Nâng cao chất lượng sử dung nữ cán bộ công chức trong các cơ quan nhà nước hiện nay - Pdf 50

“ Nâng cao chất lượng sử dung nữ cán bộ công chức trong các cơ quan

nhà nước hiện nay

1




PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ bao giờ cũng là một
bộ phận quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã
hội. Bằng lao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giàu cho xã
hội, làm phong phú cuộc sống con người. Phụ nữ luôn thể hiện vai trò không
thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể:
Trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp
sản xuất ra của cải để nuôi sống con người. Không chỉ tái sản xuất ra của cải
vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy trì và phát triển
xã hội.
Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn
hoá nhân loại. Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nào cũng
có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ.
Ở khu vực Á Đông, hiếm có dân tộc nào phụ nữ lại đóng vai trò quan
trọng trong xã hội như ở Việt Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ
nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc và xây dựng đất nước. Ngay từ những buổi đầu lập nước, khi gặp nạn
ngoại bang xâm lược, bà Trưng bà Triệu đã dấy binh khởi nghĩa đánh đuổi
quân thù. Thế kỷ 20, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, lịch sử
lại ghi nhận hàng vạn tấm gương phụ nữ, các chị, các mẹ không ngại gian
khổ, không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, lao động, hy sinh, cống hiến

những hạn chế trong việc sử dụng cán bộ nữ chưa phù hợp với chuyên môn
và trình độ, từ đó đề ra những giải pháp nhằm sử dụng và đánh giá đúng vai
trò của phụ nữ với sự nghiệp phát triển chung của xã hội. Tác giả đã lựa chọn
vấn đề “ Nâng cao chất lượng sử dung nữ cán bộ công chức trong các cơ
quan nhà nước hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình.

3


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ SỬ DỤNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC NỮ TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
1.1. Cán bộ công chức
Ngày 13/11/2008, Quốc hội đã thông qua Luật cán bộ, công chức số
22/2008/QH12. Có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2009.
Điều 4: Cán bộ, công chức
1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt

+ Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng
nhân dân phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia về sự tiến bộ phự nữ.
+ Bảo đảm tỷ lệ thích đáng trong việc bổ nhiệm các chức danh trong
các cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới”2.
1. 3 Một số văn bản hành chính về công tác cán bộ nữ trong tình
hình mới.
- Chỉ thị số 37-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương về một số vấn đề
công tác cán bộ nữ trong tình hình mới.
- Nghị quyết 04-NQ/TW ngày 12/07/1997 của Bộ chính trị về việc
“Tăng cường và đổi mới công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”. Về
việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế xã
2

Luật bình đẳng giới, Hn, 2007

5


hội là yêu cầu quan trọng để thật sự thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của
phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng trí tuệ, và nâng cao địa vị xã hội của
phụ nữ. Chống những biểu hiện lệch lạc coi thường phụ nữ, khắt khe hẹp hòi
trong công tác tuyển dụng và đề bạt cán bộ công chức nữ.
- Chỉ thị 44-CT/TW của Ban Bí thư TRung ương Đảng “Về một số
vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ phụ nữ” để xác nhận
- Nghị quyết 11/NQ-TW “Về công tác phụ nữ trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. trong đó, chú trọng đến công tác quy
hoạch, đào tạo cán bộ nữ phù hợp với điều kiện mới của đất nước, tương xứng
với trình độ và chuyên môn của phụ nữ, phấn đấu đưa Việt Nam thành quốc
gia dẫn đầu về bình dẳng giới.




Tỷ lệ nữ ủy viên BCH TW Đảng qua các khóa

Qua các kỳ Đại hội

Tỷ lệ

Khóa VII

10,6%

Khóa VIII

8%

Khóa IX

7,5%

Khóa X

14,82%

Ở cấp tỉnh, thành, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia trong cấp ủy Đảng ít có sự
thay đổi, chiếm tỷ lệ thấp:
- Ban Chấp hành tỉnh, thành ủy nhiệm kỳ 2001-2005 là 11,32%. Nữ
làm bí thư qua các nhiệm kỳ:
- 1991-1995 là 2,38%;
- 1996-2000 là 9,43%; 2001-2005 là 3,13%;


