BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------
TRỊNH THỊ THẢO
MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁN CÂN BÊN NGOÀI VÀ
CÁN CÂN NGÂN SÁCH CHÍNH PHỦ: NGHIÊN CỨU
TRƢỜNG HỢP CÁC NƢỚC ĐÔNG NAM Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HCM – Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------
TRỊNH THỊ THẢO
MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁN CÂN BÊN NGOÀI VÀ
CÁN CÂN NGÂN SÁCH CHÍNH PHỦ: NGHIÊN CỨU
TRƢỜNG HỢP CÁC NƢỚC ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: Tài chính –Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
GS.TS. SỬ ĐÌNH THÀNH
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY .. 5
1.1 Cán cân ngân sách, tài khoản vãng lai, cán cân thương mại .................. 5
1.1.1 Cán cân ngân sách chính phủ (GB) ..................................................... 5
1.2.2 Tài khoản vãng lai (CA): ..................................................................... 9
1.2.3 Cán cân thương mại (TB) .................................................................: 11
1.2 Lý thuyết mối quan hệ giữa cán cân ngân sách và tài khoản vãng lai .. 12
1.2.1 Lý thuyết thâm hụt kép (thâm hụt ngân sách kéo theo thâm hụt tài
khoản vãng lai) ......................................................................................................... 12
1.2.1.1 Mô hình Mundell-Fleming........................................................... 13
1.2.1.2 Lý thuyết của Keynes .................................................................. 16
1.2.2 Lý thuyết cân bằng của Ricardo ......................................................... 19
1.3 Kết quả các nghiên cứu trước đây ........................................................ 21
1.3.1 Trường hợp 1: thâm hụt ngân sách kéo theo thâm hụt tài khoản vãng
lai (BD ->CAD)........................................................................................................ 22
1.3.2 Trường hợp 2: Không có mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và
thâm hụt tài khoản vãng lai (BD X CAD) ............................................................... 24
1.3.3 Trường hợp 3: Quan hệ nhân quả một chiều chạy từ thâm hụt tài
khoản vãng lai đến thâm hụt ngân sách (CAD->BD) .............................................. 26
1.3.4 Trường hợp 4: Các nghiên cứu cho kết quả có mối quan hệ hai chiều
thâm hụt tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách (CAD <->BD) ......................... 29
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................. 32
2.1 Phương pháp kiểm định nhân quả Granger ............................................. 32
2.2 Phương pháp nhân quả Granger sử dụng kỹ thuật Toda-Yamamoto:...... 35
CHƢƠNG 3. DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................... 38
3.1 Mô tả dữ liệu ........................................................................................... 38
3.1.1 Mô tả mẫu : ....................................................................................... 38
3.1.2 Dữ liệu : ............................................................................................. 38
3.2 Kết quả nghiên cứu ................................................................................. 38
Thâm hụt tài khoản vãng lai
GB
Budget balance
Cán cân ngân sách
CA
Current account
Tài khoản vãng lai
TB
Trade balance
Cán cân thương mại
REH
Ricardian Equivalence
Hypothesis
Lý thuyết cân bằng của
Ricardian
TDH
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình .............................. 40
Bảng 3.2: Kiểm định tính dừng Unit root tests ............................................ 41
Bảng 3.3: Tóm tắt độ trễ tối đa cho mô hình ............................................... 46
Bảng 3.4: Kiểm định nhân quả Granger test ................................................ 47
Bảng 3.5: Kiểm định quan hệ Toda-Yamamoto .......................................... 53
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Tác động của chính sách trong cơ chế tỷ giá cố định .................. 15
Hình 1.2: Tác động của chính sách trong cơ chế tỷ giá linh hoạt ................ 16
Hình 1.3: Bốn mối quan hệ có thể xảy ra giữa tài khoản vãng lai và cán cân
ngân sách ...................................................................................................... 21
Hình 3.1: Xu hướng biến động của GB, CA và TB từng quốc gia .............. 39
Hình 3.2: Kiểm định độ ổn định mô hình Toda – Yamamoto (1995) ......... 52
1
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa cán cân bên ngoài
(tài khoản vãng lai, cán cân thương mại) và cán cân ngân sách Chính phủ cho 9
quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á giai đoan từ năm 1996 đến năm 2015. Phân
tích này được thực hiện bằng cách sử dụng hai phương pháp: kiểm định Granger
truyền thống và phương pháp Granger được phát triển bởi Toda-Yamamoto.
