1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hen phế quản là một trong những bệnh lý hô hấp mãn tính hay gặp nhất
ở trẻ em. Đặc biệt tỷ lệ mắc hen phế quản có xu hướng gia tăng trong những
thập niên gần đây. Theo tổ chức y tế thế giới, trên thế giới có khoảng 300 triệu
người bị hen và khoảng 250 nghìn người chết vì hen trong năm 2005 . Theo
Hiệp hội hô hấp Hoa Kỳ (American Lung Asociation), khoảng 34,1 triệu
người Mỹ, trong số đó có 9 triệu trẻ em được chẩn đoán HPQ, con số này
ngày càng tăng và đặc biệt ở trẻ em dưới 6 tuổi . Theo hiệp hội Hen và dị ứng
trẻ em-ISADS (International study of Asthma and Allenagies in Children) tỷ lệ
mắc hen phế quản ở trẻ em rất dao động từ 3-20% tại các nước. Một số nghiên
cứu gần đây tại tại Việt Nam cho thấy hen phế quản ở trẻ em đang có xu hướng
gia tăng, với tỷ lệ mắc dao động vào khoảng 7-11% .
Mặc dù chương trình khởi phát phòng chống Hen toàn cầu GINA
(Global Intiative for asthma) đã có nhiều thành tựu trong việc cải thiện chẩn
đoán và quản lý kiểm soát hen trên toàn cầu. Tuy nhiên hen phế quản ở trẻ em
còn gặp nhiều khó khăn trong chẩn đoán, đặc biệt là hen trẻ nhỏ. Sự đa dạng
về kiểu hình và các yếu tố gây khởi phát cơn hen kết hợp với sự khó khăn
trong việc thăm dò chức năng hô hấp-một trong chỉ số khách quan giúp chẩn
đoán hen thì rất khó thực hiện ở trẻ nhỏ. Trên thực tế lâm sàng, hầu hết các
bác sỹ dựa vaò triệu chứng lâm sàng, tiền sử bệnh và sự đáp ứng với thuốc
giãn phế quản và kháng viêm corticoid điều trị thử để chẩn đoán. Vì thế dẫn
đến hiện tượng một số trung tâm thì chẩn đoán quá mức hoặc một số nơi thì
bỏ sót chẩn đoán khiến trẻ bị tái phát cơn nhiều lần và sử dụng thuốc kháng
sinh không hợp lý. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật được ứng dụng vào
lĩnh vực y tế, trong đó có thăm dò chức năng hô hấp. Hiện nay một số cơ sở y
tế trong và ngoài nước đã ứng dụng kỹ thuật đo sức cản đường thở bằng hệ
2
Các triệu chứng này thay đổi theo thời gian và độ nặng nhẹ khác nhau đi kèm
với tình trạng giảm dòng khí thở ra .
Định nghĩa này đã đạt được sự đồng thuận dựa trên đặc điểm của hen
điển hình cũng như phân biệt với các bệnh lý hô hấp khác .
Hen phế quản là nguyên nhân hàng đầu khiến trẻ phải nghỉ học, phải đi
khám cấp cứu và phải nằm viện .
Hen phế quản là một bệnh lý không đồng nhất với những đặc điểm và
diễn biến bệnh khác nhau. Những trường hợp có chung một số đặc điểm về
lâm sàng và/hoặc cơ chế bệnh sinh được gọi là kiểu hình của hen. Một số thể
hen nặng hơn có thể được điều trị theo hướng dẫn điều trị của kiểu hình tương
ứng. Tuy nhiên vẫn chưa có mối liên quan rõ ràng giữa đặc điểm sinh lý bệnh,
triệu chứng lâm sàng và đáp ứng điều trị ở những kiểu hình này. Chính vì vậy,
cần thêm những nghiên cứu giúp hiểu rõ hơn về bệnh cảnh lâm sàng của hen
cũng như giúp phân loại kiểu hình của hen một cách phù hợp hơn , .
1.1.2. Vài nét về lịch sử bệnh hen
- Hen là một bệnh đã biết từ lâu đời. Cách đây khoảng 5000 năm, các
nhà y học cổ đại Trung Quốc, Hy Lạp, Ai Cập đã nói đến bệnh hen.
