Quy hoạch các vùng chăn nuôi và các khu giết mổ gia súc, gia cầm tập trung trên địa bàn tỉnh Phú Yên đến năm 2020 - Pdf 50

MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT LẬP QUI HOẠCH
- Phú Yên là tỉnh ven biển Nam Trung bộ, nằm ở phía Đông dãy Trường
Sơn. Đồi núi chiếm 70% diện tích, địa hình dốc từ Tây sang Đông và bị chia cắt
mạnh. Bờ biển dài gần 200km, có nhiều dãy núi nhô ra biển hình thành các
vịnh, đầm, vũng, là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, nuôi trồng, đánh
bắt hải sản và vận tải biển. Tỉnh có vùng đồng bằng sông Ba rộng lớn, với độ
phì nhiêu cao và là vựa lúa của khu vực Duyên hải Nam Trung bộ.
- Trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi là ngành sản xuất có vị trí khá
quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, năm 2010 tổng giá trị sản xuất
đạt: 354,6 triệu đồng, chiếm 23,21 % tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp
với tốc độ tăng trưởng bình quân 2000 - 2010 đạt 3,04 %/năm.
- Tuy nhiên, ngoài những kết quả và thành tựu mà ngành chăn nuôi của
tỉnh đã đạt được, cũng còn bộc lộ khá nhiều tồn tại phát sinh, cần sớm có biện
pháp giải quyết như:
- Chăn nuôi phát triển song vẫn còn mang tính tự phát, số hộ nuôi quy
mô nhỏ, phân tán vẫn còn tồn tại và nằm xen lẫn hoặc ngay trong các khu dân
cư,… Đồng thời, quá trình đô thị hóa và xây dựng các khu - cụm công nghiệp
cũng như các khu du lịch phát triển mạnh, dẫn đến các cơ sở và hộ chăn nuôi
hiện tại rơi vào bối cảnh không thể tiếp tục tồn tại, nếu muốn tiếp tục sản xuất
kinh doanh bắt buộc phải di dời. Bò thịt và dê chăn thả tự nhiên là chủ yếu,
đồng cỏ tự nhiên ngày càng bị thu hẹp; trong khi đó, chăn nuôi hiện nay được
xem là một trong những đối tượng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, bởi
hầu hết chất thải chăn nuôi chưa qua xử lý. Giá thành các sản phẩm còn ở mức
khá cao, giá bán sản phẩm (thịt, trứng, sữa, con giống) lại luôn biến động nên
lợi ích kinh tế của người chăn nuôi đạt thấp, dễ gặp rủi ro và sản phẩm có sức
cạnh tranh kém trên thị trường, v.v... Ngoài ra, hoạt động sản xuất - thu mua giết mổ - bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi vẫn chưa thật sự
gắn bó chặt chẽ, chưa hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển một cách bền vững
trong cơ chế kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt.
- Các giải pháp kiểm soát thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm để có được
vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh và sản phẩm chăn nuôi an toàn cho người

tập trung trên địa bàn tỉnh Phú Yên đến năm 2020.
II. CĂN CỨ VÀ TÀI LIỆU ĐỂ LẬP QUY HOẠCH
1. Cơ sở pháp lý
1. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố về chỉ
tiêu kế hoạch phát triển chăn nuôi đến năm 2015;
2. Nghị định số 33/2005/NĐ-CP ngày 15/3/2005 của Chính phủ “Quy định
chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Thú y”;
3. Nghị định số 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 9/8/2006 về việc "Quy
định chi tiết hướng dẫn và thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
4. Quyết định số 1556/QĐ-UBND, ngày 21/08/2010 của UBND tỉnh về việc
phê duyệt đề cương dự toán dự án Quy hoạch các vùng chăn nuôi và các khu
giết mổ gia súc, gia cầm tập trung trên địa bàn tỉnh Phú Yên đến năm 2020;
5. Quyết định số 99/QĐ ngày 23/4/1983 của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật
Nhà nước về việc ban hành “Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN-3773-83) xây dựng
trại nuôi gà và tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN-3772-83) xây dựng trại nuôi heo”;
6. Quyết định số 02/UBXD ngày 2/1/1985 của Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà
nước về việc ban hành “Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN-3997-85) xây dựng trại
nuôi trâu, bò”;
7. Quyết định số 1318/2005/QĐ-TTg ngày 13/12/2005 của Thủ tướng Chính
phủ về việc “Hỗ trợ giết mổ tập trung và chế biến sản phẩm gia cầm”;
8. Quyết định số 3535/QĐ-BNN-CB ngày 16/12/2005 của Bộ NN & PTNT
ban hành “Quy định tạm thời về quản lý thu mua, giết mổ, bảo quản, chế biến
và tiêu thụ thịt, trứng gia cầm”;
2


9. Quyết định số 87/2005/QĐ-BNN ngày 26/12/2005 của Bộ NN & PTNT về
“Quy trình kiểm soát giết mổ động vật”;
10. Quyết định số 17/2007/QĐ-BNN ngày 27/2/2007 của Bộ NN & PTNT ban
hành “Quy định về điều kiện ấp trứng và chăn nuôi thủy cầm”;

22. Công văn số 562/UBND-NN ngày 16/04/2007 của UBND tỉnh Phú Yên
về việc kiểm soát giết mổ động vật và kiểm tra vệ sinh thú y;
23. Công văn số 106/CCTY ngày 19/04/2007 của Chi cục Thú y tỉnh Phú
Yên về việc kiểm soát giết mổ động vật và kiểm tra vệ sinh thú y;
3