Kiểm định nhân quả Granger truyền thống: hầu hết các nước không có mối
quan hệ giữa cán cân ngân sách và tài khoản vãng lai hay cán cân thương mại trừ
Singapore cho thấy có mối quan hệ một chiều từ cán cân ngân sách đến tài khoản
vãng lai, giữa cán cân ngân sách và cán cân thương mại
Kiểm định nhân quả Granger được phát triển bởi Toda-Yamamoto: kết quả
đến việc nhận diện sai bậc kết hợp của các biến bằng cách tăng độ trễ k lên
k+dmax với dmax là số bậc đồng liên kết.
Điểm khác của nghiên cứu này so với các nghiên cứu trƣớc đây là việc sử
dụng kiểm định Toda-Yamamoto (T-Y) để kiểm tra mối quan hệ nhân quả
3
không chỉ giữa giữa thâm hụt ngân sách và tài khoản vãng lai mà còn kiểm định
mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và cán cân thương mại cho 9 nước Đông
Nam Á.
2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu:
* Mục tiêu:
+ Tác giả đưa ra các gợi ý chính sách tương ứng với các kết quả được tìm thấy
của nghiên cứu về mối quan hệ giữa cán cân ngân sách và cân đối bên ngoài
(cân đối tài khoản vãng lai hoặc cân đối thương mại).
+ Bên cạnh đó, nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa cán cân thương mại và
cán cân ngân sách để biết được vai trò của yếu tố thu nhập và chuyển giao ròng
trong tai khoản vãng lai thông qua việc so sánh kết quả mối quan hệ nhân quả
giữa tài khoản vãng lai và cán cân ngân sách chính phủ có khác với mối quan hệ
nhân quả giữa cán cân thương mại và cán cân ngân sách chính phủ hay không?
*Câu hỏi nghiên cứu:
Tài khoản vãng lai và cán cân ngân sách có mối quan hệ với nhau không?
Cán cân thương mại và cán cân ngân sách có mối quan hệ với nhau không?
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Bài phân tích này sử dụng hai phương pháp: phương pháp kiểm định Granger
truyền thống và phương pháp tiếp cận phát triển bởi TodaYamamoto. Kết quả cho
thấy có sự khác nhau trong việc sử dụng cả hai phương pháp tiếp cận.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tƣợng nghiên cứu
Thu ngân sách của chính phủ từ các nguồn sau:
- Thuế: gồm các loại thuế gián thu và thuế trực thu. Đây là nguốn thu chính,
lớn và ổn định của ngân sách quốc gia
- Phí và lệ phí
- Các khoản nhận viện trợ từ nước ngoài
- Ngoài ra để tiện hạch toán, người ta quy ước xem các khoản vay trong nước
và vay nước ngoài của chính phủ là bộ phận của tổng thu ngân sách.
Trong các nguồn thu vừa nêu, thì nguồn thu quan trọng, ổn định và lớn nhất của
ngân sách chính phủ là nguồn thu từ thuế. Ba bộ phận còn lại tương đối nhỏ và
không ổn định; nên để đơn giản trong phân tích, ta coi như nguồn thu ngân sách là
thuế.
*Chi ngân sách
Chi ngân sách của chính phủ được chia làm hai loại:
(1)
Chi mua hàng hóa và dịch vụ của chính phủ (G):
Trong chi tiêu g gồm hai bộ phận;
+ Chi tiêu thường xuyên của chính phủ (Cg) gồm tiền trả lương cho cán bộ
công nhân viên chức, chi mua văn phòng phẩm, điện, nước… trong khu vực
công
+ Chi đầu tư của chính phủ (Ig) là lượng tiền chính phủ chi ra để xây dựng cơ
sở hạ tầng như: trường học, bệnh viện, đường xá, bến cảng, sân bay…
6
(2)
Chi chuyển nhượng (Tr): là khoản tiền chính phủ chi cho một đối tượng nào
7
tương đối chứ không tuyệt đối, luôn ở trạng thái vận động, cân bằng và không cân
bằng chuyển hóa lẫn nhau, Nói cách khác, bên cạnh xem xét theo từng tài khóa,
việc xem xét cân đối ngân sách nhà nước trong cả một chu kỳ là hết sức cần thiết;
mặt khác, nếu mức bội chi ở trong phạm vi kiểm soát được và tình trạng đó đảm
bảo cho ngân sách nhà nước thực hiện được các vai trò vốn có của nó, thì bội chi
trong trường hợp này là cần thiết, chủ động.
Khi thu ngân sách ằng chi ngân sách: T= G -> T-G=0: Ngân sách cân bằng,
nghĩa là nguồn thu huy động vừa đủ trang trải nhu cầu chi tiêu.
Chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa có thể hiểu là các biện pháp can thiệp của chính phủ đến hệ
thống thuế khóa và chi tiêu của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh
tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm hoặc ổn định giá cả và lạm
phát. Như vậy, việc thực thi chính sách tài khóa sẽ do chính phủ thực hiện liên quan
đến những thay đổi trong các chính sách thuế hoặc/và chi tiêu chính phủ.
Cần phải lưu ý rằng, chỉ chính quyền trung ương (chính phủ) mới có quyền và
chức năng thực thi chính sách tài khóa, còn chính quyền địa phương không có chức
năng này. Đây cũng chính là một trong những yếu tố gi p phân biệt giữa một chính
sách tài khóa với một chính sách chi tiêu thuộc phạm vi ngân sách theo phân cấp
của chính quyền địa phương.
Chính sách tài khóa thường gắn liền với trường phái Keynes, theo tên nhà kinh
tế học người Anh John Maynard Keynes. Những nghiên cứu chính của ông như “Lý
thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” đã ảnh hưởng đến những tư tưởng
mới lý giải về cách thức nền kinh tế hoạt động và vẫn được nghiên cứu cho đến
ngày nay. Hầu hết lý thuyết của ông được phát triển trong thời kỳ Đại khủng hoảng.
Đến nay lý thuyết của Keynes đã được dùng cũng như bị vận dụng sai không ít lần,
bởi nó khá phổ biến và chỉ áp dụng đặc thù để giảm ảnh hưởng trong thời kỳ suy
thoái. Một cách ngắn gọn, học thuyết kinh tế trường phái Keynes dựa trên tư tưởng
rằng sự chủ động từ chính phủ là cách duy nhất để chèo lái nền kinh tế. Điều này
thường xuyên (như chi lương cho công chức, chi cho các hoạt động giáo dục, y tế,
khoa học-công nghệ, an ninh-quốc phòng) và chi đầu tư phát triển (như chi xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội). Ngoài công cụ thuế và chi tiêu, các công cụ
9
tài trợ cho thâm hụt ngân sách hay tài trợ nợ của chính phủ (tạm gọi là nợ công)
cũng là một phần của chính sách tài khóa. Tùy vào thực trạng của nền kinh tế,
Chính phủ sẽ sử dụng các chính sách tài khóa khác nhau:
+Chính sách tài khóa trung lập (neutral fiscal policy): là chính sách cân bằng
ngân sách, tức chi tiêu của chính phủ hoàn toàn được tài trợ từ nguồn thu của chính
phủ và nhìn chung là có tác động trung tính lên mức độ của các hoạt động kinh tế.
+ Chính sách tài khóa mở rộng (expansionary fiscal policy): là chi sách tăng
cường chi tiêu của chính phủ và/hoặc giảm bớt nguồn thu thuế. Chính sách này
được áp dụng khi nền kinh tế đang ở tình trạng suy thoái.
+ Chính sách tài khóa thu hẹp (contractionary fiscal policy): là chính sách
giảm bớt chi ngân sách hoặc/và tăng nguồn thu của chính phủ (tăng thuế). Chính
sách này được áp dụng khi nền kinh tế đang ở tình trạng lạm phát cao.
1.1.2 Tài khoản vãng lai (CA):
Tài khoản vãng lai ghi chép mọi luồng thu nhập đi vào và đi ra khỏi quốc gia
trong một thời kì nhất định, do mua bán hàng hóa và dịch vụ, thu nhập từ đầu tư và
các khoản chuyển giao.
Trong tài khoản vãng lai có 3 khoản mục:
+ Cán cân thương mại: là giá trị xuất khẩu ròng (NX), là chênh lệch giữa giá
trị xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
NX = X-M
+ Thu nhập yếu tố ròng (NFFI): là chênh lệch giữa thu nhập từ các yếu tố
xuất khẩu (IFFI) và thu nhập từ các yếu tố nhập khẩu (OFFI):
NFFI=IFF-OFFI
hụt/thặng du tài khoản vãng lai) để rồi cho rằng thâm hụt đó là xấu hay tốt.
Tuy nhiên, dường như có một quan niệm phổ biến (không chỉ ở Việt Nam) là
nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai là không tốt và thể hiện một nền kinh tế
yếu kém và ngược lại xuất siêu và có thặng dư trên tài khoản vãng lai, thì quan
niệm này cho rằng thặng dư thương mại là điều tốt và thể hiện một nền kinh tế có
11
khả năng cạnh tranh tốt. Mặc dù trong một số ít trường hợp, quan niệm như trên
không phải là không đ ng, nhưng theo lý thuyết kinh tế thì không hẳn là như vậy.