- Từ năm 2700 trước công nguyên, người ta đã sử dụng ma hoàng
(Ephedra) để chữa cơn khó thở.
4
- Sau này Hippocrat (năm 40 trước công nguyên) đề xuất và giải thích từ
“Asthma” (thở vội vã) để mô tả cơn khó thở kịch phát, có biểu hiện khò khè.
Đến thế kỷ thứ II công lịch hen phế quản mới được Aretanus mô tả chi tiết
hơn. Ông cho rằng hen là một bệnh mãn tính có chu kỳ, có ảnh hưởng của
thay đổi thời tiết và làm việc quá sức.
Từ thế kỷ III đến thế kỷ VIII do ảnh hưởng của tôn giáo nên việc nghiên
cứu về hen không được quan tâm nhiều.
- Van Helmont (1615) thông báo các trường hợp hen do ảnh hưởng của
Từ đó tới nay việc phòng và quản lý hen được chú ý và có nhiều tiến bộ
tuy nhiên còn chưa đồng đều giữa các nước, đặc biệt các nước khó khăn về
kinh tế và chăm sóc y tế ban đầu , , , , .
1.2. Dịch tễ học hen phế quản
1.2.1. Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong trên thế giới , .
Tỷ lệ mắc hen trên thế giới 20 năm trước là 0,5-6%, hiện nay tỷ lệ đó
tăng lên 5-10%. Tỷ lệ tử vong trước đây là 0,5-2% hiện nay là 2-3%. Cách
đây 10 năm cả thế giới có khoảng 150 triệu người hen, đến nay có khoảng
300 triệu người và dự đoán đến năm 2025 có 400 triệu người mắc hen trên
toàn thế giới.
Ở các nước phát triển (Mỹ, Anh, Australia, New Zealand) tỷ lệ mắc cao
gấp 8-10 lần so với các nước đang phát triển, nhóm người có thu nhập thấp
sống ở thành thị mắc bệnh nhiều hơn các nhóm người khác .
Theo một nghiên cứu Quốc tế về hen và dị ứng ở trẻ em, tỷ lệ mắc thay
đổi từ 3-20% ở nhiều nước khác nhau trên toàn thế giới. Các nước nói tiếng
Anh và các nước gần bờ biển, khí hậu ôn đới, cận nhiệt đới có tỷ lệ mắc hen ở
trẻ em cao nhất. Các nước đang phát triển hoặc các nước khí hậu nhiệt đới có
tỷ lệ mắc thấp hơn , .
6
Tỷ lệ mắc hen ở trẻ từ 6-7 tuổi chiếm từ 4-32%, từ 13-14 tuổi chiếm từ
2-26% tùy theo từng đất nước khác nhau, tỷ lệ mắc bệnh thấp ở các nước
đang phát triển và Tây Âu, tỷ lệ mắc cao hơn ở châu Mỹ La Tinh và các nước
nói tiếng Anh , .
Ở Mỹ, có khoảng 34,1 triệu người được chẩn đoán hen, theo trung tâm
dự phòng và kiểm soát bệnh (CDC) có khoảng 6,7% người lớn và 8,5% trẻ
em mắc hen từ năm 2001 đến 2003, tỷ lệ mắc tăng nhanh hơn 75% từ năm
1980 đến năm 1999. Số trẻ em phải nghỉ học và phải nhập viện do bệnh hen
nhiều hơn do các bệnh mạn tính khác, hầu hết trẻ em được chẩn đoán hen tại
Albani, Singapore.
Cùng với sự gia tăng của tỷ lệ mắc hen phế quản,tỷ lệ tử vong cũng tăng
rõ rệt,hàng năm có khoảng 20 đến 25 vạn người tử vong do hen, cứ 250 người
tử vong có một người tủ vong do hen .
