MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng ta chủ trương phát triển giáo dục theo quan điểm “Chuẩn hóa, hiện
đại hóa và xã hội hóa”, vì vậy, tất cả các điều kiện phục vụ dạy học như: đội
ngũ, cơ sở vật chất, chương trình, yêu cầu về kiến thức, kỹ năng đều phải được
từng bước chuẩn hóa.
Trong thời gian qua, vấn đề xây dựng chuẩn nghề nghiệp cho đội ngũ giáo
viên ở các ngành học, bậc học đã được quan tâm. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa
có bộ chuẩn dành cho giáo viên các trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX).
Đối với học sinh bổ túc trung học phổ thông (BTTHPT) tại các trung tâm
GDTX, do những khó khăn về trình độ nhận thức của học sinh đầu vào và điều
kiện học tập nên vấn đề năng lực nghiệp vụ sư phạm của người giáo viên có ý
nghĩa rất quan trọng, quyết định đến chất lượng dạy và học của các trung tâm.
Hiện nay, thành phố Đà Nẵng có 08 trung tâm GDTX có tiếp nhận học
sinh vào học chương trình BTTHPT với gần 5.000 học sinh tham gia học tập.
Đối tượng học sinh vào học tại trung tâm phần lớn là các em có học lực hạn chế
(không có đủ điều kiện để vào học các trường trung học phổ thông (THPT)
công lập hoặc tư thục), bên cạnh đó cũng có rất nhiều em có hoàn cảnh gia đình
khó khăn. Đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy được hợp đồng từ nhiều nguồn
khác nhau đã gây khó khăn không nhỏ trong quá trình chỉ đạo chuyên môn để
đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng giáo dục. Trong khi đội
ngũ này đã rất nỗ lực nhưng vẫn khó có thể nâng cao chất lượng đại trà của bậc
học (tỉ lệ học sinh tốt nghiệp hàng năm đạt từ 40% đến 50%). Các trung tâm
GDTX đang thật sự lúng túng trong quá trình tuyển dụng, bồi dưỡng giáo viên
khi chưa có một bộ tiêu chí đánh giá sát thực, cụ thể, phù hợp với môi trường
giáo dục vốn có nhiều khó khăn của loại hình này.
Xuất phát từ những vấn đề trên, trong thời điểm hiện nay, việc xây dựng
tiêu chí đánh giá năng lực nghiệp vụ sư phạm của giáo viên GDTX cấp THPT
4
xây dựng bộ chuẩn nghề nghiệp giáo viên, trong đó, bên cạnh các yêu cầu về
trình độ chuyên môn đã được xác định, tập trung vào xây dựng các tiêu chí
đánh giá nghiệp vụ sư phạm của giáo viên.
Ở Hoa Kỳ, người ta yêu cầu giáo viên phải đạt được các yêu cầu về
nghiệp vụ sư phạm thông qua hiệu quả thực hiện 3 hoạt động (các yêu cầu này
được áp dụng cho 3 loại giáo viên giảng dạy học sinh là nhi đồng, thiếu niên và
vị thành niên):
+ Chuẩn bị cho học sinh học tập (bao gồm: am hiểu về học sinh, coi
trọng người học và am hiểu về nội dung môn học);
+ Hướng dẫn học sinh học tập (bao gồm: am hiểu về phương pháp học
tập, hiểu biết xã hội và phát triển năng lực công dân);
+ Hỗ trợ học sinh học tập (bao gồm: tài nguyên giảng dạy, môi trường
học tập, đánh giá, phản hồi, cộng tác với gia đình, đóng góp nghề nghiệp).
6
Các yêu cầu về nghiệp vụ sư phạm giáo viên của Hoa Kỳ bao quát được
tất cả các khâu của quá trình dạy học, qua đó, giúp cho giáo viên tự đánh giá
được năng lực nghề nghiệp của mình để có những định hướng phù hợp trong
việc đào tạo, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao trình độ.
