BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THÙY YẾN NHI
KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÁT
TRIỂN HOA KIỂNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NHÀ BÈ –
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CẢNH QUAN & KỸ THUẬT HOA VIÊN
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2009
MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING
NÔNG LÂM UNIVERSITY – HỒ CHÍ MINH CITY
NGUYEN THUY YEN NHI
SURVEYING, ASSESSING AND GIVING PROPOSALS IN
DEVELOPING ORNAMENTAL PLANTS AND FLOWERS AT
NHA BE DISTRICT, HO CHI MINH CITY TO 2015
GRADUATED THESIS
DEPARTMENT OF LANDSCAPING AND ENVIRONMENTAL
HORTICULTURE
Trân trọng cảm ơn Trung tâm Khuyến Nông đã tạo mọi điều kiện để giúp đỡ
tôi trong quá trình điều tra, thu thập số liệu.
Trân trọng cảm ơn các thầy cô ở Bộ môn Cảnh quan và Kỹ thuật Hoa viên đã
tận tâm dạy dỗ chúng tôi trong suốt 4 năm học.
Cám ơn tập thể lớp Cảnh quan và Kỹ thuật hoa viên khóa 31 và các bạn thân
đã chia sẻ cùng tôi trong quá trình học tập và sinh hoạt.
Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
thực hiện đề tài.
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình luôn sát cánh, chia
sẻ, cổ vũ và giúp đỡ để tôi có được như ngày hôm nay.
Chân thành Cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thùy Yến Nhi
ii
TÓM TẮT
Đề tài “ Khảo sát, đánh giá và đề xuất biện pháp phát triển hoa kiểng trên địa
bàn huyện Nhà Bè – Tp. Hồ Chí Minh đến năm 2015 ” được tiến hành từ tháng
02/2009 đến 07/2009 kết quả đạt được:
Về quy mô sản xuất hoa lan trên địa bàn huyện đạt 1,84 ha, cơ cấu giống
Mokara chiếm tỉ lệ cao nhất với 48,64%, kế đến là Dendrobium chiếm tỉ lệ
44,84%, còn lại là các loại khác như Catlleya chiếm tỉ lệ ít khoảng 6,6%.
Đánh giá và phân tích (SWOT) tiềm năng phát triển nghề trồng hoa lan trên
địa bàn huyện.
Đề xuất giải pháp phát triển ngành hoa kiểng huyện Nhà Bè – TP. Hồ Chí
Minh đến 2015:
7. Consumption market.
iv
MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa
i
Cảm ơn
ii
Tóm tắt
iii
Summary
iv
Mục lục
v
Danh sách các chữ viết tắt
vii
kiểng tại Thành Phố Hồ Chí Minh
5
Chương 3
13
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
13
NGHIÊN CỨU
13
3.1. Mục tiêu đề tài
13
3.2. Nội dung nghiên cứu
13
3.2.1. Khảo sát những xã đã sử dụng diện tích đất nông nghiệp để sản
xuất hoa kiểng
13
3.2.2. Điều tra phương thức canh tác và công nghệ được áp dụng vào
Chương 4
17
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
17
4.1. Khảo sát 4 xã có sản xuất hoa, kiểng.
17
4.2. Điều tra phương thức canh tác và công nghệ được áp dụng vào
sản xuất bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế.
18
4.3. Điều tra chủng loại hoa, cây kiểng được trồng chủ yếu trên địa
bàn huyện và thu nhập do sản xuất mang lại cho các hộ dân
20
4.4. Đánh giá hiện trạng dựa trên tình hình thực tế khảo sát.
