LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế thị trường đã mở ra những khả năng mới cho nước ta hội nhập
vào nền kinh tế thế giới, thu hút thêm lao động, tạo thêm nhiều chỗ làm
mới do nhiều nghành nghề mới xuất hiện và phát triển nhất là thương mại
dịch vụ. Tuy nhiên bên cạnh một số yếu tố tích cực đó, kinh tế thị trường
cũng phát sinh nhiều mặt trái. Bên cạnh một bộ phận dân cư giàu lên nhanh
chóng thì phân hóa giàu nghèo cũng gia tăng về mức độ và tỷ lệ, đói nghèo
vẫn tồn tại như một thực tế, nó không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề
xã hội, không chỉ ở Việt Nam mà còn tất cả các quốc gia trên thế giới, không
một quốc gia nào không quan tâm tới trong quá trình phát triển.
Vì vậy xóa đói giảm nghèo hiện nay đang là mục tiêu được cả thế giới
quan tâm và giải quyết. Đối với Việt Nam, xóa đói giảm nghèo đã và đang
là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của các cấp, ngành trong việc thực
hiện chiến lược kinh tế - xã hội. Tuy nhiên để giảm nghèo nhanh cần có
các kênh bổ sung để tái phân phối nguồn lực và cung cấp các dịch vụ trực
tiếp cho các đối tượng nghèo, tức là nền kinh tế phải có tốc độ tăng trưởng
cao và vững chắc, tạo điều kiện cho công cuộc xóa đói giảm nghèo.
Đảng và nhà nước rất quan tâm đầu tư cho tăng trưởng và xóa đói giảm
nghèo, quy mô vốn đầu tư ngày càng gia tăng, tốc độ tăng trưởng cao và đầu
tư xóa đói giảm nghèo ngày càng được chú trọng, tỷ lệ hộ nghèo, xã nghèo
giảm xuống rõ rệt, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Song vẫn
còn nhiều thách thức lớn như: Hiệu quả đầu tư chưa cao do tăng trưởng kinh
tế chưa đạt tốc độ mong muốn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nguy cơ tái nghèo cao,
khoảng cách giàu nghèo có xu hướng ngày càng nới rộng.
Qua hơn 20 năm đổi mới do đảng CSVN khởi xướng và lãnh đạo, dưới
sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, hội đồng nhân dân các cấp Tỉnh Sơn
La đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách, đến nay tỉnh đã đạt được một số
thành tựu nhất định trong công tác xóa đói giảm nghèo tuy nhiên trong
công tác xóa đói giảm nghèo vẫn còn nhiều hạn chế.
Thấy được tầm quan trọng trong công tác xóa đói giảm nghèo nên em
đã chọn đề tài: Đầu tư xóa đói giảm nghèo ở Tỉnh Sơn La, thực trạng và
2. Khái niệm về đầu tư, tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội:
Khái niệm tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô và sản lượng của nền kinh
tế trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm.
Khái niệm phát triển kinh tế:
Phát triển kinh tế là sự tăng tiến toàn diện và ổn định mọi mặt về lượng
của nền kinh tế trong đó bao gồm cả sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về
chất của nền kinh tế.
Đầu tư phát triển:
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dung vốn
hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những
tài sản vật chất và tăng tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm
việc làm vì mục tiêu phát triển.
Đầu tư xóa đói giảm nghèo:
Đầu tư xóa đói giảm nghèo là hoạt động đầu tư trong đó người có tiền
bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm đưa người nghèo thoát khỏi
tình trạng đói nghèo trên mọi phương diện.
3. Vai trò của đầu tư đối với xóa đói giảm nghèo:
Có thể nhìn nhận vai trò của đầu tư đối với xóa đói giảm nghèo theo 2
cách:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế có quan hệ mật thiết đối với xóa đói giảm
nghèo.