Các yêu cầu về năng lực nghiệp vụ sư phạm của giáo viên ở Anh được
xây dựng tương ứng với 5 giai đoạn phát triển nghề nghiệp, gắn với 5 loại chức
danh (ngạch bậc) giáo viên. Ở đây, 5 loại giáo viên, bao gồm: giáo viên tập sự,
giáo viên, giáo viên chính, giáo viên giỏi, giáo viên cao cấp sẽ được đánh giá
với số lượng tiêu chí khác nhau theo hướng tăng dần theo cấp trình độ của giáo
viên. Yêu cầu đối với một loại giáo viên bằng chuẩn của giáo viên thấp hơn
loại liền kề, có bổ sung thêm một số tiêu chí. Các tiêu chí được thiết kế với 3
cấp độ của năng lực nghề nghiệp, phản ánh được các yêu cầu về năng lực
nghiệp vụ sư phạm của giáo viên, bao gồm: thuộc tính nghề nghiệp, kiến thức
1.2.1. Năng lực
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học “năng lực” là tổng hợp các đặc
điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một
hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các
năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân đóng vai trò
quan trọng. Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có,
phần lớn hình thành do công tác, do tập luyện.
Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung
và năng lực chuyên môn.
+ Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác
nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực
tưởng tượng.
+ Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của
xã hội như năng lực tổ chức , năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ,
toán học...
Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với
nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn, nếu chúng càng phát
triển thì càng dễ thành đạt được năng lực chuyên môn. Ngược lại sự phát triển
của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối
với sự phát triển của năng lực chung. Trong thực tế, mọi hoạt động có kết quả
và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải có năng lực chung phát triển ở một
trình độ cần thiết và có một số năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực
8
công việc của mình. Những năng lực cơ bản này không phải là bẩm sinh, mà nó
phải được giáo dục phát triển và bồi dưỡng ở con người. Năng lực của một
người phối hợp trong mọi hoạt động là nhờ khả năng tự điều khiển, tự quản lý,
tự điều chỉnh ở mỗi cá nhân, được hình thành trong quá trình sống và giáo dục
lao động không mệt mỏi là con đường phát triển năng lực nghề nghiệp của mỗi
cá nhân.
Như vậy, có thể nói: năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá
nhân, thuộc tính tâm lí cá nhân và là điều kiện thực hiện có kết quả một họat
động xác định. Nói tới năng lực là đề cập đến khả năng có thể đạt được kết quả
tốt trong hoạt động cụ thể mà cá nhân thực hiện (năng lực học tập; năng lực
làm việc trong một nghề riêng biệt; năng lực tổ chức quản lý;…). Năng lực của
mỗi cá nhân được tôi luyện và phát triển trong hoạt động cụ thể trên cơ sở của
tiềm năng sẵn có nào đó của từng cá nhân. Năng lực nghề nghiệp được hình
thành và phát triển trong môi trường nghề cụ thể nào đó (nghề bác sĩ, nghề thiết
kế, thi công xây dựng, nghề dạy học, nghề trồng trọt, chăn nuôi…). Muốn hình
thành năng lực nhất thiết phải gắn trong họat động cụ thể và phù hợp. Năng lực
còn mang đậm màu sắc cá nhân bởi nó phụ thuộc vào tiền tố của từng người
(cấu trúc sinh lí thần kinh, kinh nghiệm và vốn hiểu biết, tình cảm, phẩm chất
tâm lí…), mặc dù được trải nghiệm trong hoạt động giống nhau. Tố chất cá
nhân chi phối và tạo nên sự khác biệt giữa các cá nhân và năng lực riêng của
từng người.