2. Tài liệu tham khảo
1. Tài liệu đánh giá tình hình phát triển chăn nuôi giai đoạn 2000 - 2005 và
định hướng phát triển chăn nuôi cả nước giai đoạn 2006 - 2010 của Cục chăn
nuôi, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
2. Chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi giai đoạn 2010 - 2015” của
Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
3. Chiến lược phát triển chăn nuôi gia cầm Việt Nam giai đoạn 2006 - 2015
của Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
4. Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yên đến
năm 2020.
5. Báo cáo quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch các ngành: nông nghiệp, công
nghiệp, du lịch, giao thông, thuỷ lợi, điện khí hóa nông thôn, y tế, giáo dục,...
6. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh phú Yên năm 2005; 2010, Bản đồ quy
hoạch sử dụng đất tỉnh Phú Yên đến năm 2010 và các bản đồ quy hoạch xây
dựng cơ sở hạ tầng đô thị các thị trấn, thị tứ, trung tâm cụm xã, trung tâm xã.
7. Chiến lược bảo vệ môi trường tỉnh Phú Yên đến năm 2015 và định hướng
đến năm 2020.
8. Niên giám thống kê tỉnh Phú Yên từ năm 2000 - 2010.
III. NỘI DUNG QUY HOẠCH
1. Quy hoạch các vùng chăn nuôi và các khu giết mổ gia súc, gia cầm tập
trung theo vùng sinh thái. Từng bước đưa ngành chăn nuôi trở thành ngành sản
xuất chính, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và phù hợp với quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020.

ngành chăn nuôi, lập bản đồ tổng hợp về hiện trạng ngành chăn nuôi năm 2010
tỷ lệ 1/100.000; xây dựng bản đồ Quy hoạch các vùng chăn nuôi và các khu
giết mổ gia súc, gia cầm tập trung trên địa bàn tỉnh Phú Yên đến năm 2020 tỷ lệ
1/100.000.

PHẦN THỨ NHẤT
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG QUY HOẠCH
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
1. Vị trí địa lý và kinh tế
Tỉnh Phú Yên nằm trong vùng Duyên hải Nam Trung bộ, có toạ độ địa lý
từ 12 42'36" đến 13o41'28" vĩ độ Bắc, 108o40'40" đến 109o27'47" kinh độ Đông.
Ranh giới của tỉnh có tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, phía
Nam giáp tỉnh Khánh Hoà, phía Tây giáp 2 tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc, phía Đông
giáp biển Đông.
o

Tổng diện tích tự nhiên (DTTN) toàn tỉnh là 5.060,57 km 2, được chia làm
09 huyện, thị, thành phố, với tổng số dân năm 2010 là 868.514 người, mật độ
dân số bình quân 171 người/km2. So với cả nước, Phú Yên chiếm 1,53% về
diện tích và 1,03% về dân số; so với toàn vùng Duyên hải Nam Trung bộ, Phú
Yên chiếm 13,85% về diện tích và chiếm 11,26% về dân số.
Phú Yên có quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam chạy qua, quốc lộ 25 nối
với tỉnh Gia Lai, ĐT 645 nối với tỉnh Đắc Lăc; đường biển có Cảng Vũng Rô,
đường không có sân bay Tuy Hòa,... Những hệ thống đường bộ, đường sắt,
đường thuỷ và đường hàng không đã tạo điều kiện thuận lợi trong hợp tác, trao
đổi kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa Phú Yên với các địa phương khác
trong cả nước.
5



mm; ngược lại các thung lũng kín gió như Krông Pa, Xuân Phước lượng mưa
trung bình năm thấp, khoảng 1.200 - 1.300 mm. Với nhiệt độ này thích hợp với
yêu cầu sinh trưởng và phát triển của bò thịt, bò kiêm dụng thịt sữa,… mùa khô
ở đây thiếu nước vào các tháng 2,3 gây căng thẳng trong việc giải quyết thức
ăn, nước uống cho đàn bò.
4. Tài nguyên đất đai và thuỷ, hải sản
4.1. Tài nguyên đất
Kết quả điều tra, bổ sung chỉnh lý thì đất tỉnh Phú Yên được chia thành
11 nhóm với 25 đơn vị đất.
6


+ Nhóm đất cát biển 15.046 ha, phù hợp với nuôi trồng thuỷ sản, trồng
dừa và xây dựng các khu công nghiệp;
+ Nhóm đất mặn, phèn 10.102 ha, phù hợp với nuôi trồng thuỷ sản, trồng
cói và có thể cải tạo để trồng lúa;
+ Nhóm đất phù sa 53.396 ha, tập trung nhiều nhất ở đồng bằng Tuy
Hoà, tạo thành vựa lúa lớn nhất khu vực duyên hải Nam Trung Bộ;
+ Nhóm đất xám 43.460 ha, tập trung nhiều ở vùng gò đồi thuộc huyện
Sông Hinh và Sơn Hòa, phù hợp để phát triển kinh tế trang trại tổng hợp (trồng
cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt);
+ Nhóm đất đen 28.644 ha, tập trung nhiều ở vùng gò đồi thuộc huyện
Tuy An, phù hợp với nhiều loại cây trồng, cần lưu ý chống xói mòn do đất dốc;
+ Nhóm đất đỏ vàng 315.538 ha, phân bố trên vùng đồi, núi dốc chủ yếu
là đất lâm nghiệp. Trong đó có gần 30 ngàn ha đất ba zan, có độ phì khá, thuận
lợi cho sản xuất nông nghiệp, phân bố ở huyện Sông Hinh và Tuy An;
+ Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi 11.379 ha, phân bố trên núi cao, chủ
yếu là đất lâm nghiệp.
+ Nhóm đất dốc tụ: 1.842 ha, phân bố dọc theo các suối nhỏ, phù hợp với
cây hoa màu;

