Sự biến đổi của nghề sơn truyền thống ở các làng bối khê (huyện phú xuyên) và vũ lăng (huyện thanh oai), thành phố hà nội hiện nay ( Luận án tiến sĩ) - Pdf 50

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
----------------------------------------

Nguyễn Thị Lan Hƣơng

SỰ BIẾN ĐỔI CỦA NGHỀ SƠN TRUYỀN THỐNG Ở
CÁC LÀNG BỐI KHÊ (HUYỆN PHÚ XUYÊN) VÀ
VŨ LĂNG (HUYỆN THANH OAI), THÀNH PHỐ HÀ NỘI
HIỆN NAY

Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số

: 62 31 06 40

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRƢƠNG QUỐC BÌNH

Hà Nội - 2014


2


2.3. Hệ quả của quá trình biến đổi nghề sơn truyền thống ......................................... 87
Tiểu kết ...................................................................................................................... 99
Chƣơng 3: VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGHỀ SƠN TRUYỀN THỐNG Ở CÁC
LÀNG BỐI KHÊ, VŨ LĂNG VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA
LUẬN ÁN
3.1.Định hướng phát triển nghề sơn truyền thống ở hai làng
Bối Khê và Vũ Lăng .............................................................................. 101
3.2. Một vài biện luận về tính mới của luận án ....................................................... 126
Tiểu kết .................................................................................................................... 130
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 132
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ................................................... 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 137
PHỤ LỤC...................................................................................................................... 148


4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
1.

A.

:

Ảnh

2.

HTX


STT

:

Số thứ tự

7.

TLTK

:

Tài liệu tham khảo

8.

Tp.

:

Thành phố

9.

Tr.

:

Trang


Bảng 8: Số lượng lao động từ nơi khác đến làm nghề sơn tại làng nghề Vũ Lăng
trong 5 năm gần đây .................................................................................................. 82
Bảng 9: Số hộ nghèo của làng nghề Bối Khê ................................................ 86
Bảng 10: Số hộ nghèo của làng nghề Vũ Lăng .............................................. 86


6

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ và quá trình toàn cầu hoá đang tác
động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia, dân tộc, hơn lúc nào hết, việc giữ gìn và phát
huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc, trong đó có các nghề thủ công truyền thống
đang được đặt ra một cách bức thiết, bởi nó có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát
triển bền vững của đất nước. Nghề thủ công truyền thống hiện được coi là một trong
7 lĩnh vực của di sản văn hóa phi vật thể góp phần thể hiện bản sắc cũng như đặc
trưng diện mạo nông thôn và nhiều đô thị ở Việt Nam.
Sự nghiệp đổi mới đất nước đã bước sang giai đoạn mới: giai đoạn đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một trong những nội dung trọng tâm của quá trình
này là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, trong đó việc khôi
phục, phát triển nghề và làng nghề thủ công truyền thống có vai trò hết sức quan
trọng bởi nó thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn với việc tạo
công ăn việc làm cho lao động, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân,
góp phần phát triển các loại hình du lịch và dịch vụ, đẩy mạnh xuất khẩu trong tiến
trình hội nhập khu vực và quốc tế.
Nghề thủ công truyền thống Việt Nam với 11 nhóm nghề chính như nghề
sơn mài, ngành nghề gốm sứ thủy tinh, nghề thêu ren, nghề dệt, nghề mây tre đan,
nghề cói, nghề giấy thủ công, nghề tranh in khuôn gỗ, nghề chạm khắc đá, nghề gỗ,
nghề kim khí đúc đồng, chạm bạc…[114, tr.9] tạo nên hơn 2000 làng nghề thủ công
(đã được công nhận) phân bố suốt chiều dài đất nước đã và đang là một bộ phận

nghề truyền thống như nghề sơn theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Hai
làng Bối Khê (huyện Phú Xuyên) và Vũ Lăng (huyện Thanh Oai), Hà Nội đã có
nghề sơn truyền thống từ lâu đời và sớm khẳng định được vị trí riêng về chất lượng
kỹ thuật và mỹ thuật của các sản phẩm làm ra trong hệ thống các làng nghề sơn ở
châu thổ Bắc Bộ. Nằm ở hai huyện được đánh giá là những khu vực có sự phát triển
kinh tế khá năng động với mật độ làng nghề đông đảo nhất Hà Nội, có thể coi hoạt
động nghề ở hai làng Bối Khê và Vũ Lăng là những trường hợp thể hiện khá rõ nét
xu thế biến đổi nhiều mặt của nghề sơn truyền thống dưới tác động của các điều
kiện chủ quan và khách quan, đã và đang diễn ra rất phổ biến tại các làng nghề trên
địa bàn Thủ đô hiện nay. Sự biến đổi này là tất yếu và cần có để nghề sơn truyền