Trong nhiều trường hợp, thì thâm hụt cán cân thương mại là thể hiện một nền
kinh tế đang tăng trưởng tốt. Khi một nền kinh tế có tiềm năng tăng trưởng tốt, có
nhiều cơ hội đầu tư với lợi nhuận cao, nhu cầu đầu tư cao hơn khả năng tiết kiệm
trong nước, điều này sẽ làm cho các dòng vốn nước ngoài chảy vào quốc gia đó để
đáp ứng nhu cầu đầu tư. Tức là một quốc gia có thể sử dụng nguồn lực của nước
khác để phát triển kinh tế trong nước. Một ví dụ điển hình là tài khoản vãng lai của
nền kinh tế Hoa Kỳ luôn ở trong tình trạng thâm hụt trong những năm gần đây.
Điều này không thể hiện Hoa Kỳ là một nền kinh tế yếu kém. Ngược lại, một tài
khoản vãng lai có thặng dư lại có thể là dấu hiệu bất ổn của nền kinh tế, dòng vốn
trong nước chảy ra nước ngoài tìm kiếm những cơ hội đầu tư tốt hơn. Tức là nguồn
lực không được sử dụng cho phát triển nền kinh tế trong nước. Và trong nhiều
trường hợp khác, thì sự mất cân bằng của cân cân thương mại (thặng dự hay thâm
hụt) chẳng phải là một dấu hiệu nghiêm trọng nào”.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, thì thâm hụt thương mại (nhập siêu) và
hệ quả là thâm hụt tài khoản vãng lai thực sự gây ra nhiều vấn đề cho một số nước.
Nhiều nước đã lâm vào khủng hoảng (khủng hoảng nợ, khủng hoảng đồng tiền) sau
khi có mức thâm hụt thương mại lớn, thường xuyên và lâu dài. Điển hình là cuộc
khủng hoảng Châu Á những năm 1997-1998.
1.1.3 Cán cân thƣơng mại (TB):
Cán cân thương mại của một quốc gia có thể rơi vào một trong ba trường hợp sau:
Nếu X > M -> NX > 0: thặng dư thương mại (Xuất siêu)
Nếu X < M -> NX < 0: thâm hụt thương mại (Nhập siêu)
Nếu X = M -> NX = 0: cán cân thương mại cân bằng
1.2
Lý thuyết mối quan hệ giữa cán cân ngân sách và tài khoản vãng lai
1.2.1 Lý thuyết thâm hụt kép (thâm hụt ngân sách kéo theo thâm hụt tài
khoản vãng lai)
Lý thuyết thâm hụt kép được giải thích dựa trên mô hình nổi tiếng MundellFleming và lý thuyết hấp thụ của Keyness.
13
1.2.1.1 Mô hình Mundell-Fleming
Mô hình Mundell-Fleming (the Mundell-Fleming model) là một mô hình kinh
tế học vĩ mô sử dụng 2 đường IS và LM để phân tích tác động của các chính sách kinh
tế vĩ mô được thực hiện trong một nền kinh tế mở cửa. Mô hình mang tên 2 nhà kinh tế
học là Robert Mundell và James Marcus Fleming. Đây là mô hình lý thuyết được
Robert Mundell và Marcus Fleming phát triển một cách độc lập trong những năm
1960. Hai ông đã chỉ ra rằng ở những quốc gia sử dụng chính sách tiền tệ và chính sách
tài khóa để đạt được sự cân bằng bên trong (cân bằng tổng cung – tổng cầu) và cân
bằng bên ngoài (cân bằng trong cán cân thanh toán) thì chính sách tiền tệ nên được sử
dụng để đạt được sự cân bằng trong cán cân thanh toán và chính sách tài khóa nên
được sử dụng để đạt được sự cân bằng trong tổng cung và tổng cầu.
Các tác động của chính sách tài khóa, tiền tệ trong cơ chế tỷ giá hối đoái
cố định:
Mundell và Fleming đã minh họa tính hiệu quả của chính sách tài khóa và
chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá cố định thông qua mô hình IS-LM-BP.
vào trong nước nên cán cân thanh toán sẽ thặng dư và tỷ giá có xu hướng giảm. Để
duy trì tỷ giá cố định, NHTW phải đưa thêm lượng nội tệ vào nền kinh tế để mua
ngoại tệ. Do đó, đường LM dịch chuyển sang phải thành LM’, tạo điểm cân bằng vĩ
mô mới tại H.