còn có sông Hinh, sông Cà Lúi, sông Bàn Thạch, sông Cầu,...
Mật độ sông ngòi tương đối dày 0,3 đến 1,3 km/km2, trung bình là 0,6
km/km2 . Với tổng diện tích lưu vực khoảng 4.886 km2, tổng lượng dòng chảy
8.400 tỷ m3 rất thuận lợi cho việc xây dựng các nhà máy thuỷ điện, đảm bảo
nước cho công nghiệp, sinh hoạt của nhân dân và các loại cây trồng.
Mạng lưới các sông được phân bố khá đều trên phạm vi toàn tỉnh. Tuy
nhiên, dòng chảy các sông phân bố không đều trong năm, hình thành hai mùa ro
rệt: mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 8, lưu lượng dòng chảy nhỏ chiếm 20 - 30%
lưu lượng nước trong năm; mùa lũ từ tháng 9 đến tháng 12, lưu lượng dòng
chảy lớn, chiếm 70 - 80% lưu lượng nước trong năm. Hệ thống sông, suối của
Phú Yên có lượng phù sa dồi dào, bồi đắp cho đồng bằng Tuy Hoà và Tuy An
có diện tích lớn nhất các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.
Nhìn chung, do vị trí Phú Yên nằm ở sườn Đông của dãy Trường Sơn,
phía Nam đèo Cù Mông và phía Bắc đèo Cả, có đồng bằng trũng thấp liền kề
với núi cao, sông suối ngắn và dốc, tài nguyên rừng bị tàn phá, khả năng giữ
nước kém, về mùa mưa lượng nước lớn kết hợp với địa hình dốc, gây lũ lụt lớn
làm xói mòn rửa trôi đất, ngược lại mùa khô đất bị khô hạn và mất dần kết cấu.
II. THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG
ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH CHĂN NUÔI
1. Tình hình phát triển kinh tế
1.1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1.1. Tăng trưởng kinh tế
- Giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP giá so sánh 1994) năm 2000
đạt 1.555,2 tỷ đồng, đến năm 2005 đạt 2.603,0 tỷ đồng và năm 2010 đạt 4.649,6
tỷ đồng. Trong đó:
- Giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp - xây dựng năm 2000 đạt
374,1 tỷ đồng, đến năm 2005 đạt 803,9 tỷ đồng, nhịp độ tăng bình quân giai
đoạn 2000 - 2005 là 16,53 %/năm; đến năm 2010 đạt 1.759,3 tỷ đồng, nhịp độ
tăng bình quân giai đoạn 2000 - 2010 là 16,74%/năm.
- Giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ năm 2000 đạt 577,8 tỷ đồng, đến


tỷ đ
tỷ đ
tỷ đ
tỷ đ

1.555,2
603,4
374,1
577,8

2. Dân sô trung bình

Người

799.645

2.603,0
774,9
803,9
1.024,3
838.23
4

4.125,3
876,7
1.539,2
1.709,4
863.04
8

10,85
5,13
16,53
12,13

11,57
4,68
16,74
12,86

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh - giá so sánh 1994
Trong giai đoạn 2000-2010 kinh tế của tỉnh phát triển khá mạnh, tốc độ
tăng trưởng GDP trung bình 2000-2010 là 11,57%/năm, GDP bình quân/người
năm 2000 là 2.082 ngàn đồng, lên 5.350 ngàn đồng năm 2010 (giá 1994).
1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá thực tế phân theo ngành
kinh tế: Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch đúng hướng nhưng còn chậm, cơ
cấu kinh tế theo 3 khu vực kinh tế có sự chuyển dịch như sau:
+ Khu vực công nghiệp - xây dựng chuyển dịch khá từ 22,7 % năm 2000
lên 29,3 % năm 2005 và đến năm 2010 là 34,36 %.
+ Khu vực dịch vụ từ 33,2 % năm 2000 lên 34,1 % năm 2005 và đến năm
2010 là 36,0 %.
+ Khu vực nông lâm thuỷ sản từ 44,1 % năm 2000 xuống còn 36,6 %
năm 2005 và đến năm 2010 còn 29,64 %.
- Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá thực tế phân theo thành
phần kinh tế:
+ Kinh tế Nhà nước vẫn giữ ở những ngành có vị trí quan trọng, then
chốt trong nền kinh tế tỉnh như: bưu chính viễn thông; sản xuất và phân phối
điện, nước; sản xuất hàng xuất khẩu; kinh doanh xăng dầu, tín dụng ngân
hàng,... nên năm 2005 kinh tế Nhà nước chiếm 31,1% và đến năm 2010 chiếm

1. Trồng trọt
- Cơ cấu
2. Chăn nuôi
- Cơ cấu
3. Dịch vụ
- Cơ cấu

Tr. đ
Tr. đ
%
Tr. đ
%
Tr. đ
%

Năm
Tăng BQ
Năm
Năm
Năm
2010
2000
2005
2009
00 - 05 00 - 10
1.045,7
0 1.312,40 1.411,90 1.496,61
4,65
3,65
764,50

- Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp giai đoạn 2000-2010 tương đối
khá so với các tỉnh trong khu vực, (theo giá so sánh) đạt trung bình 3,65% năm,
trong đó trồng trọt tăng 3,56%, chăn nuôi tăng 3,58% năm, dịch vụ tăng bình
quân 6,08% năm.
- Giá trị sản xuất toàn ngành năm 2010 đạt 1.496,6 triệu đồng, tăng 6,0%
so với năm 2009. Trong đó: trồng trọt đạt 1.084,8 triệu đồng, tăng 5,0% so với
năm 2009, chăn nuôi đạt 354,6 triệu đồng, tăng 8,51%.
+ Trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng
sản xuất hàng hóa gắn với thị trường và hiệu quả kinh tế. Từ năm 2000 đến nay
chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp không lớn, chỉ dao động trong khoảng
10


1-3%. Cơ cấu trồng trọt - chăn nuôi - dịch vụ năm 2000 là 70,4% - 25,8% 3,8%, năm 2010 là 72,5% - 24,7% - 3,8%. Xu thế chung về sản xuất nông
nghiệp trong khu vực hiện nay là chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành
trồng trọt và tăng tỷ trọng chăn nuôi, dịch vụ. Tuy nhiên trong những năm gần
đây dịch bệnh thường xuyên xảy ra, đã ảnh hưởng không nhỏ đến số lượng
cũng như chất lượng sản phẩm chăn nuôi, dẫn đến tỷ trọng ngành chăn nuôi có
xu hướng giảm so với trồng trọt.
1.2. Tình hình sản xuất các cây trồng chính năm 2010
1.2.1. Sản xuất lương thực
Sản lượng lương thực quy thóc năm 2010 đạt 342.063 tấn, trong đó sản
lượng thóc đạt 326.805 tấn, tăng 11,0% so với năm 2008. Sản lượng lương thực
bình quân đầu người đạt 396 kg/người/năm.
- Cây Lúa: Diện tích gieo trồng toàn tỉnh năm 2010 là 56.721 ha với sản
lượng 326.805 tấn, năng suất bình quân đạt 57,6 tạ/ha. So với năm 2008, diện
tích giảm 0,2%, năng suất tăng 11,2% và sản lượng tăng 11,0%.
- Cây ngô: Diện tích gieo trồng năm 2010 là 6.605 ha. So với năm 2009
diện tích tăng 3,67%, năng suất giảm 16,0% và sản lượng giảm 13,0%. Cơ cấu
giống ngô lai ngày một cao trong sản xuất, từ chỗ chỉ trồng các giống ngô địa

- Lúa HT
- Lúa M
2. Ngô
3. Khoai
4. Sắn
5. Lạc
6. Mía
7. Thuốc lá
8. Đậu tương
9. Vừng
10. Cà phê
11. Hồ tiêu
12. Điều

Năm 2000
Diện Năng
tích
suất
57.690
48,1
24.464
52,3
23.030
55,7
10.196
20,3
4.020
6,9
676
52,8

20,7
254
50,5
10.565 164,0
824
8,0
18.045 451,5
513
10,9
443
7,6
5.538
3,7
1.038
7,6
403
10,7
4.320
2,9

Năm 2008
Diện Năng
tích
suất
56.832
51,8
25.640
46,1
23.747
65,7

6.636 27,0
6.920 24,9
321 48,8
15.247 115,9
1.008 10,5
19.907
475
541 13,3
433 10,3
2.590
4,5
1.572 12,1
413 15,8
3.487
3,1

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Phú Yên năm 2005, 2010
2. Tình hình xã hội
2.1. Dân cư và phân bố dân cư
Dân số Phú Yên năm 2010 là 868.514 người sinh sống trên địa bàn 09
huyện, thị và thành phố. Mật độ dân số bình quân 171 người/km 2, dân cư phân
bố không đều, tập trung chủ yếu ở thành thị, trục đường giao thông nơi có kinh
tế phát triển. Dân số tập trung cao nhất tại TP. Tuy Hoà là 1.440 người/km 2,
thấp nhất là các huyện Sông Hinh, Đồng Xuân, Sơn Hòa từ 52 - 57 người/km 2.
Tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 2000-2010 là 0,85%/năm, khu vực
thành thị tăng 2,44%/năm, nông thôn tăng 1,21%/năm, tỷ lệ tăng dân số bình
quân năm 2010 là 1,62%, sự phân bố dân cư được chia thành 2 khu vực sau:
- Khu vực thành thị gồm 21 phường, thị trấn, dân số 201.804 người
chiếm 23,24% dân số toàn tỉnh (gồm 16 phường, 5 thị trấn).
- Khu vực nông thôn: gồm 91 xã, dân số 666.710 người.