24
4.4.1. Phân tích và đánh giá hiện trạng
24
4.5.3.1. Chủng loại lan
32
4.5.3.2. Thiết kế vườn
32
4.5.3.3. Áp dụng rộng rãi công nghệ tưới bán tự động, tự động
34
4.5.3.4. Kiểm soát dịch bệnh
34
vi
4.5.4. Nguồn nước tưới
35
4.5.5. Về vốn
36
4.5.6. Về đào tạo tay nghề,nâng cao năng lực sản xuất cho nông dân
36
m = mét
cm = centimet
m2 = mét vuông
km2 = kilomet vuông
SWOT (Strenghs Weaknesses Opportunitives Threats)
viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH
TRANG
Hình 4.1: Mô hình trồng Dendrobium trong chậu, giỏ đặt trên sạp
18
Hình 4.2: Mô hình trồng Catlley trong giỏ treo trên giàn.
18
Hình 4.3: Mô hình trồng Mokara tại xã Nhơn Đức
19
Hình 4.4: Mô hình Dendrobium áp dụng hệ thống tưới bán tự động
20
22
ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG
TRANG
Bảng 2.1: Tình hình phát triển diện tích hoa, cây kiểng trên địa bàn
thành phố từ năm 2004 – 2006 và dự báo đến năm 2010.
6
Bảng 4.1: Cơ cấu giống lan trong các khu vực sản xuất kinh doanh lan
năm 2005 của TP. Hồ Chí Minh.
23
Bảng 4.2: Phân bố giống trong các khu vực năm 2005.
23
Bảng 4.3: Chi phí sản xuất – thu nhập 1ha lan Dendrobium cắt cành.
29
Bảng 4.4: Chi phí sản xuất – thu nhập 1 ha lan Mokara cắt cành
1
triển hoa kiểng trên địa bàn huyện Nhà Bè – Tp. Hồ Chí Minh đến năm 2015”
nhằm góp phần vào sự phát triển chung đó.
Giới thiệu chung về huyện Nhà Bè – TP. HCM
Huyện Nhà Bè nằm về phía Đông Nam của TP. HCM. Phía Nam giáp huyện
Cần Giuộc tỉnh Long An. Phía Đông giáp huyện Cần Giờ và huyện Nhơn Trạch tỉnh
Đồng Nai. Phía Tây giáp huyện Bình Chánh và phía Bắc giáp Quận 7, TP.HCM.
Có tổng diện tích tự nhiên là 100,41 km2 chia theo đơn vị hành chánh gồm
một thị trấn và sáu xã nông thôn. Dân số trung bình 73.244 nhân khẩu trong đó nữ:
37.619. Thị trấn có số dân cao nhất 17.264 nhân khẩu, ít nhất là xã Phước Lộc với
4.641 nhân khẩu.
Huyện Nhà Bè có một hệ thống sông ngòi thuận lợi cho việc mở rộng mạng
lưới giao thông đường thủy đi khắp nơi, có điều kiện xây dựng các cảng nước sâu
đủ sức tiếp nhận các tàu có tải trọng lớn cập cảng.
Giới hạn của đề tài
Đề tài được thực hiện từ tháng 02/2009 đến tháng 7/2009, chỉ tập trung khảo
sát, điều tra, đánh giá tình hình sản xuất và kinh doanh trên đối tượng hoa kiểng tại
địa bàn huyện Nhà Bè, mà cụ thể là tại các hộ sản xuất và kinh doanh hoa lan cắt
cành. Do huyện Nhà Bè chỉ mới phát triển nghề trồng hoa lan tại 4 số xã bao gồm:
Long Thới, Phú Xuân, Nhơn Đức và Phước Kiển, riêng về kiểng và một số loại hoa
khác chỉ được trồng với mục đích trang trí nhà cửa.
2
Chương 2
TỔNG QUAN
có tiềm năng. Diện tích hoa hiện nay không chỉ tập trung ở các vùng trồng hoa
truyền thống mà đã mở rộng phát triển ở nhiều vùng khác, thậm chí ngay cả một số
tỉnh duyên hải miền Trung cũng bắt đầu phát triển sản xuất hoa cắt cành theo hướng
hàng hoá, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ, với chủng loại tương đối hạn chế.
Thành phố Hà Nội có kế hoạch mở rộng diện tích trồng hoa Tây Tựu lên 500 ha.
Huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) có 230 ha trong tổng số 400 ha đất nông nghiệp
chuyên canh hoa. Năm 2002, huyện Hưng Hà (Thái Bình) cũng trồng thử 10 ha hoa
hồng xuất khẩu sang Trung Quốc, năm đầu đạt 160 triệu đồng/ha, mở ra hướng phát
triển nghề trồng hoa trên quê lúa.
Lâm Đồng là một trong những tỉnh tại khu vực phía Nam có diện tích trồng
hoa và sản lượng hoa lớn nhất nước và là nguồn cung cấp hoa chủ yếu cho thị
trường TP. Hồ Chí Minh.
Diện tích sản xuất hoa nay đã có thể đáp ứng được nhu cầu trước mắt của thị
trường nội địa, nhất là ở các thành phố lớn. Bên cạnh đó, hoa của Việt Nam cũng đã
được xuất khẩu sang các thị trường khó tính trên thế giới.
Hiện nay, Việt Nam đã cải tiến kỹ thuật trong sản xuất và nhân giống hoa
kiểng, đặc biệt kỹ thuật nhân giống hoa bằng công nghệ sinh học in vitro đã được
ứng dụng. Bên cạnh đó, kỹ thuật trồng hoa trong nhà kính, nhà lưới với hệ thống
tưới phun, chăm sóc tự động cũng đang được phổ biến, đặc biệt là ở Đà Lạt, Đức
Trọng (Lâm Đồng) .
Tuy chủng loại hoa kiểng của Việt Nam khá phong phú nhưng thiếu giống
hoa kiểng đẹp và mới lạ, chất lượng cao. Nguyên nhân chủ yếu là do các nhà vườn,
cơ sở sản xuất vẫn chưa áp dụng rộng rãi tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào sản xuất
thường chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và phương pháp nhân giống cổ truyền.
4
Hiện Việt Nam đang có cơ cấu hoa phù hợp với thị hiếu nhập khẩu của một
số nước như Trung Quốc, Nhật Bản, và các nước Tây Âu, với 35 – 40% tổng diện
Bảng 2.1: Tình hình phát triển diện tích hoa, cây kiểng trên địa bàn thành
phố từ năm 2004 – 2006 và dự báo đến năm 2010
STT
Chủng loại
Dự
Cơ cấu năm
2006 (%)
Năm
Năm
Năm
kiến
2004
2005
2006
năm
2010
(ha)
2
Hoa nền
155
403
534
400
344,52
133,50
4
Mai
190
225,5
256,9
170
135,21
591,5
(Nguồn: Sở Nông Nghiệp và PTNT TP. HCM, năm 2006)
Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là nơi tiêu thụ mà còn là nơi trung
chuyển hoa, cây kiểng rất lớn của cả nước. Hoa kiểng được sản xuất trên địa bàn
hay hoa từ các tỉnh đều được tập trung về thành phố làm nơi tiêu thụ chính, cả ngày
thường và các dịp lễ, Tết, các đầu mối xuất khẩu cũng tập trung chủ yếu ở đây.
Từ năm 2004 đến nay, diện tích gieo trồng hoa cây kiểng tăng nhanh, cụ thể như
sau:
Năm 2004, diện tích gieo trồng hoa kiểng thành phố là 591,5 ha, tập trung
ở quận 12: 180 ha, huyện Bình Chánh: 154 ha, với hơn 1.400 hộ tham gia
sản xuất.
Năm 2005, tổng diện tích gieo trồng hoa, cây kiểng của toàn Thành phố là:
848,5 ha, tập trung ở quận Thủ Đức (125 ha), quận 12 (120 ha). Diện tích
6
hoa, cây kiểng ở quận 12, quận Gò Vấp có chiều hướng giảm ở một số khu
vực đô thị hoá nhanh, nhưng ở các quận Thủ Đức, huyện Bình Chánh, Củ
Chi lại tăng.