3%

Khóa V

32%

Khóa VII

22%

Khóa VIII

18%

Khóa IX

18,8%

Khóa X
Khóa XI

25,2%
27,3%

Khóa XII

33,1 %

Hiện nay, nước ta được đánh giá là có số đại biểu nữ cao trong Quốc


Ủy ban An ninh – quốc phòng

0%

9


Theo chỉ thị số 09 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá
XII , Bộ Chính trị đã chỉ đạo cần có tỷ lệ thích đáng là đại biểu nữ; đồng thời,
Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 đã đề
ra chỉ tiêu cụ thể là đạt tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khoá XII sẽ từ 30% trở lên.
(3) Phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp
Theo đánh giá chung, tỷ lệ nữ trong Hội đồng nhân dân các cấp tăng
không đáng kể. Số liệu thực tế cho thấy, ở cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã, tỷ lệ này
tăng không quá 3%. Về vị trí chủ chốt, ở Hội đồng nhân dân cấp tỉnh khoá
2004-2009, toàn quốc có 1 nữ Chủ tịch và 17 Phó Chủ tịch. Ngược lại với số
lượng phụ nữ tham gia ở các cấp uỷ, tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo ở Hội đồng nhân
dân càng xuống cấp dưới càng thấp và cũng thấp nhất ở cấp xã, phường.
So sánh giữa nhiệm kỳ 1999 – 2004 với nhiệm kỳ 2004 – 2009 Nữ đại
biểu hội đồng nhân dân accs cấp cũng tăng dần nhưng không đáng kể.
- Cấp tỉnh thành từ 22,33% lên 23,83%
- Cấp quận (huyện) tăng từ 20,12% lên 22,94%
- Cấp xã(phường) tăng từ 16,56% lên 16,8%
(4) Phụ nữ trong cơ quan quản lý nhà nước
Theo Báo cáo của 33 bộ ngành, đoàn thể, tính đến năm 2008.
- Tỷ lệ Chủ tịch nước là: 0%;
- Phó Chủ tịch nước: 1%;
-


Số liệu thực tế cho thấy, tỷ lệ nữ là Phó Chủ tịch ở cấp cơ sở chỉ đạt
8,84%. - Tỷ lệ nữ là Chủ tịch ở cấp tỉnh/thành khóa 1999-2004 chỉ có 1,64%.
- Khoá 2004-2009 đã tăng lên 3,12%, nhưng ở cấp huyện, xã lại có xu
hướng giảm, từ 5,27% ở cả 2 cấp giảm xuống còn 3,62% và 3,42%.
2.2 Nhũng bước tiến về trình độ cán bộ, công chức nữ.
Trong hơn 50 năm qua, đội ngũ nữ trí thức trong các ngành khoa học
của Việt Nam nhìn chung là tăng lên cả về số lượng lẫn chất lượng. Tuy
nhiên, nếu so với tỷ lệ nữ trong dân số ( trên 51%), trong lực lượng lao động
(trên 49%) và năng lực thực sự của họ thì con số nữ trí thức còn rất khiêm
tốn. Tính đến năm 1999, số cán bộ nữ trong tổng số cán bộ có trình độ cao
đẳng, đại học trở lên chiếm 37% (so với nam giới), trong đó giáo sư, phó giáo
sư là 132 người (chiếm 6,7 %), tiến sĩ là 1.635 (chiếm 19,9 %). Hiện nay, số
lượng nữ trí thức có tăng lên nhưng chỉ mới tăng ở bậc cử nhân, còn các bậc
sau đại học thì không cao lắm.

11


Theo thống kê, đến giữa năm 2007, cả nước có khoảng 2,7 triệu người
có trình độ đại học trở lên, chiếm 4,5% lực lượng lao động, trong đó có trên
18.000 thạc sĩ, 16.000 tiến sĩ và trên 6000 giáo sư, phó giáo sư.
Trí thức Việt kiều có khoảng 400.000 người, chiếm hơn 10% người
Việt ở nước ngoài. Phụ nữ chiếm tỷ lệ 61% trong số những người có trình độ
cao đẳng, 34% những người có trình độ đại học, 30% trình độ thạc sĩ, 21%
tiến sĩ và 4% tiến sĩ khoa học.
Số lượng các nhà khoa học nữ tham gia quản lý nhà nước ở các cấp còn
thấp và càng ở cấp cao, tỷ lệ này càng thấp hơn. Tại hầu hết các cơ quan quản
lý nhà nước về khoa học, các cơ quan nghiên cứu khoa học, không có cán bộ
nữ tham gia ban lãnh đạo bộ và rất ít phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp viện. Tại
Viện Khoa học tự nhiên Việt Nam và Viện Khoa học xã hội Việt Nam, là các