Một người giáo viên có năng lực là người hiểu rõ đối tượng giáo dục của
mình (hiểu các đặc điểm phát triển tâm sinh lý theo lứa tuổi; hiểu rõ phương
thức học của học sinh/ hay các em học như thế nào? Nội dung giáo dục nào là
phù hợp với khả năng tiếp nhận? Tổ chức cho các em học như thế nào là hiệu
quả nhất?...); Biết cách tổ chức cho các em học tập đạt hiệu quả (lập kế hoạch
dạy học, thực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục, tổ chức môi trường học
tập thân thiện, quản lý và điều khiển lớp học có hiệu quả…); Đánh giá và hiểu
rõ sự tiến bộ/ sự thành đạt của các em so với mục tiêu đặt ra (sự thành công
trong nhận thức và năng lực hoạt động tư duy của học sinh, khả năng giải quyết
vấn đề, sự tiến bộ trong phát triển ngôn ngữ hay các mặt khác mà mục tiêu giáo
dục đặt ra); đào sâu một số nội dung dạy học và giáo dục để có thể nâng cao
trình độ của học sinh (xác định phạm vi dạy học hay giáo dục phù hợp với trình
10
11
- Thực hiện nhiệm vụ giảng dạy theo mục tiêu, nội dung, chương trình
giáo dục, kế hoạch dạy học; quản lý học viên theo sự phân công của giám đốc
trung tâm giáo dục thường xuyên.
- Rèn luyện đạo đức, bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ để nâng cao
chất lượng và hiệu quả giảng dạy.
- Thực hiện các quyết định của giám đốc, các quy định của pháp luật và
quy định của Quy chế này.
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; đoàn kết, giúp đỡ các
đồng nghiệp; gương mẫu trước học viên, tôn trọng nhân cách của học viên, đối
xử công bằng với học viên, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của học viên.
Giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên có những quyền sau đây:
- Được trung tâm tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Được hưởng mọi quyền lợi theo quy định đối với nhà giáo.
- Được trực tiếp hoặc thông qua tổ chức của mình tham gia quản lý trung
tâm.
- Được tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất,
dịch vụ chuyển giao công nghệ do trung tâm tổ chức.
- Được dự các cuộc họp của hội đồng khen thưởng và hội đồng kỷ luật
khi các hội đồng này giải quyết những vấn đề có liên quan đến học viên của lớp
mình được phân công, phụ trách.
- Giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên có định mức giờ dạy, định
mức giờ làm công tác kiêm nhiệm như quy định đối với giáo viên cùng cấp học
ở các cơ sở giáo dục phổ thông.
Yêu cầu về trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên:
- Giáo viên GDTX cấp THPT của trung tâm giáo dục thường xuyên phải
có trình độ đạt chuẩn như quy định đối với giáo viên dạy cùng cấp học của giáo
sư phạm và đạt chuẩn về trình độ đào tạo.
Tuy nhiên, có một số đặc điểm cần tính đến khi xem xét năng lực nghiệp
vụ sư phạm của giáo viên GDTX cấp THPT:
- Trong định hướng đào tạo chung và quá trình thực tập sư phạm, giáo
viên được chuẩn bị tâm thế cho việc giảng dạy trong các trường THPT với một
chương trình giáo dục chính quy và đối tượng học sinh có nhiều thuận lợi.
Trong khi đó, chương trình giáo dục bổ túc THPT là chương trình giáo dục
không chính quy, được giảng dạy cho những đối tượng học sinh có hạn chế về
nhiều mặt: học lực, hạnh kiểm, điều kiện hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh
tế…, hầu hết các em không có nhiều hứng thú trong việc học.
13
- Giáo viên GDTX cấp THPT được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, có
cả những giáo viên không được đào tạo từ trường đại học sư phạm, có những
giáo viên học liên thông từ cao đẳng lên đại học, có những giáo viên được đào
tạo từ các trường chuyên ngành và bồi dưỡng qua các khóa Nghiệp vụ sư
phạm.
- Do đặc thù về số lượng học sinh tại các trung tâm nên số lượng giáo viên
ở các trung tâm GDTX cũng hạn chế, hầu như rất ít đơn vị có tổ chuyên môn
riêng cho từng môn học.
- Giáo viên GDTX cấp THPT phần lớn là hợp đồng, thu nhập từ giảng dạy
có phần hạn chế, vì thế, chịu nhiều ảnh hưởng của việc làm thêm để có thu
nhập, quỹ thời gian dùng cho các hoạt động chuyên môn để đảm bảo phát triển
được cả 7 năng lực nói trên là khá eo hẹp.
- Quản lý giáo viên ở các trung tâm GDTX cũng khá đa dạng: có giáo viên
biên chế, giáo viên hợp đồng từ ngân sách và giáo viên hợp đồng từ nguồn kinh
phí học phí thu được, vì vậy, chế độ, chính sách đối với từng loại giáo viên
cũng khác nhau.