8

thống ở các làng Bối Khê và Vũ Lăng có thể tiếp tục duy trì và phát triển trong bối
cảnh hiện nay. Trước những tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ của nền kinh tế thị
trường, trong khi nhiều làng nghề sơn truyền thống đã không thể tiếp tục duy trì
nghề như Bình Vọng (Hà Nội), Đình Bảng (Bắc Ninh)…, nghề sơn truyền thống tại
hai làng Bối Khê và Vũ Lăng cho đến nay vẫn hoạt động khá tốt nhờ có sự nhạy
bén, chủ động thay đổi các mặt hàng sản phẩm phù hợp với bối cảnh mới. Tuy
nhiên, trong quá trình vận động biến đổi, ngành nghề sơn cổ truyền cũng phải đối
mặt với không ít khó khăn thách thức mà nếu thiếu vai trò điều tiết của Nhà nước
chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng hoạt động tự phát ở các làng nghề, nhiều giá trị có
nguy cơ bị mai một và mất đi trong một tương lai không xa.
Trước xu thế biến đổi nhiều mặt đã và đang diễn ra ngày càng sâu sắc của
nghề thủ công truyền thống ở khu vực Hà Nội, việc tìm hiểu, nắm bắt được sự vận
động biến đổi (bao gồm bản chất, tác nhân và hệ quả) của nghề sơn truyền thống ở
các làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng, qua đó định hướng cho ngành nghề này phát
triển dựa trên các cứ liệu khoa học là một trong những yêu cầu cấp thiết và có ý
nghĩa thiết thực đối với sự nghiệp gìn giữ và phát huy di sản văn hóa dân tộc cũng

nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam - Tập 6: Nghề chế tác đá, nghề sơn và
một số nghề khác do Trương Minh Hằng chủ biên [43]; Nghề sơn cổ truyền Việt
Nam của Lê Huyên [52]; Làng nghề sơn quang Cát Đằng của Nguyễn Lan Hương
[54]; Sơn mài Bình Dương - chất liệu và nghệ thuật thể hiện của Nguyễn Văn Minh
[73]; Kỹ thuật, chất liệu của sơn mài Việt Nam và Nhật Bản thế kỷ XX của Đặng
Thị Thu Hiền [44]; Sơn ta và nghề sơn truyền thống Việt Nam của nhiều tác giả
[115] v.v...
Một số làng nghề làm sơn nổi tiếng ở khu vực Hà Nội đã thu hút được sự chú
ý của các nhà nghiên cứu với nội dung chủ yếu là khảo tả hoạt động của làng nghề
trong quá khứ và hiện tại như: Nghề sơn cổ truyền ở Bình Vọng và Hạ Thái của
Trương Duy Bích và Trương Minh Hằng [6]; Làng nghề Sơn Đồng của Trương Duy
Bích và Nguyễn Thị Hương Liên [7]; Nghề sơn truyền thống làng Hạ Thái - xã
Duyên Thái - huyện Thường Tín - tỉnh Hà Tây của Nguyễn Xuân Nghị [74]; Văn
hóa làng Hạ Thái của Hoàng Thị Tố Quyên [94] v.v...
Tìm hiểu nghề sơn và làng nghề sơn truyền thống ở Việt Nam dưới góc độ
biến đổi bước đầu là chủ đề quan tâm của một số nhà nghiên cứu. Có thể kể đến ba