Như chúng ta đã biết vốn đầu tư là nhân tố chính, là chìa khóa cho sự
tăng trưởng mà xóa đói giảm nghèo phải dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế
trên diện rộng với chất lượng cao và bền vững, tạo những cơ hội thuận lợi
cho người nghèo và cộng đồng người nghèo tiếp cận được với cơ hội phát
triển sản xuất, kinh doanh và hưởng thụ được thành quả tăng trưởng. Tăng
trưởng trên diện rộng với chất lượng cao và bền vững trước hết là tập trung
chuyển dịch cơ cấu và đa dạng hóa phát triển ngành nghề, tạo cơ hội nhiều
hơn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển nhằm tạo ra nhiều việc
nghành phải thực hiện đầu tư vào những lĩnh vực sau:
- Giao đất: Chính phủ coi chính sách giao đất nông nghiệp và đất trồng
rừng cho nông dân là một biện pháp lâu dài cơ bản nhằm tiến tới xoá đói,
giảm nghèo và phát triển công bằng tại nông thôn.
- Cung cấp tín dụng cho người nghèo: biện pháp này nhằm hỗ trợ cho
các hoạt động sản xuất của các hộ nghèo.
- Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn: hệ thống thuỷ lợi, nhất là cho trồng
lúa, đường xá nông thôn, trường học, các trạm xá, và cung cấp nước sạch
cho nông thôn là những lĩnh vực được chú trọng quan tâm đặc biệt.
- Các dịch vụ nông nghiệp: Chương trình về các dịch vụ hỗ trợ sản xuất
như khuyến lâm và ngư nghiệp, cung ứng nguyên vật liệu và chuyển giao
công nghệ đã được thực hiện từ những năm 90 để đáp ứng nhu cầu của
nông dân về đầu vào cho sản xuất.
- Khuyến khích tạo công ăn việc làm: Chương trình quốc gia về tạo công
ăn việc làm chủ yếu hoạt động như là một mạng lới an sinh nhằm giảm bớt
những ảnh hưởng tiêu cực của quá trình cơ cấu lại khu vực kinh tế quốc
doanh. Mục đích của Chương trình này là trực tiếp thúc đẩy các cơ hội tạo
việc làm thông qua các hình thức như trả tiền trợ cấp thôi việc, tín dụng trợ
cấp và đào tạo các nghề mới.
- Định canh, định cư cho các dân tộc ít người quen sống du canh, du cư:
Chương trình định canh định cư và phát triển các khu kinh tế mới đã
đượcBộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với các chính quyền địa
phương thực hiện nhằm nâng cao mức sống của người nghèo bằng cách
huy động các tài nguyên đất đai cho sản xuất nông nghiệp.
- Phủ xanh đất trống đồi trọc: Mục tiêu của chương trình là phủ xanh
các vùng đất trống đồi trọc và phát triển nông thôn, lâm và ng nghiệp trên
toàn lãnh thổ đất nước. Trong những năm 1993-1996 các mục đích của
chương trình này đã dần dần co hẹp lại chỉ tập trung vào phát triển các khu
rừng đặc dụng đượcbảo vệ tại các vùng núi cao.
- Giáo dục: các hoạt động mục tiêu bao gồm đến năm 2000 đảm bảo tất
Các con sông chính chảy qua địa bàn tỉnh Sơn La như sông Ðà, Sông Mã
và rất nhiều con suối nhỏ phân bổ đều trên địa bàn tỉnh. Sông Ðà chảy qua
địa phận Sơn La dài 150 km, sông Mã chảy qua địa phận Sơn La dài 95
km.
Sơn La là một tỉnh vừa nằm sâu trong nội địa, vừa là tỉnh có đường
biên giới quốc gia với nước bạn Lào, nằm án ngữ phía Tây Bắc của Thủ đô
Hà Nội, vì vậy vừa có ý nghĩa về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng.
Cùng với các tỉnh Hoà Bình và Lai Châu, Sơn Là là mái nhà xanh của
đồng bằng Bắc Bộ, với diện tích gần 1 triệu ha đất rừng đã và đang có vai
trò to lớn về môi sinh, phòng hộ đầu nguồn Sông Đà, điều tiết nguồn nước
cho công trình thuỷ điện Hoà Bình (hiện tại) và cho công trình thuỷ điện
Sơn La (trong tương lai).