giảm, ở các tỉnh miền núi phía Bắc cao hơn các tỉnh đồng bằng. Điều này
chứng tỏ, việc nhìn nhận cán bộ nữ tham gia lãnh đạo thấp do nguyên nhân
chị em chưa có đủ trình độ, năng lực hoặc thiếu nguồn cán bộ nữ lâu nay là
chưa có cơ sở.
Một số ngành nghề đông nữ vẫn chưa có cán bộ nữ giữ vị trí lãnh đạo
chủ chốt. Nhiều cơ quan quản lý nhà nước có tầm quan trọng chiến lược như
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn
hóa - Thể thao - Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài
chính, Bộ Công Thương... đều chưa có cán bộ nữ giữ chức vụ cấp cao. Đa số
cán bộ nữ lãnh đạo quản lý được bố trí ở cấp thấp (thường là cấp phó).
Bên cạnh đó, còn có tình trạng phân bố không đều về tỷ lệ cán bộ nữ. Ở
cấp tỉnh, thành phố, Tuyên Quang có tỷ lệ cán bộ nữ cao nhất nước chiếm
26,67%, thấp nhất là Cần Thơ 4,25%. Ở cấp quận huyện, cao nhất là TP HCM
với 28,87%, thấp nhất là Bạc Liêu 7,5%. Cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ
thống cơ quan nhà nước, trong tổ chức chính trị xã hội tỷ lệ cũng không cao.
Ở cấp cơ sở, con số này cũng không khả quan hơn.
Tại Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37 về công tác cán bộ
nữ (tháng 3-2004), Đảng ta đã đánh giá: Những cố gắng và kết quả đạt được
còn chưa tương xứng với những yêu cầu và nhiệm vụ đề ra. Một số cấp ủy,
13


chính quyền, cán bộ, đảng viên, nhận thức về công tác cán bộ nữ chưa sâu
sắc; nhìn nhận đánh giá phụ nữ còn cầu toàn, khắt khe, chưa tạo điều kiện cần
thiết cho cán bộ nữ vươn lên. Đội ngũ cán bộ nữ phát triển chưa vững chắc,
mất cân đối, thiếu đồng bộ so với yêu cầu phát triển; phân bố không đều tại
các địa phương, các khu vực.
Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia các cấp ủy, chính quyền các cấp còn thấp,
nhất là cấp cơ sở. Cán bộ nữ giữ cương vị chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng
nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp tuy có tăng nhưng chủ yếu là cấp

Ngoài ra, phụ nữ cũng có nhiều khó khăn trong cộng việc quản lý như:
công việc gia đình, định kiến giới, dư luận xã hội, phong tục tập quán, văn
hóa dân tộc…Theo nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội Việt Nam năm
2006, phụ nữ chịu trách nhiệm chính trong chăm sóc con cái. Qua điều tra
thấy, phụ nữ làm công việc này xấp xỉ 60%, nam giới dưới 10%, cả nam và
nữ trên 30%. Ở Việt Nam, vẫn tồn tại quan niệm cho rằng, những việc nhà
như nấu nướng, dọn dẹp, chăm sóc con cái là công việc của phụ nữ. Do vậy,
khối lượng không cân bằng là một trong những chỉ số bất lợi cho phụ nữ khi
vừa phải thu xếp công việc gia đình, vừa phải lo toan đảm đương công việc để
kiếm sống và tham gia công tác xã hội.

15


Chương 3:
NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
SỬ DỤNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NỮ TRONG CÁC CƠ QUAN
NHÀ NƯỚC HIỆN NAY
3. 1 Giải pháp chỉ đạo chung:
Để tiếp tục thực hiện công tác cán bộ nữ đạt hiệu quả, Đảng ta đã xác
định mục tiêu tổng quát công tác cán bộ nữ đến năm 2010: Phát triển nhanh
và bền vững đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý các cấp trên mọi lĩnh vực,
bảo đảm tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng, có cơ cấu hợp lý, đáp ứng
yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bình đẳng giới
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý.
Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 11/NQ-TW "Về công tác phụ
nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", trong đó có
một trong những quan điểm lớn là về xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ
cán bộ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ, coi đó là tất yếu khách quan,
là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng, đã tạo