10

công trình tiêu biểu là những luận án tiến sĩ đã bảo vệ thành công, đều thuộc chuyên
ngành Văn hóa dân gian và chủ yếu sử dụng phương pháp tiếp cận của chuyên
ngành này như tiếp cận không gian văn hóa, tiếp cận thành tố văn hóa... Trước tiên
là luận án Nghề sơn truyền thống tỉnh Hà Tây của Nguyễn Xuân Nghị, được bảo vệ
năm 2008, công trình sau đó cũng được xuất bản thành sách có cùng tên [75]. Đối
tượng nghiên cứu của luận án là nghề sơn truyền thống ở Hà Tây cũ (nay là Hà Nội)
với hệ thống các làng nghề sơn đang và đã từng hoạt động trên địa bàn tỉnh, trong
đó tập trung khảo sát chủ yếu ba làng nghề được đánh giá là những làng nghề sơn
truyền thống tiêu biểu của tỉnh Hà Tây cũ là Bình Vọng, Hạ Thái và Sơn Đồng.
Nhìn tổng thể, công trình này đã phác họa thành công diện mạo nghề sơn truyền

[58]. Với đối tượng nghiên cứu là những chất liệu và kỹ thuật sử dụng trong chế tác
sản phẩm thủ công mỹ nghệ ở các làng nghề, cũng như trong sáng tác các tác phẩm
sơn mài hội họa của các họa sĩ chuyên nghiệp (đặc biệt tập trung nghiên cứu giai
đoạn từ năm 1925 đến nay), nhìn tổng thể, công trình này đã trình bày tương đối
toàn diện và hệ thống những đặc điểm cơ bản của nghệ thuật sơn mài Việt Nam
cùng vai trò và vị trí của nó trong nền văn hóa dân tộc. Ở góc độ cụ thể hơn, luận án
đã hệ thống hóa khá rõ nét những thay đổi của chất liệu và kỹ thuật của nghề sơn
qua các giai đoạn khác nhau dưới tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan.
Đồng thời, xác định rõ hai yếu tố này là những yếu tố căn bản tạo nên sức sống, bản
sắc của nghề sơn truyền thống cũng như có vai trò quan trọng trong việc ứng dụng,
sáng tạo của các nghệ nhân và nghệ sĩ sơn mài. Trên cơ sở đó, luận án đi đến khẳng
định rằng: sự vận động, biến đổi là quy luật khách quan, yếu tố tạo nên sự đa dạng
và phát triển, thể hiện sức sáng tạo phong phú của các thế hệ nghệ sĩ, nghệ nhân.
Kết quả nghiên cứu của luận án này đã góp phần bổ sung vào mảng chủ đề nghiên
cứu về sự biến đổi của nghề sơn trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam.
Có thể kết luận, mặc dù việc nghiên cứu nghề sơn truyền thống không phải là
mảng vấn đề mới song vẫn còn khoảng trống để các công trình tiếp theo nghiên cứu
bổ sung. Bởi lẽ, nghề sơn truyền thống ở một vài địa phương vẫn chưa được quan
tâm tìm hiểu để tương xứng với tiềm năng của ngành nghề cổ truyền này, trong đó
nghề sơn ở các làng Bối Khê - huyện Phú Xuyên và Vũ Lăng - huyện Thanh Oai là
những trường hợp tương đối điển hình. Hai làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng cho đến
thời điểm hiện tại hầu như chưa được nghiên cứu ngoại trừ việc được nhắc đến có


12

tính chất liệt kê, điểm qua ở một số công trình như Nghề sơn truyền thống tỉnh Hà
Tây của Nguyễn Xuân Nghị [75], bài viết Hà Tây với truyền thống sơn mài của
Nguyễn Văn Chuốt [26] và một số bài trên Internet với nội dung giới thiệu đôi nét
về làng nghề trong hoạt động quảng bá du lịch.