ngành nghề.
- Tiềm năng phát triển chăn nuôi bò thịt ở khu vực phía Tây, thuỷ cầm ở
phía Nam của tỉnh là khá lớn vì 2 ở vùng này diện tích chăn thả và đồng ruộng
còn lại tương đối nhiều.
- Sản lượng ngô và mỳ sản xuất hàng năm tương đối lớn là sự bổ sung
cần thiết cho nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc.
- Tỉnh có các tuyến giao thông huyết mạch như: quốc lộ 1A, 25,… cùng
với hệ thống đường tỉnh lộ và mạng lưới giao thông đường biển khá phát triển,
đã tạo điều kiện thuận lợi cho sản phẩm chăn nuôi hàng hóa của Phú Yên lưu
thông đến với các tỉnh trong khu vực; đặc biệt là TP. Hồ Chí Minh, nơi có sức
tiêu thụ thực phẩm chất lượng với giá cao.
2. Khó khăn
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 08 đến tháng 12 thường gây ngập úng và sạt
lở đất một số nơi, ngược lại mùa khô từ tháng 01 đến tháng 07 thường thiếu
nước; do đó ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp nói chung và phát
triển chăn nuôi nói riêng.
- Là một tỉnh nghèo, thu nhập bình quân đầu người thấp do đó nhân dân
không có vốn đầu tư để phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung, hiện đại dẫn
đến chăn nuôi hiện nay chủ yếu là nuôi phân tán, nhỏ lẻ.
- Việc phát triển mạnh các khu công nghiệp, khu du lịch, khu đô thị và
dân cư,… làm cho quỹ đất nông nghiệp giảm nhanh, thu hẹp vùng chăn nuôi và
buộc phải di dời các cơ sở chăn nuôi,… đồng thời giá thuê hoặc sang nhượng
đất tăng, ảnh hưởng đến việc thành lập và mở rộng quy mô sản xuất của các
trang trại chăn nuôi cũng như xây dựng các cơ sở giết mổ tập trung.
13


PHẦN THỨ HAI
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT NGÀNH CHĂN NUÔI
I. SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH CHĂN NUÔI GIAI ĐOẠN 2000 - 2010

2009
2010

3.398
2.716
3.708
3.782
2.939
2.927
2.981

GĐ: 2000-2005
GĐ: 2005-2010

-4,38
1,88


Lợn
Dê, cừu

Thuỷ cầm
Số Lượng (con)
179.009 209.542
2.375 1,020,5
716,1
201.642 196.961
7.394
985,8
913,0

1.1. Chăn nuôi trâu
14


Phú Yên có đàn trâu tương đối thấp so với khu vực Duyên hải miền
Trung (DHMT) chỉ xếp trên thành phố Đà Nẵng, năm 2010 là 2.981 con, tăng
210 con so với năm 2000, tính cả giai đoạn từ 2000 - 2010 đàn trâu giảm
1,03%/năm; sản lượng thịt trâu tăng từ 124 tấn năm 2000 lên 138 tấn năm 2010,
tăng bình quân 10,7%/năm.
- Chăn nuôi trâu phổ biến là phân tán trong các nông hộ; nguồn thức ăn
dựa vào chăn thả tự nhiên là chính, kết hợp bổ sung thêm rơm. Vào những
tháng mùa khô, khi sinh đẻ hoặc bị bệnh có thêm thức ăn tinh, củ, quả.
- Việc đầu tư để cải tiến chất lượng giống trâu các năm qua chưa được
thực hiện, chỉ bắt đầu từ năm 2002 Bộ NN-PTNT và một số địa phương mới
đầu tư dự án cải tiến và phát triển giống trâu, nhằm mục tiêu giảm thiểu mức độ
đồng huyết, cải tiến nâng cao tầm vóc của đàn trâu Việt Nam.
Biểu 05: Địa bàn phân bố và sản lượng thịt trâu năm 2010
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9

Huyện, thành phố, thị xã
Tổng số

Nguồn: Niên giám thông kê năm 2010

- Chăn nuôi trâu vẫn còn nhiều hạn chế mang tính quảng canh, tận dụng;
chưa có hệ thống sản xuất giống trâu; chưa có chính sách quốc gia về phát triển
chăn nuôi trâu; các quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, công nghệ mới chưa được
phổ biến và ứng dụng rộng rãi.
- Về phân bổ đàn cho thấy: Đàn trâu tập trung chủ yếu ở huyện Phú Hoà
với 1.034 con, chiếm 34,7% tổng đàn, ít nhất là Tuy An, còn huyện Đồng Xuân
và thị xã Sông Cầu đàn trâu không phát triển.
1.2. Chăn nuôi bò
- Phú Yên với diện tích tự nhiên tương đối rộng và thị trường tiêu thụ thịt
bò đang khá tốt, là một lợi thế để phát triển chăn nuôi bò thịt, tổng đàn bò năm
2010 có 189.565 con; trong đó, đàn bò lai Zêbu có 93.925 con. Từ năm 2000
đến nay nhờ có các chương trình dự án của tỉnh đã đưa tỷ lệ bò lai Zêbu đạt
49,5% tổng đàn. Song để phát triển thành một ngành chăn nuôi bò thịt hàng
hóa, thì phải tập trung cải tạo chất lượng giống để nâng cao tầm vóc và sức sản
xuất của bò địa phương. Sản lượng thịt bò sản xuất năm 2010 đạt 11.457 tấn,
15


chiếm 38,7% sản lượng thịt các loại, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2000 2010 là 7,9%/năm.
Biểu 06: Địa bàn phân bố và sản lượng thịt bò năm 2010
TT

1
2
3
4
5
6

Tr. Đó: Lai Sind
Số con
%

93.925
6.130
9.240
3.562
16.340
15.825
9.950
7.752
18.870
6.256

49,55
76,50
45,77
26,67
50,49
74,07
40,01
26,54
68,13
50,04

SL. Thịt
(tấn)