Ðịa hình: Ðịa hình tỉnh Sơn La chia cắt sâu và mạnh, chia thành những
vùng đất có đặc trưng sinh thái khác nhau. vùng núi chiếm trên 85% diện
tích tự nhiên toàn tỉnh, có 2 cao nguyên tương đối bằng phẳng: cao nguyên
Mộc Châu và cao nguyên Nà Sản còn lại là các bãi bằng nhỏ hẹp xen kẽ
núi cao. Cao nguyên Mộc Châu có độ cao trung bình 1.050 m so với mực
nước biển, mang đặc trưng của khí hậu cận ôn đới, đất đai màu mỡ phì
nhiêu, thuận lợi cho phát triển cây chè, cây ăn quả và chăn nuôi bò sữa.
Cao nguyên Nà Sản có độ cao trung bình 800 m, chạy dài theo trục quốc lộ
6, đất đai phì nhiêu thuận lợi cho phát triển cây mía, cà phê, dâu tằm, xoài,
nhãn, dứa…Ðộ cao trung bình 600 - 700 m so với mặt biển, điểm cao nhất
là 2.879 m so với mặt biển, điểm thấp nhất là 70 m so với mặt biển.
Khí hậu: Có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh khô, mùa hè
nóng ẩm mưa nhiều, mưa tập trung vào các tháng 7 và 8 (không có bão),
thỉnh thoảng có giông và mưa đá, lượng mưa trung bình hàng năm là 1.276
mm. Khí hậu Sơn La chia làm hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa.
Nhiệt độ cao nhất là 25,70C, nhiệt độ thấp nhất là 170C, nhiệt độ trung
bình là 24,020C; hàng năm có 6 tháng có nhiệt độ trung bình 24,020C.
Sương muối thường xảy ra vào tháng 12 - 01 hàng năm. Địa hình bị chia
có lợi thế như xi măng, cát chất lượng cao, đá xây dựng, gạch không nung,
đá ốp lát…Nhìn chung các điểm mỏ và khoáng sản của Sơn La đến nay
vẫn chưa được khảo sát, đánh giá một cách đầy đủ.
2. Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Sơn La:
2.1. Đặc điểm kinh tế:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân đạt 13-14%/năm. Trong
đó: nông - lâm nghiệp tăng 8,65%/năm; công nghiệp - xây dựng tăng
26,2%/năm; dịch vụ tăng 16,8%/năm.
- GDP bình quân đầu người năm 2007 đạt 250 USD.
- Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp năm 2007 đạt 1,485 tỷ đồng, tăng
bình quân 8,5% năm.
- Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 550 tỷ đồng, tăng bình quân
26,4%/năm.
- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 20 triệu USD, tăng bình quân năm
23,3%/năm.
- Cơ cấu nông - lâm nghiệp, thuỷ sản GDP năm 2007: 50%; công
nghiệp -xây dựng: 18%; dịch vụ: 32%.
Nông nghiệp:
Đất đai màu mỡ, tầng canh tác dày với nhiều loại thổ nhưỡng khác
nhau cho phép ngành nông – lâm nghiệp Sơn La phát triển các loại cây
trồng, con nuôi có giá trị kinh tế cao.
Như vậy, bước chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nông-lâm nghiệp gắn
với công nghiệp chế biến và nâng cao hiệu quả, khả năng cạnh tranh cho
sản phẩm trên thị trường của Sơn La đã đi đúng hướng.
Chương trình phát triển cây công nghiệp chủ lực trên cơ sở tập trung
thâm canh diện tích cây công nghiệp hiện có, phát triển quy mô diện tích
một cách hợp lý đã giúp hình thành nên vùng nguyên liệu tập trung với
3.617ha chè; 3.544ha càphê; 4.160ha mía; 706ha dâu tằm. Cùng với đó,
diện tích và sản lượng của cây ăn quả đều tăng. Đến nay lên tới 24.183ha,
sản lượng đạt 60.875 tấn.