1.2.2. Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở Việt Nam
Những năm cuối thế kỷ XX tỷ lệ dân số Việt Nam mắc hen phế quản
chiếm khoảng 5%. Tỷ lệ này ở trẻ em gia tăng từ 4% (năm 1984) lên 11,6%
(năm 1995) . Theo thống kê của Viện bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em, tỷ lệ hen
phế quản trẻ em điều trị nội trú tại viện là 4% và số lượng này tăng 30% từ
năm 1995 đến năm 1997 . Hen phế quản trở thành một bệnh phổ biến có tỷ lệ
mắc cao, ảnh hưởng đến sức khỏe, học tập, sinh hoạt của trẻ.
Tại Việt Nam năm 2011, ước tính có khoảng 4 triệu người. Tỷ lệ hen một
số vùng dân cư Hà Nội năm 1997 như quận Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Thanh
Xuân, Từ Liêm là 3,15%, trong đó trẻ dưới 15 tuổi chiếm 73% .
Một số tác giả nghiên cứu tỉ lệ hen ở Hà Nội, Hải Phòng, Hòa Bình, Lâm
Đồng, Nghệ An, Thành phố Hồ Chí Minh (2011), bằng phỏng vấn trực tiếp
theo mẫu 8038 người thì thấy tỷ lệ hen thấp nhất ở Lâm Đồng là 1,1%, Hòa
Bình là 5,35%, tỷ lệ hen trung bình là 4,1%. Những nghiên cứu gần đây của
khoa Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng Bạch Mai dự báo tỉ lệ mắc hen phế quản ở
8
nước ta là 6-7%. Tỉ lệ học sinh một số trường trung học phổ thông tại Hà Nội
năm 2006 là 8,7% .
Hiện nay chưa có số liệu thống kê chính xác về tỷ lệ mắc bệnh cũng như
tỷ lệ tử vong do hen, nhưng ước tính có tỷ lệ mắc khoảng 4-5% thì Việt Nam
có khoảng 4 triệu người bị hen và tỷ lệ tử vong chắc chắn không thấp. Lý do
tỷ lệ tử vong tăng là vì độ lưu hành hen tăng, phát hiện điều trị không kịp thời,
sử dụng thuốc không đúng, chủ quan coi nhẹ việc quản lý kiểm soát hen tại
cộng đồng .
trơn phế quản
đường thở
Yếu tố nguy cơ
(Gây cơn hen cấp)
Triệu chứng của Hen
9
Sơ đồ 1.1. Cơ chế bệnh sinh hen phế quản
Các quá trình bệnh lý trong hen phế quản.
Các quá trình bệnh lý trên kết hợp với các yếu tố nguy cơ từ môi
trường làm xuất hiện cơn hen cấp với các triệu chứng khó thở, khò khè,
ho và nặng ngực.
1.3.1. Viêm là quá trình chủ yếu trong cơ chế bệnh sinh của hen phế quản ,
,,.
- Viêm mãn tính niêm mạc đường thở với nhiều bạch cầu ái toan là nét đặc
trưng phân biệt giữa viêm của hen với viêm của bất kỳ bệnh lý hô hấp nào khác.
- Các tế bào gây viêm như đại thực bào, bạch cầu đa nhân trung tính,
bạch cầu ái toan, bạch cầu ưa kiềm, mastocyte, tế bào T và B, tế bào
monocyte, tiểu cầu…
- Nhiều Cytokin gây viêm được giải phóng từ đại thực bào, tế bào B như
IL4, IL5, IL6, 6MCSF (Granulocyte marcophage colony stimulating factor) gây
viêm dữ dội làm tổn thương vận chuyển nhung mao niêm mạc đường hô hấp.
10
Leucotrien B4 kéo bạch cầu ưa acid khi bị hoạt hóa sẽ sản xuất ra Leucotrien
AMPc nội tế bào gây phản xạ co thắt phế quản.
- Trong các tế bào và các chất hóa học trung gian gây viêm cần lưu ý vai
trò của leucotrien đó là những sản phẩm chuyển hóa của acid arachinodic theo
con đường 5 - lipooxygenase hình thành hai typ leucotriens: sulfido - peptid
và LTB4. Thực chất các sulfido - peptid là chất SRS - A gây phản ứng quá
mẫn chậm (Slow Reacting Subtance of Anaphylaxic) có tác dụng co thắt phế
quản rất mạnh.