11.457

lợn hơi, kích thích chăn nuôi phát triển. Giai đoạn 2005 - 2010 đàn lợn giảm
mạnh bình quân 8,55% do tác động của giá cả thị trường, giá thức ăn tăng
mạnh, trong khi đó giá sản phẩm chăn nuôi tăng chậm hơn nên đã đẩy ngành
chăn nuôi gặp nhiều khó khăn. Lợn lai kinh tế hiện chiếm khoảng 75% tổng đàn
và tập trung chủ yếu ở vùng ven đô, các trang trại chăn nuôi, vùng đồng bào
16


Kinh. Đến nay có khoảng 12% lợn nạc (trong đó: khoảng 5% lợn ngoại, 7% lợn
lai có trên ¾ máu ngoại) được nuôi chủ yếu trong các trang trại.
Biểu 07: Địa bàn phân bố, cơ cấu đàn, sản lượng thịt lợn năm 2010
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9

Trong đó
Huyện, thành Tổng số
Số con
S. lượng Tr. lượng
phố thị xã
(con)
x.
chuồng

8.972
15.660
877
56
H. Phú Hoà
24.847
4.100 20.714
48.170
3.490
72
H. Sơn Hoà
8.013
493
7.475
11.490
510
44
H. Sông Hinh
9.362
2.369
6.948
5.705
302
53
H. Tây Hoà
15.045
712 14.280
29.480
2.250
76

trong đó giai đoạn 2000 - 2005 tăng bình quân 1,8%/năm. Giai đoạn 2005 2010, dịch cúm gia cầm xảy ra trên toàn quốc đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức
17


tiêu thụ thịt gia cầm, nhưng vẫn tăng bình quân 2,17% năm, sản lượng trứng
các loại sản xuất năm 2010 đạt 83,75 triệu quả. Sản lượng thịt gia cầm sản xuất
năm 2010 đạt 3.282 tấn, chiếm 11,08% sản lượng thịt các loại, tốc độ tăng
trưởng thịt gia cầm bình quân giai đoạn 2000 - 2010 là 5,88%/năm.
Biểu 08: Địa bàn phân bố, sản lượng thịt, trứng gia cầm năm 2010
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9

Huyện, TP, TX
Tổng số
Tp. Tuy Hoà
Huyện Đồng Xuân
TX. Sông Cầu
Huyện Tuy An
Huyện Phú Hoà
Huyện Sơn Hoà
Huyện Sông Hinh
Huyện Tây Hoà

9.393
144.389
190.745
1.298
12.877
249.986
203.544

SL. thịt
(tấn)
3.282
336
230
115
456
510
105
126
700
704

SL. trứng
1000 quả
83.755
4.450
5.300
2.580
13.980
14.994
3.200

hoạch phát triển ồ ạt, thiếu cân đối giữa các loại vật nuôi.
Biểu 09: Địa bàn phân bố đàn dê năm 2010
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9

Huyện, thành phố, thị xã

Tổng số (con)
Tp. Tuy Hoà
Huyện Đồng Xuân
TX. Sông Cầu
Huyện Tuy An
Huyện Phú Hoà
Huyện Sơn Hoà
Huyện Sông Hinh
Huyện Tây Hoà
Huyện Đông Hoà

2010
4.976
282
445

Tuy Hoà, Phú Hoà, Tây Hoà, Tuy An và Đông Hoà,… bê lai ra đời sinh trưởng
phát triển tốt, ít bệnh tật.
2.2. Giống Lợn
19


- Các giống có tỷ lệ nạc cao (lợn ngoại thuần chủng hoặc con lai 2-3-4
máu giữa các giống): Phổ biến hiện nay là Yorkshire (Đại Bạch), Landrace, Pi
Đu, Đu Rốc, Pietrain,...
- Giống hướng nạc: Chủ yếu là dùng con lai F1 giữa Sia bóng Phú Khánh
với lợn hướng nạc làm nền để phối tinh lợn hướng nạc tạo con lai F2 có 75%
máu ngoại và một số ít dùng lợn Móng Cái làm nền. Một số địa phương có chăn
nuôi lợn phát triển như: Phú Hòa, Tây Hòa, Đông Hoà và TP. Tuy Hoà…, các
chủ trang trại đã sử dụng lợn nái ngoại để sản xuất con giống nuôi lợn thịt bước
đầu cho kết quả tốt.
- Lợn địa phương: Nhóm lợn địa phương của đồng bào tại các huyện hiện
nay tuy thoái hóa về chất lượng (do phối đồng huyết), năng suất thấp nhưng vẫn
còn nuôi phổ biến do dễ nuôi, thịt ngon được người tiêu dùng ưa chuộng.
* Chương trình cải tạo đàn lợn bằng thụ tinh nhân tạo
Chăn nuôi lợn hướng nạc trong những năm qua có chiều hướng chuyển
biến tích cực, công tác thụ tinh nhân tạo (TTNT) lợn được người chăn nuôi chú
trọng hơn, nông dân đã từng bước áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT)
mới vào chăn nuôi.
- Năm 2010 trại thực nghiệm lợn giống Hoà Thắng đã nhập về 05 đực
giống thuần ông bà và tiến hành loại thải các đực giống đã hết thời hạn sử dụng.
Tổng đàn đực giống hiện nay là 08 con (gồm Landrace 05 con, Yorkshrie 01
con, Duroc-Pietrain 01 con, và Duroc 01 con).
- Trong năm trại đã sản xuất được 10.448 liều tinh, cung ứng ra thị
trường 8.927 liều đạt 139,5% kế hoạch năm và phối giống cho 5.707 con lợn
nái, số lợn nái có chửa là 5.337 con.