đưa tỷ trọng công nghiệp chiếm 25% trong GDP của toàn tỉnh vào năm
2010.
Thương mại , dịch vụ
Tổng mức lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân
12,45%/năm (giai đoạn 2001-2006), năm 2006 ước đạt 1.605 tỷ đồng.
Hàng hoá trên thị trường phong phú và đa dạng, các mặt hàng chính
sách thiết yếu được đảm bảo, giá cả ổn định. Hệ thống chợ trung tâm các
huyện, thị xã và mạng lưới buôn bán, trao đổi hàng hoá tại các trung tâm
cụm xã, trung tâm xã, các cụm dân cư nông thôn được đầu tư xây dựng,
kiên cố hoá.
Việc tăng cường xúc tiến thương mại giúp từng bước mở rộng thị
trường xuất khẩu sang các nước và các tỉnh Bắc Lào. Tổng giá trị xuất
khẩu tăng bình quân 13,6%/năm, năm 2006 ước đạt 8 triệu USD.
Các hoạt động dịch vụ được phát triển, nhất là dịch vụ vận tải, bưu
chính viễn thông, tín dụng ngân hàng, nhà hàng khách sạn…góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nhân
dân. Năm 2006, khối lượng hàng hoá vận chuyển tăng 13,78%; khối lượng
hành khách vận chuyển tăng 14,66% so năm 2002; Tổ chức thành công
“Hội chợ Thương mại – Du lịch Sơn La năm 2006”; Hoàn thành đưa vào
sử dụng mạng thông tin di động tại trung tâm Mai Sơn, Mường La, khu
vực sân bay Nà Sản…
Từ các kết quả có được, Sơn La tiếp tục đẩy mạnh phát triển hệ thống
chợ, các điểm buôn bán ở những nơi tập trung đông dân cư nhằm khuyến
khích trao đổi hàng hoá, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất
sang sản xuất hàng hoá. Phát triển khu kinh tế cửa khẩu, trước mắt tập
trung đầu tư cụm kinh tế cửa khẩu Chiềng Khương- Sông Mã. Mở rộng hệ
thống bưu chính viễn thông, phát thanh truyền hình, vận tải, tín dụng –
ngân hàng, bảo hiểm…
Năm 2007 phấn đấu đạt mức bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng
17,24% so với năm 2006; tổng giá trị xuất khẩu đạt 10 triệu USD.
ảnh hưởng của các cơn bão hàng năm từ phía biển Ðông không lớn nhưng
do địa hình phức tạp, có nhiều tiểu vùng khí hậu nên diễn biến thời tiết
hàng năm khá phức tạp. Hạn hán, lũ lụt, gió lốc, sương muối thường xuyên
xảy ra ở diện cục bộ từng nơi của nhiều địa phương vì vậy làm ảnh hưởng
nặng nề đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Tỉnh Sơn La đã thường
xuyên chủ động công tác "Phòng chống bão lũ giảm nhẹ thiên tai", hỗ trợ,
động viên kịp thời cán bộ, nhân dân các vùng bị thiệt hại, sớm khắc phục
hậu quả thiên tai, ổn định đời sống sản xuất, phòng chống dịch bệnh.
c. Tình hình di dân tự do: Từ năm 1996 đến nay tình hình di dân cư tự
do đã giảm nhiều so với những năm trước đây, trước năm 1995 bình quân
650 hộ/năm, từ năm 1996 chỉ còn 240 hộ/năm. Riêng năm 2002 còn 92 hộ,
653 khẩu di dịch cư tự do, giảm 58% so với năm 2000.
d. Tình hình tranh chấp đất đai : Diễn ra khá phức tạp ở nhiều nơi trong
tỉnh tính đến hết năm 2001 toàn tỉnh có 279 vụ, trong đó có 130 vụ liên
quan đến địa giới thuộc 74 xã của 10 huyện, thị, trong đó có 8 vụ tranh
chấp với xã của các tỉnh bạn giáp ranh giới với Sơn La (Lai Châu, Hoà
Bình, Phú Thọ, Yên Bái).