Năm 2006, diện tích gieo trồng hoa, cây kiểng đạt 1.005,2 ha tăng 413,7 ha
Hoa nền: chủng loại các giống hoa nền sản xuất trên địa bàn thành phố
khoảng trên 10 giống chính bao gồm: Cúc, Vạn thọ, Huệ, Thược dược,
Hướng dương, Sống đời, Mào gà, Mãn đình hồng… có diện tích gieo trồng
534 ha (chiếm 53,12% diện tích hoa, cây kiểng). Các giống hoa truyền thống
vẫn được tập trung sản xuất nhiều như Vạn thọ (chiếm 47%), Sống đời
(chiếm 15%), Cúc (chiếm 14,7%), Huệ (chiếm 13,7%), Hướng dương
(chiếm 10,9%). Tùy theo từng địa phương, sự phân bố của các loại hoa nền
cũng rất khác nhau:
- Quận Gò Vấp, quận 12, huyện Hóc Môn trồng chủ yếu Vạn thọ, Cúc.
- Huyện Bình Chánh trồng chủ yếu hoa Huệ trắng, Sống đời.
Các loại cây, hoa kiểng khác như: Sứ thái, bon sai, kiểng công trình,
kiểng lá được trồng rộng rãi ở các quận huyện với diện tích gieo trồng là
150 ha , chiếm 14,9% diện tích hoa, cây kiểng.
Về việc tiêu thụ và kinh doanh hoa, cây kiểng, TP. Hồ Chí Minh là đầu mối
cung cấp hoa kiểng cho cả nước và là cửa ngỏ xuất khẩu. Ngoài ra, TP. HCM còn
hình thành hệ thống dịch vụ cung ứng, tạo động lực phát triển và tiêu thụ hoa kiểng
cả nước. Thị trường hoa kiểng hiện nay chủ yếu vẫn là thị trường trong nước. TP.
HCM là nơi tiêu thụ hoa tươi, đặc biệt là hoa phong lan với số lớn nhưng hiện
tượng hoa sản xuất tại chỗ chỉ mới đáp ứng được 15% nhu cầu, một số được đưa về
từ Đà Lạt (chiếm 35%) và phần lớn (chiếm 50%) là phải nhập từ nước ngoài như
Thái Lan, Đài Loan. Chủ yếu là hoa lan và các loại hoa cắt cành khác. Ngoài ra hoa,
cây kiểng còn là đối tượng thường xuyên tham gia những hội chợ hoa lớn được tổ
chức hàng năm và các dịp lễ, Tết. Hiện nay, việc sản xuất hoa lan ở TP.HCM chưa
cao. Các điểm kinh doanh hoa kiểng phân phối đều khắp từ nội thị đến ngoại thành.
Doanh số kinh doanh ước tính đạt 200 – 300 tỷ đồng/năm với khoảng 1.400 cơ sở
kinh doanh dịch vụ hoa, cây kiểng với quy mô và nhiều loại hình dịch vụ khác
nhau. Thị trường tiêu thụ hoa kiểng của TP.HCM chủ yếu vẫn là trong nước.
Sản phẩm được các nơi công sở ưa chuộng là những chậu phong lan (Hồ điệp),
mai, cây kiểng; qui trình tương tự như loại hình cho thuê mai kiểng ngày Tết, nghĩa
9
là nhà cung cấp dịch vụ sẽ cho thuê phong lan theo như yêu cầu của khách hàng, cử
người chăm sóc định kỳ, sau một thời gian nhất định sẽ thay sản phẩm khác để có
thời gian “bảo hành” sản phẩm trước đó. Các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Bình
Dương và một số tỉnh miền Tây (Bến Tre, Đồng Tháp) cung cấp nguyên liệu giống
dùng làm bon sai và kiểng cổ hoặc kiểng dạng sơ chế. Các tỉnh phía Bắc cung cấp
một số loại cây đặc biệt như:Mật cật, trúc Quan Âm, trúc Phật Bà, Si, Thiên tuế và
cung cấp các dịch vụ về non bộ (Hải Phòng).