Nam, khu vực Hà Nội và các làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng.
- Tìm hiểu diện mạo của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê và Vũ
Lăng, Hà Nội trong diễn trình lịch sử bao gồm các yếu tố như nguồn gốc xuất hiện,
kỹ thuật chế tác, cơ cấu tổ chức nghề, tâm lý làm nghề…
- Xác định những giá trị tiêu biểu của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối
Khê và Vũ Lăng, Hà Nội; đối chiếu, so sánh với nghề sơn ở các làng nghề khác của
Hà Nội nói riêng và vùng châu thổ Bắc Bộ nói chung, qua đó làm rõ những nét riêng
biệt và những đóng góp của nghề sơn ở hai làng này cho di sản văn hóa dân tộc.
- Phân tích những biến đổi của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê và
Vũ Lăng, Hà Nội dưới tác động của cơ chế thị trường và quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa - mà thực chất đó là sự va chạm giữa truyền thống - hiện đại, thích nghi
- biến đổi, bảo tồn - phát triển.
- Xây dựng luận cứ khoa học trong việc định hướng để nghề sơn truyền
thống ở các làng Bối Khê, Vũ Lăng nói riêng cũng như các làng nghề khác ở khu
vực Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ nói chung có thể duy trì và phát triển trong thời
điểm hiện tại và tương lai theo hướng: trên cơ sở gìn giữ, kế thừa các giá trị truyền
thống vốn có, tiếp thu những thành tựu hiện đại, tiên tiến để sáng tạo những giá trị
mới phù hợp với thời đại mới, qua đó bổ sung và làm đa dạng thêm bản sắc văn hóa
dân tộc, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước trong thời kỳ Đổi mới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghề sơn truyền thống ở các làng Bối
Khê (huyện Phú Xuyên) và Vũ Lăng (huyện Thanh Oai), Tp. Hà Nội trong quá trình
vận động, biến đổi theo thời gian để thích nghi tồn tại. Đây vốn là hai làng nghề sơn
có lịch sử khá lâu đời và đã khẳng định được đặc trưng riêng ở các kỹ thuật cơ bản
của nghề sơn truyền thống là sơn mài, sơn thếp và sơn quang. Tuy nhiên, để làm rõ
diện mạo và sự đóng góp của nghề sơn ở các làng nghề trên, luận án sẽ mở rộng tìm
hiểu nghề sơn truyền thống ở một số làng khác trong khu vực Hà Nội cũng như vùng



ngày nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại


15

máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ
truyền thống, và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn
hóa đặc sắc của dân tộc [126, tr.12].
Chúng tôi xem đây là một trong những khái niệm hàm chứa khá đầy đủ và
chi tiết những tiêu chí cơ bản của một ngành nghề truyền thống. Ngoài ra, khái niệm
này cũng đã được nghiên cứu và mở rộng hơn, phù hợp với bối cảnh phát triển
mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, kéo theo việc can thiệp, hỗ
trợ sản xuất sản phẩm thủ công truyền thống của các quy trình công nghệ mới cũng
như các loại nguyên vật liệu mới [126, tr.12]. Từ trường hợp nghiên cứu của luận
án, có thể thấy nghề sơn cũng là một trong số hơn 2000 nghề thủ công truyền thống
của đất nước. Trên cơ sở kế thừa những quan điểm về nghề truyền thống của các
nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi đưa ra định nghĩa về nghề sơn truyền thống
trong bối cảnh hiện nay và coi đó là khái niệm mang tính công cụ của luận án.
Nghề sơn truyền thống là một trong những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất
hiện lâu đời trên đất nước ta, được truyền từ đời này qua đời khác và tồn tại đến
ngày nay, ở đó, ngoài những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền thống được
sáng tạo và lưu truyền bởi các thế hệ nghệ nhân còn bao gồm cả những phương
pháp chế tác được cải tiến hoặc những loại máy móc hiện đại được sử dụng để hỗ
trợ sản xuất, song về cơ bản vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và sản phẩm vẫn
thể hiện những nét văn hóa độc đáo của dân tộc.
Làng nghề sơn truyền thống
Tương tự như sự đa dạng trong quan niệm về nghề truyền thống, làng nghề
trên phương diện tổng thể cũng được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm tùy
theo chuyên ngành và mục tiêu nghiên cứu, song đa số các ý kiến đều đi đến thống
nhất nền tảng cơ bản của làng nghề là:

Làng nghề sơn truyền thống vốn là làng nông nghiệp, trong đó có duy trì
thực hành qua nhiều thế hệ nghề sơn truyền thống vốn đã tồn tại và phát triển lâu
đời với ít nhất 50% số hộ gia đình chuyên sống bằng nghề sơn, là nơi quy tụ đội
ngũ nghệ nhân và thợ lành nghề sử dụng kỹ thuật truyền thống với sự hỗ trợ của
công nghệ hiện đại ở mức độ nhất định để chế tác và bán những sản phẩm độc đáo
mang đậm dấu ấn văn hóa địa phương và bản sắc dân tộc.