- Prostagladin, đặc biệt là PGD2 là do mastocyt tiết ra thúc đẩy dự giải
phóng histamin từ basophil cũng chịu trách nhiệm về sự co thắt và gia tăng
tính phản ứng của phế quản. PAF cũng là một yếu tố làm co thắt phế quản.
1.3.3. Gia tăng tính phản ứng phế quản , .
Tăng tính phản ứng phế quản là đặc điểm quan trọng trong bệnh sinh hen
phế quản. Sự biến đổi tính phản ứng phế quản liên quan đến nhịp ngày đêm
của sức cản phế quản.
Tăng tính phản ứng phế quản làm mất cân bằng giữa hệ adrenergic và hệ
cholinergic dẫn đến tình trạng ưu thế thụ thể α và β, tăng ưu thế của GMPc
nội bào, biến đổi hàm lượng men phosphodiesterase nội bào, rối loạn chuyển
hóa prostaglandin.
Sự gia tăng tính phản ứng phế quản là cơ sở để giải thích dự xuất hiện
cơn hen phế quản do gắng sức, do khói các loại (khói bếp than, thuốc lá,
xăng,…), không khí lạnh và các mùi mạnh khác. Tăng tính phản ứng phế
quản được chứng minh bằng thử nghiệm acetylcholin hoặc methacholin.
12
1.3.4. Tái cấu trúc đường thở
Từ ba hiện tượng viêm, co thắt và tăng tính phản ứng phế quản dần dần
làm thay đổi hình thái tổ chức giải phẫu bệnh trong lòng phế quản của trẻ em
bị bệnh hen phế quản:
- Thâm nhiễm tế bào viêm (dưỡng bào, tế bào lympho T, bạch cầu ái
tăng. Hen khởi phát sớm ở trẻ nhỏ thường có xu hướng hen dị ứng. Trường hợp
khởi phát chậm ở trẻ lớn thường là hen không dị ứng hoặc kết hợp .
Tăng phản ứng đường thở: tăng phản ứng đường thở là tình trạng phế
quản bị co thắt quá nhanh và mạnh khi đáp ứng với tác nhân kích thích. Gen
chi phối tăng phản ứng đường thở nằm trên nhiễm sắc thể 5q gần vị trí gen
điều chỉnh lượng IgE trong huyết thanh .
Tuổi: hen phế quản thường gặp trẻ trên 1 tuổi: 80-90% trẻ có biểu hiện
hen trước 5 tuổi. Tới 30% trẻ có triệu chứng lúc 1 tuổi. Hen phế quản có thể
giảm nhẹ hoặc khỏi ở tuổi dậy thì , .
Giới: trước tuổi dậy thì bé trai bị hen phế quản nhiều hơn bé gái, sau tuổi
dậy thì thì trai và gái ngang nhau ,. Còn chưa rõ vì sao có sự khác biệt này,
tuy nhiên có điều đáng chú ý là khi sinh ra kích thước phổi bé trai nhỏ hơn bé
gái, nhưng đến khi trưởng thành phổi nam lại có kích thước lớn hơn nữ. Theo
một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bị hen phế quản khác nhau theo các lứa tuổi
và cũng khác nhau theo nơi sinh sống của trẻ. Ở Braxin, tỷ lệ hen phế quản ở
trẻ trai là 7,3%, ở trẻ gái là 4,9% cho lứa tuổi 6-7 tuổi, thì tỷ lệ hen là 9,8% ở
trẻ trai và 10,2% ở trẻ gái cho lứa tuổi 13-14 tuổi.
Béo phì: có một số bằng chứng cho thấy có sự tương quan giữa chỉ số
khối cơ thể (BMI) với nguy cơ tăng phát sinh bệnh hen. Một vài hóa chất
trung gian như leptin tăng cao trong béo phì có ảnh hưởng đến chức năng
đường thở và làm tăng nguy cơ khởi phát bệnh , , , .