Kết quả học tập
TS học
sinh
Năm học
Giỏi
SL
TLệ%
Khá
TLệ
SL
%
Trung bình
Yếu
Kém
SL
TLệ%
SL
TLệ%
2.60
92.45
2006-2007
5066
26
0.51
690
13.62
2783
54.93
1435
28.33
132
2.61
33.52
02
0.05
200
5.00
2234
55.95
1198
30.00
359
9.00
38.36
2009-2010
3614
10
0.28
11525
53.26
6338
29.29
1480
6.84
Số liệu thống kê trong bảng 2.1 cho thấy, mặc dù số lượng HS BTTHPT
không tăng trong 5 năm gần đây nhưng tỉ lệ HS BTTHPT có học lực khá, giỏi
rất thấp (học lực giỏi không tới 1%, học lực khá chỉ từ 3,44% đến 19,02%) và
hầu như không tăng, chủ yếu là HS có học lực trung bình (từ 38,22% đến
65,65%), tỉ lệ HS đạt học lực yếu, kém khá cao. Các số liệu này đã phản ánh
một thực trạng nổi bật, đó là: HS BTTHPT hiện nay phần lớn là có học lực đầu
vào lớp 10 rất thấp (điểm thi tuyển sinh lớp 10 không đủ để vào các trường
15
công lập và bán công), chỉ có một số ít các em có học lực khá nhưng do điều
kiện, hoàn cảnh (từ ngoài tỉnh chuyển đến, gia đình gặp khó khăn nên phải vừa
làm, vừa học, gặp rủi ro khi thi tuyển vào lớp 10 THPT…). Tỉ lệ HS tốt nghiệp
BTTHPT cũng khá thấp, nhất là từ khi Bộ GD&ĐT triển khai cuộc vận động
“Hai không”, trong đó có nội dung “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh
thành tích trong giáo dục”, kỷ luật phòng thi được xiết chặt.
25
1
24
0
25
22
3
25
27
27
3
24
0
27
25
2
27
17
17
0
17
0
17
14
3
17
Hó
0
2
3
8
16
Môn học
Sinh Sử Địa Ng ngữ Tin học
15
15
1
14
0
15
15
0
15
16
16
0
16
0
16
13
3
16
15
15
167
167
10
156
1
167
142
25
167
3
2
0
4
6
4
0
1
4
7
5
1
1
1
7
0
1
15
10
27
4
6
17
27
8
19
17
0
7
10
17
7
10
16
4
6
6
16
9
7
15
4
3
5
4
4
13
10
3
167
25
46
96
167
70
97
Từ các số liệu ở bảng 2.2 và thực tế tìm hiểu, có thể đưa ra một số
nhận xét:
a) Đội ngũ giáo viên của các trung tâm được xây dựng từ các nguồn
khác nhau:
- Từ giáo viên các trường bổ túc văn hóa để lại;
- Tuyển dụng mới từ nguồn sinh viên tốt nghiệp đại học (bao gồm cả đại
học sư phạm và đại học chuyên ngành);
- Giáo viên tốt nghiệp cao đẳng học hoàn thiện lên đại học;
Trong đó, trình độ trên ĐH chiếm 5,99%, ĐH: 93,41% và dưới ĐH chiếm
0,6%. Tuy tỉ lệ giáo viên trình độ ĐH và trên ĐH cao nhưng vẫn có tới 14,97%
giáo viên (25/167 người) không tốt nghiệp từ ĐHSP tham gia giảng dạy. Tỉ lệ
giáo viên có thâm niên giảng dạy ít hơn 5 năm khá lớn (43,71%).
b) Về chế độ lao động cũng có những loại khác nhau:
- Giáo viên biên chế (14,97%);
- Giáo viên hợp đồng từ nguồn ngân sách nhà nước (27,54%);
tính chính xác trong các báo cáo);
e) Lối sống, đạo đức;
g) Tinh thần học tập nâng cao trình độ;
h) Tinh thần và thái độ phục vụ nhân dân;
Việc đánh giá cán bộ, viên chức sau 1 năm công tác được tiến hành theo
trình tự sau:
a) Mỗi cán bộ, viên chức tổng kết công tác trong năm và tự đánh giá, xếp
loại theo mẫu “Phiếu đánh giá cán bộ, viên chức”.
b) Tập thể đơn vị nơi cán bộ, viên chức làm việc góp ý kiến cho bản tự
nhận xét kết quả công tác của cán bộ, viên chức và góp ý kiến đánh giá, đề nghị
xếp loại cho từng cán bộ, viên chức.