19.189

Lợn con đẻ ra (con)

26.400
29.400
26.780
32.346
114.926

Nguồn: Trại thực nghiệm giống lợn Hòa Thắng

20


II. TẬP QUÁN CHĂN NUÔI - TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH - THỰC
TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÙNG CHĂN NUÔI
1. Tập quán chăn nuôi
Với truyền thống, phong tục, tập quán và điều kiện kinh tế của người dân
từ xưa đến nay thường mỗi nhà đều nuôi lợn và gia cầm tại nhà để tận dụng các
sản phẩm dư thừa sau sinh hoạt nhằm tăng thêm nguồn thu nhập cho cuộc sống
gia đình và lấy phân bón cho đồng ruộng. Trong quá trình phát triển, với điều
kiện kinh tế ngày một khá giả, việc chăn nuôi tại gia đã không còn phù hợp và
đang trong quá trình tự triệt tiêu. Gia súc được thả rông hoặc sống quanh khu
dân cư, dễ phát sinh ổ dịch lớn khi dịch bệnh xảy ra và gây ô nhiễm nghiêm
trọng đến môi trường sống cho chính gia đình mình và những người xung
quanh. Trong khi đó chăn nuôi theo hình thức công nghiệp lại dần được khẳng
định do chi phí nhân công giảm, tận dụng tối đa nguồn thức ăn, vệ sinh môi
trường được chú trọng.
2. Tình hình dịch bệnh

Trong giai đoạn 2000 - 2010 trên địa bàn tỉnh đã diển ra một dịch bệnh
(như lở mồm long móng gia súc, lợn tai xanh) với số lượng không nhiều. Do
triển khai tốt công tác thú y trên địa bàn từng huyện (tổ chức tiêm phòng, tiêu
huỷ kịp thời khi phát hiện bệnh, vận động người nuôi chấp hành tốt pháp lệnh
thú y, kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc sản phẩm) và xử lý nghiêm với sản phẩm
chăn nuôi của địa phương khác vận chuyển qua địa bàn (qua Quốc lộ 1A,...),
nên tỉnh đã khống chế được sự bùng phát của dịch,... Hầu hết các trang trại đều
tự giác tiêm chủng các loại vacxine và khi nghi có dịch đều báo cáo cho cán bộ
thú y, trạm thú y nên xử lý tốt.
* Công tác tiêm phòng hàng năm đạt khoảng 80-85% tổng đàn gia súc,
gia cầm, ở vùng sâu, vùng xa, nông dân chưa nhận thức được lợi ích của tiêm
phòng, nên tỷ lệ đạt thấp. Nhờ tổ chức tốt công tác tiêm phòng nên đã chủ động
khống chế được các loại dịch bệnh.
Năm 2010 đã tiến hành tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm với các
chũng loại sau:
+ Vaccine LMLM cho gia súc: 371.088 liều.
+ Vaccine cúm gia cầm: 1.411.128 liều.
21


+ Vaccine khác: dịch tả lợn 40.140 liều, tụ huyết trùng lợn 30.760 liều,
phó thương hàn lợn 33.800 liều, dịch tả vịt 2.600.000 liều, Newcatxơn 961.650
liều, tụ huyết trùng 215.050 liều, Gumboro 321.700 liều, đậu gà 353.300 liều.
Biểu 12: Kết quả tiêm phòng vaccin LMLM cho gia súc qua các năm
Năm
2006
2007
2008
2010


1.849

Nguồn: Chi cục thú y tỉnh
* Công tác kiểm soát giết mổ (KSGM) và kiểm dịch động vật (KDĐV) ra
vào tỉnh được tiến hành thường xuyên nên hạn chế được dịch bệnh. Năm 2010
đã KSGM được 6.215 con trâu bò, 89.764 con lợn, 2.377 con chó và 39.863
con gia cầm. Kiểm dịch được 29.286 con trâu bò, 364 con lợn, 11.413 con chó,
333.601 con gia cầm, 30.058 con gà đá, 1.148,9 tấn phân động vật và 18,2 triệu
quả trứng gia cầm, cùng một số động vật khác,...
3. Môi trường khu vực chăn nuôi và vùng phụ cận
- Thực tế cho thấy, chăn nuôi không đóng vai trò chủ chốt trong nền kinh
tế toàn cầu nhưng lại là ngành có nhiều ý nghĩa về mặt chính trị - xã hội. Ở
nước ta hiện nay, chăn nuôi chiếm 40% tổng sản phẩm trong ngành nông
nghiệp. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi cũng được coi là một trong ba ngành có tác
động lớn đến môi trường. Thực tế những năm qua cho thấy, chăn nuôi có sự
tăng trưởng nhưng không bền vững.
- Cùng với sự gia tăng dân số và thu nhập, nhu cầu về các sản phẩm từ
thịt và sữa ngày càng tăng. Đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, ngành chăn
nuôi đã có nhiều thay đổi trong việc áp dụng TBKT chọn giống, chăm sóc,
phòng bệnh cũng như chất và lượng, quy mô tổng đàn.
- Song song với những thành quả đã được thì phát triển chăn nuôi vẫn
gây ra các tác động tiêu cực đến môi trường. Hiện nay, tại các hộ gia đình hầu
như chưa có hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi. Tình trạng sử dụng phân gia
súc (trâu bò, lợn…) để bón trực tiếp cho cây trồng hoặc làm thức ăn cho cá diễn
ra phổ biến ở vùng nông thôn.
- Thêm vào đó, trong chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi lợn, việc dọn dẹp
chuồng trại bằng nước được sử dụng rộng rãi tạo ra một khối lượng nước thải
khá lớn. Khối lượng nước sử dụng cho một con gia súc khoảng 30-180
lít/con/ngày tuỳ thuộc vào đặc điểm hệ thống chuồng trại, quy mô nuôi dưỡng
chăm sóc, mùa mưa hay mùa khô.

