục, thuyết phục, hoà giải, thực hiện Quy chế
dân chủ ở cơ sở được tăng cường, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của
nhân dân, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Ban TTND và
công tác thanh tra trong địa bàn xã Bồ Lý.
2.3.2. Hạn chế
Về thực hiện Luật Khiếu nại, tố cáo còn hạn chế, viêc tiếp dân, tiếp nhận
các vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền phải giải quyết còn chậm, giải
quyết không kịp thời, dứt điểm. Có biểu hiện đùn đẩy, né tránh, giải quyết
động được sự hợp tác của nhân dân nên số nguồn tin do nhân dân cung cấp
còn ít.
Mặt khác, một số thành viên Ban TTND vì điều kiện kinh tế khó khăn,
nên ít tham gia công tác giao ban, trực báo, định kỳ, đột xuất, nội dung báo
cáo còn chung chung chưa đảm bảo yêu cầu của hoạt động.
Chưa xây dựng quy chế phối hợp giữa TTND với Ban công tác Mặt trận,
nên có lúc, có nơi một số Trưởng ban công tác Mặt trận chưa thực sự coi
thanh tra nhân dân là đại diện cho mình để đôn đốc, hướng dẫn, vì thế hoạt
động giám sát của TTND còn hạn chế.
15
CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA BAN THANH TRA NHÂN DÂN Ở XÃ BỒ LÝ HUYỆN TAM ĐẢO
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. Quan điểm của Đảng về hoạt động của Ban thanh tra nhân dân
ở xã, phường, thị trấn.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
chọn, nhân dân Việt Nam đã thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân chủ nhân
dân, giành chính quyền về tay mình và đã xây dựng nên Nhà nước Việt Nam
độc lập, tự do.
Đảng ta nhận định rằng Ban TTND là tổ chức giám sát của quần chúng, có
nhiệm vụ giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ,
viên chức nhà nước nhằm mục đích xây dựng Nhà nước Việt Nam ngày càng
lớn mạnh. Nhờ đó, các thói quan liêu, thiếu trách nhiệm sẽ được hạn chế dần; tệ
tham nhũng sẽ bị triệt phá tận gốc, khiến cho bộ máy nhà nước trong sạch hơn.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban TTND là giải pháp hữu hiệu nhằm tăng
cường hiệu lực của bộ máy nhà nước, một trong các mục tiêu của công cuộc cải
Chú trọng đến việc áp giá đền bù, tái định cư, giải phóng mặt bằng, xây
dựng cơ bản, quản lý đất đai, tài chính, tài sản công, thực hiện tốt việc lấy
phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND và UBND, bầu cử
trưởng thôn, bầu cử HĐND 3 cấp, giám sát cán bộ công chức nhằm xây dựng
chính quyền trong sạch vững mạnh.
3.2.2. Nâng cao vai trò trách nhiệm của cán bộ xã, trưởng các ban,
ngành trong xã
Thực hiện tốt việc lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch
HĐND và UBND, bầu cử trưởng thôn, bầu cử HĐND 3 cấp, giám sát cán bộ
công chức nhằm xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh.
3.2.3. Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
Ban TTND cần thiết lập được nhiều mối quan hệ mà mối quan hệ gắn bó
nhất là với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cơ sở. Từ giai đoạn thành lập cho đến
khi hoạt động, Mặt trận Tổ quốc cơ sở đều chỉ đạo sát sao, coi Ban TTND
17
như một công cụ đắc lực của mình, góp phần thực hiện chức năng giám sát
của Mặt trận cơ sở. Nhiều nơi cấu tạo Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc cơ sở là
Trưởng ban TTND, vì vậy các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật nhà
nước mà Mặt trận Tổ quốc cơ sở nắm được đều truyền đạt, phổ biến kịp thời
cho Ban TTND.
Mặt trận tổ quốc cơ sở quan hệ với chính quyền xã, phường, thị trấn
nhằm tạo điều kiện, cơ sở vật chất như trụ sở, phương tiện tối thiểu làm việc
cho Ban, kiến nghị để Uỷ viên TTND có được thù lao công tác trong lúc chế
độ đãi ngộ cho Uỷ viên TTND chưa được quy định. Những kiến nghị của Ban
TTND được Mặt trận Tổ quốc cơ sở ủng hộ, bảo vệ trong các cuộc họp Hội
đồng nhân dân cùng cấp. Vì vậy cho thấy, nếu Mặt trận Tổ quốc xã, thị trấn
nào hoạt động mạnh thì hầu như nơi đó Ban TTND cũng hoạt động có hiệu
quả cao.
ra một số các điều kiện khác để các tổ chức đó hoạt động. Xét cho cùng thì
các hoạt động vì sự phát triển của xã hội đó chính là những hoạt động chia sẻ
trách nhiệm cùng Nhà nước trước các xu hướng phát triển xã hội đa dạng,
phức tạp, nếu chỉ mình Nhà nước sẽ không làm nổi.
19
C. KẾT LUẬN
Ban thanh tra nhân dân ở cơ sở có vai trò hết sức quan trọng. Thực hiện
tốt công tác thanh tra nhân dân của Ban thanh tra nhân dân thể hiện quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta trong việc tăng cường hoạt động giám sát của nhân
dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước, nhất là việc thực hiện nhiệm vụ
của đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước. Đồng
thời, tăng cường hoạt động của Ban thanh tra nhân dân thể hiện quan điểm
xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân của Đảng và Nhà nước ta,
trong đó mọi quyền lực của Nhà nước thuộc về nhân dân.
Xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc thời gian qua mặc dù Ban
thanh tra nhân dân hoạt động còn nhiều hạn chế, thiếu xót nhưng về cơ bản đã
thực hiện tốt đi vào quy củ và có nề nếp. Xã đã quán triệt đầy đủ ý nghĩa và
tầm quan trọng của Ban thanh tra nhân dân trong quá trình thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của các cấp, các ngành. Đây là việc vô cùng cần thiết. Từ đó,
có các biện pháp tích cực tạo điều kiện thuận lợi để các ban thanh tra nhân dân
hoàn thành nhiệm vụ, đưa hoạt động thanh tra nhân dân đạt chất lượng, hiệu
quả, xứng đáng với vai trò, vị trí của các Ban thanh tra nhân dân góp phần thực
hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo xây dựng đất nước
phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh./.
20