1.4.2. Yếu tố môi trường
Là những yếu tố làm bệnh hen khởi phát ở những người có cơ địa hen,
chúng có tác dụng thúc đẩy cơn hen cấp hoặc làm triệu chứng nặng lên và kéo dài.
Yếu tố môi trường bao gồm các yếu tố dị nguyên .
14
Dị nguyên trong nhà:
Bụi nhà: thành phần bụi nhà rất phức tạp, có xác côn trùng, nấm mốc,
Nhiễm khuẩn đường hô hấp: các nhiễm khuẩn đường hô hấp có mối liên
quan chặt chẽ với hen phế quản. Những nhiễm khuẩn đường hô hấp do virus
là yếu tố thuận lợi khởi phát cơn hen ở trẻ em. Qua nghiên cứu người ta thấy
các virus hay gây bệnh đường hô hấp ở trẻ em là RSV, Rhinovirus,
Adenovirus, Influenza, Parainfluenza…trong đó RSV là loại virus hay gặp
nhất. Các virus đường hô hấp này có vai trò kích thích khởi phát cơn hen ở
người bị hen ,,.
Thức ăn, dùng thuốc, các chất khác:
Phản ứng dị ứng với thức ăn có thể là yếu tố khởi phát cơn khó thở,
trong đó các loại thức ăn giàu đạm: tôm, cua, cá, ốc, trứng, sữa, nhộng tằm,
các loại hải sản, lạc,… là những dị nguyên chính gây phản ứng dị ứng.
Các kháng sinh, Piperazin, Methydopa, Cimetidine, Sulfathiazone,…
nhưng Aspirin và các thuốc chống viêm non-steroid là nguyên nhân hay gặp
nhất. Trong trường hợp hen do Aspirin hay gặp tam chứng: khó thở, mày đay,
polyp mũi.
Ngoài ra, các chất bảo quản, chất nhuộm màu thực phẩm cũng có thể gây
ra cơn hen như Sulfite dùng để bảo quản trái cây khô.
Thời tiết: ở nước ta thay đổi thời tiết có tác động trực tiếp đến sự khó thở
của trẻ bị hen phế quản. Nóng quá, lạnh quá, ẩm ướt quá hoặc khi chuyển
mùa nhất là khi có gió mùa Đông - Bắc, nguy cơ lên cơn khó thở là rất lớn.
Ngoài ra tình trạng kinh tế xã hội, gia đình cũng tác động lên hen phế
quản. Theo nghiên cứu thì tỷ lệ hen ở các nước phát triển, ở các gia đình có
điều kiện mắc cao hơn các nước kém phát triển, con nhà nghèo.
16
1.5. Triệu chứng và chẩn đoán hen phế quản ở trẻ dưới 5 tuổi
Chẩn đoán hen ở trẻ dưới 5 tuổi rất khó khăn do có rất nhiều bệnh ở thời
kỳ này có biểu hiện gần giống với hen. Chẩn đoán hen phế quản ở trẻ dưới 5
tuổi chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng nghi ngờ hen, các yếu tố nguy cơ
Bệnh sử hoặc tiền
sử gia đình
Điều trị thử với
Corticosteroid
dạng hít liều thấp
và SABA khi cần
Đặc điểm gợi ý hen
- Ho khan tái đi tái lại hoặc dai dẳng,có thể trở nặng về
đêm hoặc đi cùng với một ít khò khè và khó thở,
- Ho xảy ra với vận động,cười,khóc hoặc phơi nhiễm
khói thuốc lá mà không có nhiễm trùng hô hấp rõ ràng.
- Khò khè tái đi tái lại,bao gồm lúc ngủ hoặc với các
yếu tố kịch phát như hoạt động,cười,khóc hoặc phơi
nhiễm khói thuốc lá hoặc ô nhiễm không khí.
- Xảy ra với vận động,cười hoặc khóc
- Không thể chạy,chơi hoặc cười ở cùng mức độ với
trẻ em khác,mệt sớm hơn trong lúc đi bộ(muốn được
bồng)
- Có bệnh dị ứng khác(viêm da dị ứng hoặc viêm mũi
dị ứng).
- Hen ở bà con trực hệ.