ăn đầu tư theo giai đoạn,… Do vậy hiệu quả kinh tế đã được nâng cao.
- Tuy nhiên trong những năm qua phát triển chưa bền vững vì chưa có
quy hoạch, kế hoạch trung hạn và dài hạn để phát triển CNTT, dẫn đến tình
trạng các trang trại được xây dựng manh mún, thiếu sự đầu tư, hỗ trợ cơ sở hạ
tầng, chưa hình thành liên vùng sản xuất hàng hoá tập trung. Các chủ trang trại
chăn nuôi phần lớn xuất thân từ nông dân, hoặc thành phần khác có vốn nhưng
chưa được đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ quản lý kinh tế trang trại nên
điều hành sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Không những hạn chế về mặt
chuyên môn mà kể cả những thông tin thị trường ít được cập nhật. Hầu hết sản
phẩm chăn nuôi trang trại được tiêu thụ thông qua thương lái, thường hay bị ép
giá, gây thua thiệt cho người chăn nuôi. Giá cả sản phẩm chăn nuôi còn biến
động lớn, bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố về tâm lý; giá
thu mua tại trại còn có sự chênh lệch lớn so với giá bán cho người tiêu dùng.
Kết quả điều tra và số liệu thông kê hiện nay trên địa bàn tỉnh có 247 trang trại,
trong đó trang trại chăn nuôi gia cầm chiếm đa số với 142 trang trại (gồm chim
cút, gà công nghiệp và vịt), kế đến là trang trại chăn nuôi lợn với 93 trang trại,
trang trại chăn nuôi trâu bò không đáng kể.
23


Biểu 13: Số lượng trang trại chăn nuôi năm 2010
Thứ tự
1
2
3
4
5
6
7
8

mô hình trang trại này các tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi đã được chuyển giao và áp
dụng: chuồng trại xây dựng cách xa khu dân cư, theo quy trình công nghiệp như
chuồng lồng, sàn, van uống tự động,… có biện pháp xử lý chất thải bằng bể
biogas, chế phẩm sinh học EM giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Các tiến bộ về giống vật nuôi, thức ăn, chuồng trại, quy trình kỹ thuật
chăm sóc nuôi dưỡng ngày càng được áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi tập
trung, đặc biệt là chăn nuôi lợn, gia cầm, vì vậy năng suất, chất lượng sản phẩm
và hiệu quả chăn nuôi được cải thiện đáng kể. Phần lớn các giống gia súc, gia
cầm cao sản trên thế giới được nhập vào nước ta và nuôi ở các trang trại.
- Chăn nuôi trang trại, tập trung đã góp phần kiểm soát dịch bệnh. Do
phần lớn các trang trại đầu tư công nghệ chăn nuôi tiên tiến và áp dụng các biện
pháp an toàn sinh học, cho nên mặc dù dịch lợn tai xanh và dịch LMLM xảy ra
trên diện rộng, nhưng hầu hết các trang trại chăn nuôi vẫn chủ động khống chế
và kiểm soát được các dịch bệnh nguy hiểm này.
- Chăn nuôi trang trại, tập trung đã góp phần khai thác và sử dụng có hiệu
quả diện tích đất đồi gò, đất hoang hoá, đất ven sông ven biển... Tạo ra những
vùng sản xuất tập trung với khối lượng hàng hóa lớn, thúc đẩy quá trình chuyển
đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tạo điều kiện cho công nghiệp chế biến, giết mổ
phát triển.
- Đồng thời với việc mở rộng về số lượng và quy mô chăn nuôi, loại hình
chăn nuôi trang trại, tập trung đã góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập
cho người sản xuất. Chăn nuôi trang trại đã thu hút nhiều thành phần kinh tế
tham gia đầu tư như nông dân, cán bộ, công chức, người đã nghỉ hưu, các
doanh nhân trong và ngoài nước.
24


3. Thời cơ và thách thức
Ngành chăn nuôi Phú Yên nói riêng và chăn nuôi cả nước nói chung
đứng trước thời cơ và thách thức sau:

quan từng bước bị dỡ bỏ (hiện các sản phẩm nhập chịu thuế nhập khẩu 12%).
Giá thành các sản phẩm chăn nuôi cao, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm
chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng trong
nước, nhất là cho xuất khẩu.
- Ngành chăn nuôi hàng hóa ở nước ta nói chung và Phú Yên nói riêng
mới hình thành nên không có truyền thống “cha truyền con nối” như ở các nước
khác. Chính vì điều khác biệt này mà chăn nuôi chưa có cơ hội phát triển lâu
dài, bền vững ở từng hộ, nếu không có chính sách thích hợp khuyến khích.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status