17

Biến đổi nghề sơn truyền thống
Chúng ta đều biết rằng, mọi sự vật hiện tượng (trong đó bao gồm cả các hiện
tượng văn hóa) đều nằm trong quá trình vận động và biến đổi không ngừng. Sự vận
động, biến đổi này có thể do tự thân nội tại sự vật hiện tượng, cũng có thể do các tác
nhân bên ngoài[114, tr.34]. Hiểu một cách đơn giản nhất, theo Từ điển Tiếng Việt,
biến đổi là sự đổi khác [98, tr.95] hay biến đổi là thay đổi thành khác trước [82,
tr.61]. Trong khoa học xã hội nhân văn - đặc biệt là xã hội học, thuật ngữ biến đổi
thường được quan tâm dưới góc độ biến đổi xã hội. Xoay quanh chủ đề biến đổi xã
hội, có nhiều quan điểm lý thuyết về biến đổi xã hội như thuyết tiến hóa, thuyết duy
chức năng, thuyết duy xung đột… Trong đó, những vấn đề mà các nhà xã hội học
quan tâm thường là: quá trình biến đổi một hiện tượng xã hội diễn ra như thế nào,
xu hướng biến đổi, nguyên nhân của sự biến đổi… [114, tr.34]. Trong những năm
gần đây, thuật ngữ biến đổi còn được biết đến phổ biến hơn trong các công trình
nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa của các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài
như Lương Văn Hy [130], Nguyễn Duy Bắc [4], Nguyễn Thị Phương Châm [17],
Lương Hồng Quang [90], Louise S. Spindler [132], Ronald Inglehart, Wayne E.
Baker [131]… với rất nhiều quan điểm khác nhau về biến đổi văn hóa. Một trong số
đó, tác giả Nguyễn Duy Bắc trong một công trình nghiên cứu đã cho rằng: “… Một
cách hiểu rộng nhất, đó là một sự thay đổi so sánh với một tình trạng văn hóa hoặc
một nền văn hóa có trước dưới tác động của những nhân tố chính trị - kinh tế - xã

Hồng Quang [90], Nguyễn Thị Phương Châm [17] ...
Từ định hướng của luận điểm khoa học nêu trên, luận án sẽ chứng minh tính
tất yếu của quá trình biến đổi nghề sơn truyền thống ở các làng nghề Bối Khê và Vũ
Lăng được thể hiện xuyên suốt trên trục thời gian tồn tại và phát triển của nghề
truyền thống này. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố biến đổi thì vẫn có một số yếu
tố gần như bất biến và nó có vai trò nhất định trong quá trình tồn tại và phát triển
của nghề sơn.
- Luận điểm về biến đổi nghề truyền thống và làng nghề truyền thống
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình đa dạng về các mô
hình biến đổi và các cấp độ biến đổi được thể hiện trong một số công trình nghiên
cứu của các tác giả: Mai Thế Hởn [47], Trần Minh Yến [126], Dương Bá Phượng
[86]... Liên hệ với đề tài luận án, chúng tôi cũng đã nhận thấy một quá trình biến đổi


19

có tính chất đa dạng về mô hình và cấp độ biến đổi trong các khía cạnh của nghề
sơn truyền thống ở các làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng trước sự chuyển biến sâu sắc
trong đời sống kinh tế - xã hội và quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp,
nông thôn.
4.2. Phương pháp tiếp cận
Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu của luận án là nghề sơn truyền thống
trong quá trình biến đổi đa dạng và phức tạp, chúng tôi lựa chọn phương pháp tiếp
cận liên ngành Văn hóa học với hy vọng đó là phương pháp tiếp cận hữu hiệu nhất
cho đề tài luận án bởi xét về mặt lý thuyết thì: “Văn hóa học - như là một khoa học
độc lập mang tính tổng hợp và liên ngành” [99, tr.226], theo đó “Văn hóa học xem
xét văn hóa với tư cách là một hiện tượng xã hội tổng thể, vì thế nó cần phải nghiên
cứu cùng một lúc nhiều phương diện của một hiện tượng và bằng nhiều cách tiếp
cận khác nhau” [99, tr.192]. Phương pháp tiếp cận liên ngành có sự đóng góp khoa
học của nhiều chuyên ngành khác nhau sẽ là một trong những công cụ lý thuyết hỗ

làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng là tất yếu và cần thiết trong bối cảnh đương đại.
Nhằm đạt được điều này, chúng tôi thực hiện thao tác phân tích - so sánh. Theo đó,
các kết quả nghiên cứu sẽ được đúc rút từ việc phân tích - so sánh các sự việc, hiện
tượng ở một số vùng địa lý khác nhau, qua đó để tìm ra cái khái quát và cả những
cái đặc thù. Điều đó có nghĩa là, trong quá trình nghiên cứu, nhà nghiên cứu cần
phải tiến hành mô tả phân tích để vừa hiểu được các sắc thái đa dạng của hiện tượng
văn hóa đồng thời lại đưa ra được những đặc điểm chung. Trong luận án sẽ có sự
phân tích - so sánh nghề sơn truyền thống ở các cấp độ: nghề sơn ở Việt Nam với
nghề sơn ở một số quốc gia khác, nghề sơn ở hai làng Bối Khê và Vũ Lăng trong
quá trình tồn tại và phát triển của nó, nghề sơn ở hai làng với nghề sơn tại một số
làng nghề khác ở châu thổ Bắc Bộ... Bên cạnh đó, việc phân tích - so sánh còn được
thực hiện ở nguồn thông tin thu được từ các đối tượng được phỏng vấn là các nghệ
nhân, các nhà nghiên cứu với những nhà quản lý và thi hành chính sách. Có thể nói,
thao tác phân tích - so sánh sẽ được chúng tôi thực hiện xuyên suốt trong từng bước
của quá trình nghiên cứu từ phát triển khung nghiên cứu, tiến hành nghiên cứu tại
thực địa, xử lý thông tin và viết báo cáo.
Ngoài ra, chúng tôi còn lưu ý đến những bối cảnh (quá khứ và hiện tại) mà
nghề sơn truyền thống tồn tại với những sự kiện, những vấn đề ảnh hưởng tác động


21

lên nó. Để nghiên cứu bối cảnh của nghề sơn, chúng tôi chủ trương mở rộng trọng
tâm của nghiên cứu ra khỏi từng cá nhân đơn lẻ cũng như kiến thức và thực hành
của họ. Thay vào đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu các động lực xã hội như sự khó khăn
về kinh tế, các nhu cầu đòi hỏi về mặt chính trị, xã hội, văn hóa... Đây chính là
những yếu tố sẽ giúp giải thích các hành động của chủ thể văn hóa, tránh được cái
nhìn phiến diện, chủ quan khi nghiên cứu. Có thể nói rằng nghiên cứu về bối cảnh
chính là tìm câu trả lời cho câu hỏi “Ai đang nói (hoặc làm) gì và tại sao?”.
Ở những đề tài có liên quan đến việc lý giải sự biến đổi của một trong những

dụng lý thuyết xung đột trong phân tích văn hóa, cụ thể là ở trường hợp nghề sơn
truyền thống trong đề tài luận án này có thể nhận thấy sự xung đột (hay tương tác )
diễn ra ở nhiều cấp độ, nhiều phương diện trong hệ thống các yếu tố của nghề sơn
truyền thống, mà ở góc độ phổ quát nhất chính là xung đột giữa truyền thống - hiện
đại, giữa thích nghi - biến đổi, giữa bảo tồn - phát triển, giữa kinh tế - văn hóa cùng
với đó là những lý do xã hội tiềm ẩn đằng sau những xung đột ấy.
Việc khai thác chức năng dự báo và chức năng quản lý các vấn đề xã hội của
ngành xã hội học cũng được chúng tôi quan tâm trong luận án, bởi đây sẽ là cơ sở
giúp nhận thức được những thuộc tính của nghề sơn truyền thống ở hai làng, từ đó
có thể đưa ra xu hướng tương lai và cung cấp cứ liệu khoa học có tính khả thi cho
việc hoạch định chính sách quản lý. Theo đó, xu hướng vận động của nghề sơn
truyền thống ở hai làng trong thời gian tới cũng được bàn đến dựa trên kết quả khảo
sát thực trạng nghề sơn truyền thống và cơ sở lý luận của đề tài luận án là một số cơ
sở lý thuyết, luận điểm khoa học như chúng tôi đã đề cập ở phần trên. Trên cơ sở
quán triệt quan điểm coi trọng mối quan hệ hai chiều: lãnh đạo các cấp và nhân dân
làng nghề, đồng thời căn cứ vào những kết quả thực nghiệm có được từ cách tiếp
cận văn hóa học mang tính liên ngành, chúng tôi cũng nêu ra định hướng phát triển
cho nghề sơn truyền thống ở hai làng Bối Khê và Vũ Lăng trong tương lai.
Ở đề tài luận án, xét dưới góc độ triết học văn hóa, nghề sơn truyền thống một hiện tượng văn hóa được chúng tôi tiếp cận với tư cách là một phương diện đời
sống xã hội. Quá trình mô tả văn hóa là tất yếu phải có, song cái đích cuối cùng mà
luận án cần phải đạt được chính là tìm ra được bản chất của quá trình biến đổi này
là gì và lý giải nó bằng tư duy logic được tổng hợp từ kiến thức liên ngành của văn