- Cải thiện lâm sàng trong 2-3 tháng điều trị với liều
thuốc kiểm soát và trở nặng khi ngưng điều trị.
Khò khè là âm thanh có âm sắc cao phát ra từ lồng ngực trong suốt thì thở
ra.Khò khè có thể xuất phát từ bất cứ vị trí nào của đường dẫn khí,do thông khí
chuyển dịch và phát ra âm thanh khi đi qua lỗ hẹp hoặc bị co thắt.Vì vậy,khò
khè là một trong những dấu hiệu của sự tắc nghẽn đường dẫn khí
Trên thực tế lâm sàng, bố mẹ bệnh nhân thường hiểu “khò khè” bao gồm
minh là có hiệu quả trong việc hỗ trợ chẩn đoán hen ở trẻ nhỏ.
Tương tự như IOS, đo nồng độ khí NO thở ra (FENO) là một kỹ thuật có
thể thực hiện ở trẻ nhỏ. Giá trị tham chiếu của FENO cho trẻ từ 1 đến 5 tuổi
19
cũng đã được công bố . Đo FENO đã được chứng minh là một kỹ thuật có thể
hỗ trợ chẩn đoán hen phế quản ở trẻ dưới 5 tuổi , đặc biệt là hen dị ứng. Không
khuyến cáo thường quy.
Không có xét nghiệm nào chẩn đoán chắc chắn hen ở trẻ em dưới 5 tuổi.
Bảng 1.2. Xét nghiêm cận lâm sàng:
Xét nghiệm
Ý nghĩa
Không khuyến cáo thực hiện thường quy.
X-Quang ngực
Chỉ định trong những trường hợp hen nặng hay có dấu
hiệu lâm sàng gợi ý chẩn đoán khác.
Những thăm dò có thể thực hiện nếu có điều kiện
Xét nghiệm lẩy da Sử dụng để đánh giá tình trạng mẫn cảm với dị nguyên. Xét
hay định lượng IgE nghiệm dị ứng dương tính giúp khả năng chẩn đoán hen.Tuy
đặc hiệu
nhiên, xét nghiệm âm tính cũng không loại trừ được hen.
Hội chứng tắc nghẽn đường dẫn khí có đáp ứng với
Hô hấp ký hay đo lưu
nghiệm pháp giãn phế quản (FEV1.PEFP tăng ít nhất 12%
lượng đỉnh (nếu trẻ có
và 200ml) (trẻ dưới 5 tuổi thường không thể thực hiện
khả năng hợp tác)
được).
Nặng hơn về đêm và sáng sớm
Xảy ra khi gắng sức, cười, khóc hay tiếp xúc
với khói thuốc lá, không khí lạnh, thú nuôi…
Xảy ra khi không có bằng chứng nhiễm khuẩn
hô hấp.
Có tiền sử dị ứng (viêm mũi dị ứng, chàm da)
Tiền sử gia đình (cha mẹ, anh chị em ruột)
hen, dị ứng.
Có ran rít/ngáy khi khi nghe phổi
Đáp ứng với điều trị hen.
Yếu tố ít gợi ý hen
Bất cứ dấu hiệu nào dưới
đây:
Các triệu chứng chỉ có khi
cảm lạnh.
Ho đơn thuần không kèm
khò khè, khó thở.
Nhiều lần nghe phổi bình
thường mặc dù bệnh nhi có
triệu chứng.
Có dấu hiệu/triệu chứng
gợi ý chẩn đoán khác.
Không đáp ứng với điều trị
hen thử (thuốc giãn phế
quản, các thuốc phòng
ngừa hen)
Lưu ý: triệu chứng khò khè phải được bác sỹ xác nhận do cha mẹ trẻ có
thể nhầm với bất kỳ tiếng thở bất thường nào khác.
Tần suất
khò khè
Thấp
Tuổi (năm)
Hình 1.1. Các kiểu hình khò khè ở trẻ em .
- Lưu ý: kiểu hình có thể thay đổi theo thời gian và theo điều trị. Phân
loại hen theo triệu chứng để giúp quyết định chọn lựa thuốc điều trị duy
trì.Phân loại hen theo thời gian giúp tiên đoán bệnh sau này.