Trên cơ sở đánh giá đúng đắn cán bộ nữ, các cấp ủy coi trọng quy
hoạch cán bộ nữ để đáp ứng yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ nữ thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công tác quy hoạch cần triển khai đồng bộ
ở tất cả các cấp, các ngành, một cách dân chủ, chặt chẽ, đúng nguyên tắc; ưu
tiên những ngành, lĩnh vực, vùng, miền mà ở đó cán bộ nữ còn quá thiếu. Quy
hoạch phải gắn với đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, gắn với luân
chuyển cán bộ; đồng thời, quy hoạch cán bộ nữ phải được rà soát, bổ sung và
điều chỉnh hằng năm. Có thể quy hoạch từ nhiều nguồn trong lực lượng lao
động nữ đông đảo (52% lực lượng lao động xã hội, 37% lực lượng lao động
có trình độ đại học và cao đẳng). Đó thực sự là nguồn lực phong phú để lựa
chọn nhân tài trong đội ngũ cán bộ nữ.
Ba là, thực hiện tốt công tác tạo nguồn cán bộ nữ và phát triển Đảng
trong phụ nữ.

17


Công tác tạo nguồn cán bộ nữ cần đặt trong chiến lược phát triển nguồn
nhân lực của quốc gia. Mỗi cấp, mỗi ngành ưu tiên và quan tâm tuyển dụng
cán bộ nữ, lao động nữ có trình độ đại học, trên đại học, nhất là những ngành,
lĩnh vực phụ nữ chiếm số đông. Từng bước nâng cao tỷ lệ đảng viên là nữ, có
kế hoạch bố trí, phân công công tác để họ được phấn đấu, rèn luyện và trưởng
thành. Chú ý lựa chọn, bồi dưỡng những nhân tố tích cực, có triển vọng để tạo
nguồn cho những vị trí lãnh đạo cao hơn trong đội ngũ cán bộ nữ đương chức
ở các ngành, các cấp. Đối với lực lượng nữ sinh trong các trường đại học, cao
đẳng, cần chủ động phát hiện, khuyến khích tài năng trẻ, sử dụng và tiếp tục
đào tạo, bồi dưỡng họ... nhằm hình thành được nguồn đội ngũ cán bộ nữ kế
cận, tài năng.
Bốn là, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ.
Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nữ, đáp ứng yêu cầu của tình

băn khoăn trăn trở trong sự lựa chọn giữa sự nghiệp và gia đình, không còn
gặp những rào cản không cần thiết từ các chính sách xã hội. Phụ nữ – dù
trong thời đại nào cũng luôn có những vị trí không thể thay thế. “Bên cạnh
ánh sáng lung linh của các vì sao còn có ánh sáng êm dịu và huyền bí của
tâm hồn người phụ nữ” (Victor Hugo)

19


PHẦN TỔNG KẾT
Trong bài phát biểu tại buổi toạ đàm “Vai trò của Phụ Nữ Việt Nam
Trong Thế Kỷ XXI” do Quỹ Phát triển Phụ Nữ Liên Hợp Quốc UNIFEM và
Hội phụ nữ Việt Nam tổ chức dưới sự hỗ trợ của các tổ chức Liên Hợp Quốc
tại Việt Nam, Chủ tịch Hội phụ Nữ Việt Nam Hà Thị Khiết đã tôn vinh người
phụ nữ Việt Nam: “Trong thành tựu chung của đất nước, có sự đóng góp tích
cực của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam. Là một lực lượng lao động xã hội
đông đảo, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ vai trò, khả năng, sức sáng tạo của mình
trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thích ứng với sự hội nhập và phát triển
theo xu thế chung của nhân loại”
Công tác cán bộ nữ, công tác phụ nữ là yêu cầu khách quan của sự
nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với xu thế
phát triển của thời đại và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Đảng,
Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày
càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo.
Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa
đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ" (Di chúc). Do vậy, công tác cán bộ
nữ phải được xác định là trách nhiệm của toàn Đảng, của các cấp, các ngành,
đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm của tổ chức Hội
Liên hiệp phụ nữ Việt Nam các cấp từ Trung ương đến cơ sở, cũng như bản
thân phụ nữ. Với sự nỗ lực, cố gắng đồng bộ như vậy, vị thế, vai trò của phụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status