18
c) Thủ trưởng đơn vị trực tiếp đánh giá cán bộ, viên chức theo từng nội
dung quy định và tham khảo ý kiến nhận xét của tập thể để tổng hợp, xếp loại
cán bộ, viên chức theo 4 mức độ: Xuất sắc, Khá, Trung bình và Kém.
d) Kết quả đánh giá, xếp loại cán bộ, viên chức được thông báo đến từng
cán bộ, viên chức. Cán bộ, viên chức có quyền trình bày ý kiến, bảo lưu ý kiến
những nội dung không nhất trí về kết quả đánh giá đối với bản thân nhưng phải
chấp hành ý kiến kết luận của Giám đốc trung tâm.
Như vậy, việc đánh giá giáo viên tại các trung tâm GDTX hiện nay được
thực hiện lồng ghép với đánh giá viên chức nói chung, dựa trên tất cả các mặt
công tác. Không có phần đánh giá riêng về năng lực nghiệp vụ sư phạm. Đây là
một khó khăn cho các đơn vị khi đánh giá để sàng lọc, lựa chọn giáo viên hợp
đồng và xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên cơ hữu.
Kết quả xếp loại năm 2010 cụ thể như sau:
Bảng 2.3. Kết quả xếp loại giáo viên năm 2010
Toán Văn Lý
Xuất sắc
11
14
7
9
9
6
8
13
10
87
Khá
10
10
8
3
2
21
Kém
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
2.3. Thực trạng hoạt động sư phạm của giáo viên GDTX cấp THPT
định lớp, răn dạy học sinh), thời gian để triển khai giờ giảng không đúng kế
hoạch. Phương pháp giáo dục đôi khi còn “nóng đâu, phủi đấy”, không có một
kế hoạch cụ thể, một biện pháp “dài hơi” để giáo dục phù hợp với từng đối
tượng. Việc phối hợp giáo dục học sinh còn hạn chế, chưa có kế hoạch và chưa
đánh giá được hiệu quả công tác phối hợp.
2.4. Những bất cập về nội dung, phương pháp và kết quả đánh giá
2.4.1. Về nội dung đánh giá
Trong thực tế, chưa có nội dung và hướng dẫn đánh giá riêng về năng lực
nghiệp vụ sư phạm của giáo viên. Việc đánh giá giáo viên chủ yếu là về công
tác giảng dạy với những nội dung được vận dụng trên cơ sở tiêu chí đánh giá
20
giờ dạy của trường THPT ở các mặt: hồ sơ sổ sách, phiếu dự giờ, kết quả các
hoạt động mà giáo viên tham gia trong các phong trào, kết quả học tập của học
sinh, phiếu tự đánh giá viên chức hàng năm.
2.4.2. Về phương pháp đánh giá
Đánh giá thông qua kiểm tra hồ sơ chuyên môn, dự giờ, kiểm tra nền nếp
hoạt động của giáo viên và của các lớp học, hiệu quả giảng dạy và giáo dục
(căn cứ vào học lực và hạnh kiểm của học sinh). Việc kiểm tra, đánh giá kế
hoạch lên lớp của giáo viên còn mang tính hình thức, ít quan tâm đi sâu vào
chất lượng của giáo án, chưa quan tâm đến sự phản hồi kết quả tương tác giữa
người dạy và người học trong quá trình dạy học.
2.4.3. Về kết quả đánh giá
Kết quả đánh giá, xếp loại cuối năm của giáo viên có tỉ lệ loại xuất sắc
khá cao (52,10%), tỉ lệ trung bình chỉ có 12,57% và không có giáo viên xếp
loại kém. Những số liệu này xem ra không tương quan tỉ lệ thuận với chất
lượng giáo dục của các trung tâm.