Kiểu hình thay đổi theo thời gian và theo điều trị.
-Phân loại hen theo triệu chứng để giúp quyết định chọn lựa thuốc
1.5.5. Chỉ số tiên đoán hen (API): một tiêu chuẩn chính hoặc hai tiêu
chuẩn phụ.
22
Cần tham khảo thêm chỉ số tiên đoán hen(Asthma Predictive Index:API).
API (+) khi có 1 tiêu chuẩn chính hay 2 tiêu chuẩn phụ. Một trẻ dưới 3 tuổi có
từ 4 đợt khò khè/năm trở lên kèm với API(+) có nguy cơ hen thật sự ở độ tuổi
6-13 cao hơn 4-10 lần trẻ có API(-).
+.Một tiêu chuẩn chính:
- Cha, mẹ bị hen
- Chàm da (được bác sỹ chẩn đoán).
- Dị ứng với dị nguyên (xác định bằng bệnh sử hay test dị ứng).
+. Hai tiêu chuẩn phụ:
- Khò khè không liên quan đến cảm lạnh.
- Bạch cầu ưa axit máu ngoại vi trên 4
- Dị ứng thức ăn.
1.5.6. Yếu tố nguy cơ tiên lượng xấu của hen trẻ em dưới 5 tuổi:
Tính chất điển hình
Chủ yếu là ho,chảy mũi nghẹt mũi trong, thời gian dưới
đường hô hấp
10 ngày, khò khè thường nhẹ, không có triệu chứng giữa
tái đi tái lại
các đợt nhiễm trùng.
Trào ngược dày- Ho khi ăn, nhiễm trùng phổi tái đi tái lại, dễ nôn trớ nhất
Thực quản
Hít dị vật
Mềm sụn khí
quản
Lao
là sau khi ăn no, đáp ứng kém với các thuốc hen.
Đợt ho đột ngột, nặng và /hoặc co kéo cơ hô hấp trong
lúc ăn hoặc chơi, nhiễm trùng phổi và ho tái đi tái lại.
Thở ồn ào khi khóc hoặc ăn, hoặc trong lúc nhiễm trùng
đường hô hấp trên (hít vào ồn ào nếu ngoài ngực hoặc
thở ra ồn ào nếu trong ngực), co kéo lúc hít vào hoặc lúc
thở ra, triệu chứng thường có từ lúc sinh, đáp ứng kém
với các thuốc hen.
Hô hấp ồn ào và ho dai dẳng, sốt không đáp ứng với
kháng sinh bình thường, hạch bạch huyết to, đáp ứng
kém với thuốc dãn phế quản hoặc corticosteroid dạng
bệnh này.
Hô hấp thường ồn ào dai dẳng, đáp ứng kém với thuốc
hen.
Dị sản phế quản Trẻ sinh non, cân nặng khi sinh rất thấp, cần phải thở
phổi
Suy giảm miễn
dịch
máy hoặc thở oxy lâu dài.
Sốt và nhiễm trùng tái đi tái lại (bao gồm nhiễm trùng
không phải hô hấp), không phát triển.
Không phải tất cả những trường hợp khò khè dều là hen. Nên thực hiện
nghiệm pháp giãn phế quản ở các trẻ có khò khè (phun khí dung salbutamol 2,
5 mg/lần,3 lần liên tiếp cách nhau 20 phút). Nếu trẻ không đáp ứng hay đáp
ứng kém sau 1 giờ, cần xem xét các chẩn đoán phân biệt.
Lưu đồ 1. Tiếp cận chẩn đoán:
Đánh thêm:Hen dưới 5T trang 13
1.5.8. Đánh giá mức độ nặng cơn hen
Bảng 1.5. Đánh giá mức độ nặng cơn hen
Nhẹ
Tỉnh
Khó
thở
Trung bình
Nặng
Nguy kịch
ngừng thở
giảm/ không nghe
thấy
Tím tái, SpO2
1 lần/ tuần
Dùng thuốc cắt
> 2 lần/ tuần nhưng
cơn tác dụng
< 2 lần/