e. Tình hình đời sống: Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh chiếm 20%, trong đó tỷ
lệ đói nghèo các xã ÐBKK thuộc Chương trình 135 là 34,39%; theo điều
tra của tỉnh năm 2002: Hộ giàu chiếm 6%, hộ khá chiếm 23%, hộ trung
bình chiếm 51%.
f. Trình độ dân trí: Tính đến năm 2002, đã phổ cập giáo dục tiểu học
cho 10/10 huyện, thị, 201/201 xã, phường; tỷ lệ người biết chữ chiếm
70,8%. Số học sinh phổ biến thông niên học 2001 - 2002 là 220.430 em, số
giáo viên là 10.269 người. Số thày thuốc có 2.475 người; bình quân y, bác
sỹ là 26 người/1 vạn dân.
g. Tình hình khiếu kiện của dân: Chủ yếu khiếu kiện về chế độ chính
sách, khiếu nại về các quyết định, kết luận xử lý sau thanh tra, khiếu nại về
tranh chấp đất đai, khiếu nại về chính sách thuế, lệ phí, thu thuế không
đúng, không công bằng. Ngoài các nội dung khiếu nại trên còn có các
Hiện tại về tốc độ tăng dân số tự nhiên vẫn còn cao, nhất là các đồng
bào vùng cao và dân tộc thiểu sô, đây cũng là vấn đề gây nên áp lực lớn
cho việc giải quyết đời sống, những vấn đề xã hội, việc bảo vệ tài nguyên
môi trường tự nhiên. Đặc biệt khi xây dựng công trình thuỷ điện Sơn La
làm cho dân số cơ học tăng lên việc sắp xếp dân tái định cư cũng gây biến
đổi về phân bố dân cư, tác động tổng thể này mang tính toàn diện đến các
thành phố môi trường trong vùng.
* Về văn hoá- giáo dục:
Sơn La có 12 dân tộc anh em trình độ dân trí còn thấp và không đồng
đều ở các dân tộc, sự đa dạng về dân tộc cũng đã dẫn tới sự đa dạng về văn
hoá, về tập quán dân tộc vì vậy cũng gây nên sự trở ngại cho việc nâng cao
nhận thức cộng đồng như (tiếng nói, chữ viết, phát triển duy trì bản sắc văn
hoá dân tộc...). Nhiều phong tục tập quá ở một số dân tộc còn lạc hậu, đặc
biệt là phong tục sản xuất thuần nông du canh du cư chưa được xoá bỏ.
* Về dân trí:
Ngoài những trở ngại về dân trí thấp là một sức ỳ lớn đối với sự phát triển
kinh tế- xã hội của tỉnh. Nó dẫn đến sự hiểu biết về điều kiện tự nhiên, yếu tố
môi trường... dẫn đến các hậu quả gây nên không lường trước được.
*Nguồn lực:
Nguồn lực và kinh phí để thực hiện còn hạn chế, ảnh hưởng tới việc
đáp ứng các yêu cầu mà trong kế hoạch đã đề ra, các hoạt động ưu tiên, các
mô hình trình diễn khó thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra.
* Vấn đề tái định cư thuỷ điện Sơn La, cơ hội và thách thức:
Việc điều chỉnh quy hoạch tiếp nhận dân TĐC thuỷ điện Sơn La với
tỉnh Sơn La là một cơ hội nhưng đó cũng là một thách thức lớn với những
tác động về kinh tế- xã hội cũng như sự thay đổi và ảnh hưởng không nhỏ
của môi trường sinh thái. Có thể nêu ở đây một số các hoạt động và một số
tác động lên hệ thống tài nguyên của việc TĐC như sau:
Công tác tái định cư của thủy điện Sơn La là một nhiệm vụ hàng đầu
của tỉnh trong kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2006- 2010 và
quân 141 cái trên vạn dân. Hiện 100% số xã có điện thoại.