Bảng 2.4 : Tương quan kết quả xếp loại giáo viên và kết quả học tập của
học sinh BTTHPT (Năm học 2009-2010)
1451
1541
559
27
Tỉ lệ %
40.55
43.07
15.62
0.75
Ghi chú
(Có 36 học
viên không xếp
loại hạnh kiểm)
Do những bất cập về nội dung và phương pháp nên kết quả đánh giá chưa
phản ánh đầy đủ, chính xác về các hoạt động giảng dạy của giáo viên. Kết quả
đánh giá thường được sử dụng vào việc xét khen thưởng và xem xét để hưởng
các chế độ theo quy chế chi tiêu nội bộ. Ngoài ra, kết quả đánh giá còn được sử
dụng vào việc phân công giảng dạy của giáo viên, lựa chọn giáo viên đi hội
giảng các cấp hoặc quy hoạch cán bộ quản lý của trung tâm.
21
Như vậy, do chưa có chuẩn nghiệp vụ sư phạm và các tiêu chí rõ ràng về
nghiệp vụ sư phạm giáo viên GDTX cấp THPT nên các trung tâm GDTX gặp
nhiều khó khăn trong công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên nói chung
và đánh giá giáo viên, xây dựng và thực hiện các chương trình đào tạo, bồi
- Quyết định số 01/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/01/2007 của Bộ GD&ĐT
Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên;
- Thông tư số 33/2011/TT- BGDĐT ngày 08/8/2011 của Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT Ban hành Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên giáo dục
thường xuyên.
3.1.2. Mục đích xây dựng tiêu chí đánh giá
Bộ tiêu chí đánh giá được ban hành nhằm mục đích:
a) Giúp giáo viên GDTX cấp THPT tự đánh giá năng lực sư phạm của bản
thân, từ đó xây dựng cho mình kế hoạch rèn luyện, học tập, phấn đấu của bản
thân để nâng cao nghiệp vụ sư phạm, hưởng ứng cuộc vận động “Mỗi thầy
giáo, cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” do ngành
GD&ĐT phát động.
b) Giúp Sở GD&ĐT và Giám đốc các trung tâm GDTX đánh giá, xếp loại
giáo viên về năng lực sư phạm phục vụ công tác quản lý, quy hoạch đào tạo,
bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ giáo viên.
c) Làm căn cứ để xây dựng, phát triển các chương trình bồi dưỡng đội ngũ
giáo viên văn hóa cho các trung tâm GDTX.
d) Làm căn cứ để xây dựng chính sách, chế độ đối với giáo viên GDTX
cấp THPT.
3.1.3. Nguyên tắc xây dựng bộ tiêu chí
Bộ tiêu chí được xây dựng, trước hết, căn cứ vào các quy định của pháp
luật, đồng thời, phải tính đến các điều kiện thực tế của đối tượng, môi trường
giáo dục tại các trung tâm GDTX trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Các nội dung quy định đã được ban hành có liên quan bao gồm:
- Khoản 2, Điều 70 của Luật Giáo dục 2005 quy định về tiêu chuẩn đối với
nhà giáo, theo đó, giáo viên phải có:
+ Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
23
24
Bộ tiêu chí được cấu trúc gồm 6 phần:
- Hiểu biết đặc điểm học sinh và môi trường dạy học, giáo dục thường
xuyên;
- Xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục;
- Năng lực thực hiện kế hoạch dạy học và giáo dục;
- Năng lực đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh;
- Năng lực hợp tác với đồng nghiệp trong dạy học và giáo dục;
- Năng lực phát triển nghiệp vụ sư phạm.