TP.HCM còn là đầu mối nhập khẩu các chủng loại hoa kiểng, nhập hạt giống
và các loại hoa kiểng ở các nước khác cung ứng cho thành phố và các tỉnh. Đồng
thời các hộ sản xuất ở tỉnh và thành phố xuất khẩu hoa kiểng thông qua ủy thác của
Saigon Orchidex, Artex Saigon và một số đơn vị khác. Nhu cầu hoa kiểng của
người tiêu dùng thành phố vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ. Theo điều tra của Sở
Nông nghiệp và phát triển nông thôn TP.HCM, có nhiều cửa hàng bán hoa nhập lan
cắt cành từ Thái Lan tổng cộng mỗi tuần hơn 20.000 cành. Tính riêng lan cắt cành,
mỗi năm thành phố nhập hơn 4 tỉ đồng.
Các cửa hàng kinh doanh với nhiều chủng loại trong đó chủ yếu là các loại hoa
cao cấp, hoa phong lan có giá trị cao. Tại hầu hết các cửa hàng đều có sự hiện diện
của hoa hồng tiếp đến là nhóm hoa cẩm chướng với các loại hoa Ly ly và hoặc
Tulip. Đây là những giống hoa nhập nội đã được trồng thành công ở Đà Lạt và đem
về cung cấp cho thị trường thành phố. Loại hoa này có giá cả cao hơn hoa hồng và
bao gồm: Mai chiếu thủy, Sanh, Si, Khế, Cùm rụm, Dương xỉ, Nguyệt quế, Cần
thăng, Đa, Bồ đề, Phát tài, Thắt bím, Mai vàng… Thị trường chủ yếu là Châu Á
như: Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc, Singapore, Nhật, Malaysia, Hàn Quốc,
Campuchia… gần đây một số lượng nhỏ được xuất sang thị trường Mỹ, Hà Lan,
Pháp, Canada. Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu chưa ổn định còn nhiều bất cập như
khả năng đáp ứng đơn hàng với số lượng lớn có độ đồng đều nhất định.
11
Kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt từ 2 – 2,5 triệu USD, trong đó riêng Công
ty Fosaco đã xuất 1 – 1,5 triệu USD/năm với mặt hàng chủ yếu là cây thắt bím
(Panchira) sang thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, Hà Lan, Nhật, Mỹ.
Về nhập khẩu, hịên nay, hạt giống hoa được nhập về để gieo trồng với nhiều
chủng loại như: Bất tử, phong lan, Cẩm nhung cúc, Dạ yến thảo, Mai địa thảo,
Hướng dương, Thạch thảo, Pháo hoa, Phi yến, Pensée, Phụng tiên, Phù dung,
Thược dược,… từ các nước như: Úc, Thái Lan, Đài Loan, NewZealand, Pháp,
Indonesia. Đặc biệt có một số cửa hàng nhập hoa lan thẳng từ Thái Lan về kinh
doanh dưới dạng sỉ và lẻ.
Cây kiểng nhập chủ yếu là hạt giống ở một số loài như: Panchira, Dừa Hawaii, cau
các loại, Trúc đào, Dâm bụt. Chỉ một số ít cây kiểng được nhập nguyên cây với các
giống lạ Du, Phong (Trung Quốc), không có hiện tượng nhập, kiểng cổ.
Tại thành phố, cây kiểng chủ yếu được xuất khẩu nhiều hơn là nhập khẩu. Theo số
liệu khảo sát của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP.HCM trong năm 2003
doanh số kinh doanh hoa, cây kiểng đạt 200 – 300 tỉ đồng nhưng đến năm 2005 đã
tăng đến 600 – 700 tỉ đồng và ngay từ đầu năm 2006 doanh số đạt được 400 tỉ đồng.
Vốn đầu tư vào hoa lan của thành phố khá cao khoảng 600 – 800 triệu đồng/ha/năm,
cây cảnh từ 200 triệu đến 2 tỷ đồng/ha. Trung bình mỗi năm, thành phố thu nhập từ
lan cắt cành (Dendrobium, Mokara) từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng/ha, cây cảnh từ
600 triệu đến 1 tỷ đồng/ha.