23

hóa học. Với ý nghĩa là một phương diện đời sống xã hội thì văn hóa vốn là cái biến
đổi liên tục như cuộc sống vốn có, nhưng ở mức độ nào đó, vẫn bảo lưu nhiều giá
trị có sức sống trường tồn. Đó là những giá trị tổng hòa chân - thiện - mỹ cộng
hưởng trong một khách thể văn hóa qua thời gian được giữ lại, trở thành khuôn mẫu

như Vũ Lăng. Lý do có lẽ bởi mặt hàng này gắn với đời sống tâm linh vốn khá tĩnh
tại và không dễ gì thay đổi cùng với quy định nghề nghiệp đòi hỏi tính chuẩn mực
cao, có phần khắt khe hơn so với các làng nghề làm đồ thủ công mỹ nghệ thiên về
sự năng động do phải phụ thuộc nhiều vào thị hiếu khách hàng. Trong khi các làng
nghề như Bối Khê đã rất thịnh hành việc dùng nhiều chất liệu mới hiện đại trong
việc làm cốt/vóc như đã đề cập, thì Vũ Lăng vẫn duy trì chất liệu gỗ truyền thống từ
bao đời nay trong chế tác đồ thờ. Hoặc như các loại hình sản phẩm vốn đã nằm
trong một hệ thống chuẩn của các làng nghề chế tác đồ thờ cũng gần như không có
gì thay đổi so với trước. Trên bình diện cấu trúc chiều sâu đó còn là những đức tin
tâm linh ở nghề chế tác đồ thờ (quan niệm về tầm quan trọng của chữ Tâm trong
chế tác đồ thờ để mỗi sản phẩm (nhất là tượng thờ) có được cái hồn và đảm bảo
được tính thiêng vẫn được coi trọng) và những hệ thống giá trị của nghề sơn truyền
thống ở cả hai làng nghề. Nghề sơn truyền thống như bất kỳ một hiện tượng văn hóa
nào chứa đựng hệ giá trị phổ quát là chân - thiện - mỹ, trong đó cái Đẹp hướng con
người tới lý tưởng, tới sự hoàn thiện, hoàn mỹ và cái thiêng. Cái Đẹp luôn được
xem là hệ giá trị cao nhất, là chuẩn mực bao quát nhất, vì vậy, cho dù nguyên liệu,
công nghệ chế tác có thay đổi thì thành quả cuối cùng của nghệ nhân vẫn là những
sản phẩm mà ở đó tiêu chí Đẹp luôn được coi trọng hàng đầu. Hiện tượng nhiều sản
phẩm sơn truyền thống hiện nay có chất lượng không cao lắm song vẫn có hình
thức bên ngoài bắt mắt hấp dẫn được khách hàng là ví dụ khá rõ về vấn đề này. Một
khía cạnh nữa cũng cần phải nói tới đó là: mặc dù ở các làng nghề như Bối Khê, Vũ
Lăng đang thịnh hành lối sản xuất mới hiện đại, song bí quyết nghề nghiệp với
những ngón nghề vẫn đang được cất giữ, bảo lưu trong tâm thức của mỗi nghệ
nhân. Chính vì vậy, khi được chúng tôi phỏng vấn, phần lớn các nghệ nhân làng
nghề đều cho biết: hiện nay họ đang chế tác đồ sơn theo công nghệ mới nhưng nếu
được yêu cầu chế tác sản phẩm bằng chất liệu sơn ta hoàn toàn theo lối truyền thống
thì họ vẫn có thể thực hành được một cách thuần thục.


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status