- Mạng điện lưới quốc gia: Toàn tỉnh đã có 10/10 huyện thị đã có điện
lưới quốc gia.
- Hệ thống cấp nước sinh hoạt: Hiện toàn tỉnh có 100% dân số đô thị
và 30% dân số nông thôn được cấp nước sinh hoạt.
Nhằm đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội, XĐGN, giữ vững an ninh
quốc phòng, ổn định chính trị vùng đặc biệt khó khăn và biên giới, bằng
cách hỗ trợ 364 bản ĐBKK và biên giới chưa ổn định đời sống và sản xuất
trên địa bàn, chương trình 135 với tổng số vốn đầu tư: 113,985 tỷ đồng
bằng lồng ghép các chương trình 135, dự án giảm nghèo, chương trình
nước sạch, môi trường, đường giao thông...; phân công các ngành, DN giúp
đỡ các xã vùng 3 nhằm tăng thêm nguồn lực từ các đơn vị này vào đầu tư xây
dựng cơ sở vật chất cho các xã vùng ĐBKK với giá trị trên 4 tỷ đồng.
Tỉnh còn huy động lồng ghép nguồn vốn các chương trình, dự án đầu tư hỗ
trợ cho các xã, bản vùng ĐBKK gần 500 tỷ đồng, hỗ trợ đầu tư xây dựng
108 công trình giao thông, mở mới 926km đường giao thông; làm 9 cầu
treo, cầu tràn với khối lượng hoàn thành 1 nghìnm; 106 công trình thủy lợi
tưới cho 2.850 ha ruộng 2 vụ; 172 công trình cấp nước; 50 công trình lớp
học cắm bản với khối lượng hoàn thành 2.600m2; Các công trình trường
lớp, nhà ở giáo viên, học sinh bán trú, cơ sở y tế, trạm thu phát hình, công
trình khuyến lâm khuyến công, chợ, cửa hàng, hỗ trợ sản xuất nông
nghiệp... Ngoài ra còn huy động nguồn lực địa phương đóng góp hàng vạn
ngày công lao động và vật liệu tại địa phương (gạch, cát, đá, sỏi, tre,
nứa...) với tổng giá trị trên 9 tỷ đồng, tham gia mở 1.975km đường giao
thông và tu sửa 4.324 km đường dân sinh liên bản, liên xã; đào đắp hàng
nghìn kênh mương tưới tiêu.
Từ nhiều nguồn vốn, gần 5.000 tỷ đồng đã được đầu tư cho phát triển;
đã xây dựng được trên 1.000 công trình và hạng mục công trình; trong đó
tập trung đầu tư cho cơ sở hạ tầng, cho giáo dục đào tạo và chăm sóc sức
khỏe cho nhân dân, nhất là địa bàn nông thôn, đến nay toàn tỉnh đã có
Hàng vạn lao động được chuyển giao kỹ thuật sản xuất, dạy nghề, tiếp
cận khoa học, công nghệ mới. Hàng nghìn cán bộ được đào tạo tập huấn về
lý luận, quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước…
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo Sơn La trong những năm qua ngày càng
phát triển và hoàn thiện: Giáo dục phổ thông cơ bản đã ổn định; Quy mô
giáo dục được mở rộng, mạng lưới trường lớp ổn định và phát triển với
nhiều loại hình; giáo dục vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa ngày càng được
đẩy mạnh; chất lượng giáo dục - đào tạo từng bước được nâng lên; việc bồi
dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được quan tâm; cơ sở vật chất
trang thiết bị trường học tiếp tục được bổ sung; công tác xã hội hoá bước
đầu thu được kết quả đáng trân trọng; tạo nên phong trào học tập sôi nổi
trong các tầng lớp xã hội.
Quy mô giáo dục - đào tạo tiếp tục mở rộng
Năm học 2006 - 2007 toàn tỉnh có 689 đơn vị giáo dục và đào tạo từ
mầm non đến THPT; TTGDTX; TTKTTH-HN, trường dạy nghề và các
trường chuyên nghiệp. So với năm học 1995 - 1996 đến trường học tăng