3.2.2. Nội dung bộ tiêu chí
1. Hiểu biết đặc điểm học sinh và môi trường dạy học, giáo dục thường
xuyên
+ Hiểu biết đặc điểm tâm sinh lý, nhu cầu học tập và xu hướng phát triển nhân
cách của học sinh;
+ Hiểu biết và nhận ra được phong cách học tập và phương pháp học tập của
học sinh;
+ Xác định và đề ra được những nội dung cần phải điều chỉnh về kiến thức và
thái độ học tập của học sinh;
+ Phân tích và đánh giá được đặc điểm tâm sinh lý, nhu cầu, phong cách và
phương pháp học tập của học sinh; đề ra được các phương án điều chỉnh hoạt
động dạy học và giáo dục đối với học sinh;
+ Hiểu biết về môi trường dạy học và giáo dục trong trung tâm GDTX (môi
trường sư phạm, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, môi trường tâm lý…),
môi trường xã hội của địa phương (tình hình kinh tế, văn hóa, dân tộc, tôn
giáo…) và những tác động cơ bản của môi trường xung quanh tới hoạt động
dạy học, giáo dục;
+ Xác định được những yếu tố tác động của môi trường nói trên tới các hoạt
động dạy học và giáo dục, đề xuất được những công việc cần triển khai;
một cách phù hợp, liên tục. Có sự tham gia góp ý của đồng nghiệp đối với giáo
án được soạn;
+ Đánh giá được và có đề xuất hoàn thiện giáo án sau giờ dạy, bảo đảm sự
phân hóa được đối tượng học sinh, dự kiến được các tình huống sư phạm và
cách xử lý phù hợp;
26
+ Lập được kế hoạch các hoạt động giáo dục: công tác chủ nhiệm lớp, công
tác Đoàn thanh niên, các hoạt động khác được phân công phù hợp đối tượng
và môi trường giáo dục và thể hiện khả năng phối hợp, cộng tác giữa các lực
lượng giáo dục;
+ Kế hoạch giáo dục thể hiện các thông tin cơ bản về mục tiêu, nội dung,
phương pháp, phương tiện giáo dục và đánh giá kết quả rèn luyện phù hợp với
đối tượng học sinh và môi trường giáo dục;
+ Kế hoạch giáo dục thể hiện đầy đủ thông tin về mối quan hệ hợp lý giữa
mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện giáo dục và đánh giá kết quả rèn
luyện của học sinh phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh của học sinh;
+ Kế hoạch giáo dục thể hiện các hoạt động của giáo viên và học sinh và khả
năng phối hợp giữa các lực lượng giáo dục;
+ Đánh giá được và có đề xuất hoàn thiện kế hoạch giáo dục. Kế hoạch có thể
hiện sự phân hóa đối tượng học sinh, dự kiến tình huống sư phạm và cách xử lý.
3. Năng lực thực hiện kế hoạch dạy học và giáo dục
3.1. Năng lực thực hiện kế hoạch dạy học
+ Chuẩn bị các điều kiện, phương tiện dạy học phù hợp với mục tiêu, nội
dung, phương pháp dạy học và đối tượng học sinh;
+ Chuẩn bị các điều kiện, phương tiện dạy học phù hợp với kế hoạch dạy học
và giáo án đã chuẩn bị;
+ Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện, phương tiện dạy học, có ứng dụng công nghệ
+ Lựa chọn và sử dụng các thiết bị đang có của trung tâm một cách phù hợp,
giúp học sinh có thể tự học;
+ Sử dụng thành thạo các phương tiện truyền thống, kết hợp với phương tiện
hiện đại, có ứng dụng CNTT, tăng hiệu quả dạy học và phát huy tính chủ động,
tích cực của học sinh;
+ Sử dụng phương tiện dạy học một cách linh hoạt, sáng tạo, đạt hiệu quả cao;
+ Xây dựng môi trường học tập thân thiện, dân chủ, hợp tác và lành mạnh;
+ Tổ chức lớp học hợp với điều kiện cơ sở vật chất, đảm bảo vệ sinh, an toàn,
tạo được bầu không khí học tập thân thiện, lành mạnh. Quan tâm giúp đỡ, đối
xử công bằng với học sinh, dân chủ trong quan hệ thầy trò. Động viên, khích lệ
học sinh tham gia các hoạt động của lớp;
+ Tổ chức môi trường dạy học hợp lý, không khí lớp học cởi mở, khích lệ học
sinh. Hiểu hoàn cảnh học sinh và có biện pháp động viên, giúp đỡ;
28