Trường hợp khác, nền kinh tế đang cân bằng bên trong và bên ngoài tại điểm
E (Y*, r*) (hình 1), khi NHTW áp dụng một chính sách tiền tệ mở rộng thì đường
LM dịch chuyển sang phải thành đường LM’. Nền kinh tế cân bằng bên trong tại
điểm F: sản lượng tăng lên, lãi suất giảm. Do đó, dòng vốn có xu hướng chảy ra
nước ngoài khiến cán cân thanh toán thâm hụt và tỷ giá có xu hướng tăng lên. Để
duy trì tỷ giá ban đầu, NHTW phải bán ngoại tệ ra để đổi lấy nội tệ, do đó lượng dự
trữ ngoại tệ giảm và lượng cung tiền trong nước cũng giảm xuống. Kết quả, đường
LM dịch chuyển sang trái trở lại vị trí ban đầu và điểm cân bằng sẽ quay về lại điểm
E. Nghĩa là sản lượng sau khi gia tăng trong một thời gian ngắn sẽ quay lại điểm
cân bằng ban đầu.
15
Như vậy, dưới chế độ tỷ giá cố định và chu chuyển vốn hoàn hảo, chính sách
tài khóa có hiệu quả cao trong khi chính sách tiền tệ không có hiệu quả.
Hình 1.1: Tác động của chính sách trong cơ chế tỷ giá cố định
Các tác động của chính sách tài khóa, tiền tệ trong cơ chế tỷ giá hối đoái
linh hoạt:
Giả sử nền kinh tế đang cân bằng bên trong và bên ngoài tại điểm E(Y*, r*)
(hình 2). Chính sách tiền tệ mở rộng sẽ làm đường LM dịch chuyển sang phải thành
đường LM’. Nền kinh tế cân bằng bên trong tại điểm F. Tại điểm F, sản lượng tăng
lên, lãi suất trong nước giảm xuống, do đó vốn có xu hướng chảy ra nước ngoài
khiến cán cân thanh toán bị thâm hụt và tỷ giá có xu hướng tăng lên. Khi tỷ giá tăng
lên nghĩa là đồng nội tệ bị giảm giá, nhờ đó làm tăng sức cạnh tranh quốc tế dẫn đến
giảm giá của đồng nội tệ sẽ dẫn đến sự gia tăng thâm hụt tài khoản vãng lai. Tiết
kiệm tư nhân vẫn được duy trì vì công ch ng nhận thức phát hành trái phiếu chính
phủ để tài trợ cho thâm hụt như tăng sự giàu có của họ. Phản ứng của đầu tư trong
nước và thâm hụt tài khoản vãng lai phụ thuộc vào sự huy động vốn. Do đó, dòng
vốn nước ngoài sẽ nhanh chóng bù đắp sự sụt giảm đầu tư trong nước. Dòng vốn
lần lượt đặt áp lực lên tỷ giá hoặc thông qua một tỷ lệ tăng lên trong tỷ giá danh
nghĩa trong trường hợp của một chế độ tỷ giá cố định hay giá cả tăng cao theo một
hệ thống tỷ giá hối đoái linh hoạt. Vì vậy, mô hình Mundell-Fleming dự đoán một
mối quan hệ tích cực giữa hai thâm hụt.
1.2.1.2 Lý thuyết của Keynes
Keynes cho rằng sự gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ dẫn đến lãi suất cao, tiết
kiệm thấp và giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng nhập khẩu, và việc mở rộng
nhập khẩu dẫn đến gia tăng thâm hụt tài khoản vãng lai. Do đó, giống như các mô
hình Mundell-Fleming, các trường phái Keynes cho thấy rằng mối quan hệ nhân
quả chạy từ thâm hụt ngân sách sang thâm hụt tài khoản vãng lai và không phải là
ngược lại.
Theo lý thuyết thâm hụt kép, sự thay đổi trong thâm hụt ngân sách dẫn đến
sự thay đổi trong thâm hụt tài khoản vãng lai. Để làm rõ mối quan hệ giữa hai biến
này, ch ng ta bắt đầu với định nghĩa thu nhập quốc gia cho một nền kinh tế mở:
Y = C + I + G + X – M (1)
Trong đó:
ổng cầu (tổng thu nhập);
ầu tư;
ủa chính phủ (hàng hóa và dịch vụ);
ất khẩu hàng hóa và dịch vụ;
ập khẩu hàng hóa và dịch vụ.
Tài khoản vãng lai (CA) gồm 3 khoản mục TB, NFI, NCT:
CA = TB + NFI + NCT (2)