Các nguyên tắc quản lý chất lượng theo ISO 9000:2000. Phân tích nguyên tắc định hướng khách hàng. Liên hệ thực tiễn đến công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk - Pdf 50

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................2
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG....................................................3
VÀ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG..............................................................................3
I. Chất lượng và quản trị chất lượng......................................................................3
II. Khái quát chung về ISO 9000: 2000.................................................................4
1.Bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000........................................................................4
2.Quá trình hình thành và phát triển của bộ tiêu chuẩn ISO 9000....................5
3.Kết cấu bộ tiêu chuẩn ISO 9000.....................................................................6
4.Tình hình áp dụng ISO 9000 trong các doanh nghiệp ở Việt Nam................6
PHẦN HAI:.............................................................................................................10
NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG THEO ISO 9000:2000...................10
I. Các nguyên tắc quản trị chất lượng theo ISO 9000:2000................................10
II. Nguyên tắc: Định hướng khách hàng..............................................................11
PHẦN BA:...............................................................................................................15
LIÊN HỆ NGUYÊN TẮC ĐỊNH HƯỚNG KHÁCH HÀNG................................15
THEO ISO 9000:2000 VÀO CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM
(VINAMILK)..........................................................................................................15
I. Giới thiệu chung Công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk.............................15
II. Chính sách, mục tiêu chất lượng của Vinamilk..............................................18
III. Nguyên tắc định hướng khách hàng thể hiện trong Công ty Vinamilk.........20
1.Nghiên cứu nhu cầu......................................................................................20
2. Thiết kế, sản xuất.........................................................................................22
IV.Đánh giá hoạt động áp dụng quản trị chất lượng theo ISO 9000:2000 của
Vinamilk..............................................................................................................26
KẾT LUẬN CHUNG..............................................................................................29


LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường, với sự tồn tại khách quan của quy luật cạnh tranh đã
trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy nền kinh tế đất nước nói chung và doanh

thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc
tế.
Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2000 định nghĩa : “ Chất lượng là tập hợp đặc tính của
một thực thể tạo cho thực thể đó yêu cầu đã đưa ra hoặc tiềm ẩn.
Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2005 định nghĩa chất lượng là: "Mức độ đáp ứng các
yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có"
Chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thoả mãn nhu cầu của
khách hàng. Vì vậy, sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của
khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù trình độ công nghệ sản xuất ra có
hiện đại đến đâu đi nữa. Đánh giá chất lượng cao hay thấp phải đứng trên quan
điểm người tiêu dùng. Cùng một mục đích sử dụng như nhau, sản phẩm nào thoả
mãn nhu cầu tiêu dùng cao hơn thì có chất lượng cao hơn.
Yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm hay dịch vụ thường là: tốt, đẹp,
bền, sử dụng lâu dài, thuận lợi, giá cả phù hợp.
2. Quản trị chất lượng
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản trị chất lượng. Tuy
nhiên, khái niệm này có nhiều điểm tương đồng và phản ánh được bản chất của
quản trị chất lượng.
Khoa học của quản trị chất lượng được hình thành và hoàn thiện liên tục thể
hiện ngày càng đầy đủ hơn bản chất tổng hợp phức tạp của vấn đề chất lượng.
Vào những năm đầu thế kỷ XX chưa có khái niệm về quản trị chất lượng mà chỉ có
khái niệm về kiểm tra chất lượng: Là việc cung ứng các phương thức, các thủ tục,
các kiến thức đảm bảo cho sản phẩm đang hoặc sẽ sản xuất phù hợp các yêu cầu
trong hợp đồng kinh tế bằng con đường hiệu quả nhất, kinh tế nhất với sự tham gia
của các chuyên gia.
Sau những năm 50, cung bắt đầu lớn hơn cầu trên thị trường điều đó khiến
các doanh nghiệp phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm nhiều hơn, khái niệm
quản trị chất lượng bắt đầu xuất hiện.
Dưới đây là một số khái niệm về quản trị chất lượng:


chuẩn được chấp nhận ở cấp quốc tế về hệ thống quản lý chất lượng và có thể áp
dụng trong mọi lĩnh vực sản xuất ,kinh doanh ,dịch vụ cũng như mọi tổ chức . ISO
9000 là sự đúc kết kinh nghiệm quản lý tốt nhất trên thế giới ,được nhiều quốc gia
chấp nhận và áp dụng trong nhiều năm qua . Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 bao gồm các
tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng và một số tiêu chuẩn hướng dẫn áp dụng
4


khác .Các phiên bản khác nhau của bộ tiêu chuẩn ISO 9000 có sự khác nhau về số
lượng các tiêu chuẩn ,kết cấu và yêu cầu của hệ thống quản trị chất lượng.
2.Quá trình hình thành và phát triển của bộ tiêu chuẩn ISO 9000
ISO 9000 là sự kế thừa nhiều tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế đã tồn tại và
được chấp nhận .Do có những nhận thức và cách tiếp cận khác nhau về chất lượng
giữa các nước thành viên ,nên Viện tiêu chuẩn Anh BSI đã đề nghị ISO thành lập
một ủy ban về kĩ thuật để phát triển các tiêu chuẩn quốc tế về kĩ thuật và thực hành
đảm bảo chất lượng .
 Năm 1955 : đã có một tiêu chuẩn và văn bản thỏa thuận về đảm bảo chất lượng
ra đời ở các nước châu Âu và châu Mỹ ,các thủ tục thừa nhận lẫn nhau trong
các nước thuộc khối quân sự Bắc Đại Tây Dương với mục đích phục vụ cho
công nghiệp quốc phòng như : Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương –NATO trong đó
đã xây dựng ủy ban Đảm bảo chất lượng –đã thực hiện các dự án chất lượng
như tàu vũ trụ Apollo của NASA ,máy bay chiến đấu F , máy bay siêu thanh
Concorde của Anh, …
 Năm 1969 : xuất hiện các tiêu chuẩn và các quy định liên quan đến hệ thống
đảm bảo chất lượng như : tiêu chuẩn quốc phòng MD 05 ( Anh ) , MIL STD
9858 ( Mỹ ) ,thủ tục thừa nhận lẫn nhau về hệ thống đảm bảo chất lượng của
các nhà thầu phụ thuộc vào các nước thành viên NATO.
 Năm 1972 : các tiêu chuẩn quốc phòng của Anh ,DEFSTAN 05 ,21,24,26,29 là
những hướng dẫn việc xem xét hệ thống quản lý chất lượng của nhà thầu phụ
thuộc trước khi kí hợp đồng cũng được các công ty ở các nước trong khối

pháp tiếp cận quản lý chất lượng
 TCVN ISO 1911: 2002 : hướng dẫn đánh giá hệ thống quản lý chất lượng và hệ
thống quản lý môi trường
4.Tình hình áp dụng ISO 9000 trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
Quả thật, ISO 9000 đã góp phần không nhỏ làm thay đổi sự lãnh đạo và
quản lý các doanh nghiệp, thay đổi tư duy quản lý, kinh doanh của nhiều chủ
doanh nghiệp, họ đã có tầm nhìn chiến lược trong kinh doanh, làm ăn có bài bản,
không theo kiểu trước mắt.
Khi Việt Nam gia nhập WTO, việc áp dụng bộ tiêu chuẩn ISO ,tạo ra
những hiệu qủa cho phát triển và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với kinh tế
toàn cầu.
Tổng công ty dệt may Việt Nam đã đưa ISO 9000 vào đời sống kinh doanh
và sản xuất. Nếu không có sự áp dụng này, ngành dệt may Việt Nam không tạo
được niềm tin với bạn hàng quốc tế rằng chất lượng là một tố chất chính của chiến
lược kinh doanh của ngành dệt may Việt Nam.
Một thành công đáng ghi nhận nhất là các tổng công ty xây dựng - xây lắp
(công nghiệp và dân dụng) như Lilama, Vinaincon, Coma, Vinaconex, Tổng công
6


ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Tàu biển Việt Nam,... đã áp dụng ISO 9000
ngay từ năm 1997. Đến nay các tổng công ty này đã thực sự đóng vai trò tổng thầu
(EPC) cho một số dự án tầm cỡ quốc gia và quốc tế.
Trong lĩnh vực thủy sản, nông sản, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất,
chế biến để xuất khẩu thủy sản đã thực hiện từ khâu sản phẩm phải có chất lượng
ổn định (áp dụng ISO 9000) và phù hợp với chuẩn mực vệ sinh ATTP (HACCP) và
đã thành công vượt qua những rào chắn kỹ thuật của những thị trường khó tính
nhất như Mỹ, Nhật, EU.
Áp dụng ISO 9000, chất lượng dịch vụ của các tổng công ty dịch vụ (bưu
chính viễn thông, hàng không, du lịch...) và các ngân hàng thương mại lớn đã tăng

phát triển rất nhanh, tạo ra hàng núi công ăn việc làm, tạo ra bước phát triển đột
phá để Việt Nam nhanh chóng đuổi kịp các nước trong khu vực. Việt Nam cần kết
hợp các tri thức về quản trị khác để nâng cao hiệu qủa áp dụng của bộ tiêu chuẩn
quản lý chất lượng ISO 9000, đặc biệt đưa những thành tựu công nghệ thông tin
vào áp dụng theo một lộ trình rõ ràng, tùy vào nguồn lực của từng doanh nghiệp.
Những doanh nghiệp vừa và nhỏ cần có tư duy phát triển từ doanh nghiệp
nhỏ (doanh nghiệp gia đình có từ 3-4 người), sau 5 năm thành doanh nghiệp vừa
(100 lao động) và sau 5 năm nữa sẽ trở thành doanh nghiệp lớn (1.000 lao động).
Đưa ISO 9000 vào khối doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ là một tác nhân rất quan trọng
để nhanh chóng phát triển từ doanh nghiệp nhỏ thành vừa và thành doanh nghiệp
lớn. Bởi ISO 9000 có ưu điểm rất lớn là có thể áp dụng cho tất cả các loại hình
doanh nghiệp, từ doanh nghiệp quy mô gia đình chỉ có 3-4 lao động đến doanh
nghiệp Nhà nước hay các tập đoàn xuyên quốc gia có hàng vạn lao động.
PHẦN HAI:
NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG THEO ISO 9000:2000
I. Các nguyên tắc quản trị chất lượng theo ISO 9000:2000
1.Định hướng khách hàng
Nguyên tắc này cần được thực hiện trong mọi việc khác như việc đảm bảo
sự tiếp đãi bình đẳng đối với khách hàng và các đối tác; gắn kết nhưng như cầu
mong đợi này với tổ chức; đo lường thường xuyên sự thỏa mãn khách hàng và cải
8


thiện mức độ hài lòng của khách hàng dựa trên những kết quả đo lường này, đồng
thời xây dựng hệ thống và phương pháp quản lý mỗi quan hệ với khách hàng.
2. Vai trò lãnh đạo
Lãnh đạo các tổ chức, doanh nghiệp cần phải xác định mục đích và phương
hướng thống nhất cho tổ chức của mình. Họ cần phải tạo và duy trì môi trờng nội
bộ mà ở đó mọi ngời tham gia tích cực vào việc đạt đợc các mục tiêu của tổ chức”
3.Sự tham gia của mọi thành viên

hiểu các nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng, để không những đáp ứng
mà còn phấn đấu vượt cao hơn sự mong đợi của khách hàng.
Phân tích: Chất lượng định hướng bởi khách hàng là một yếu tố chiến lược,
dẫn tới khả năng chiếm lĩnh thị trường, duy trì và thu hút khách hàng. Nó đòi hỏi
phải luôn nhạy cảm đối với những khách hàng mới, những yêu cầu thị trường và
đánh giá những yếu tố dẫn tới sự thoả mãn khách hàng. Nó cũng đòi hỏi ý thức cải
tiến, đổi mới công nghệ, khả năng thích ứng nhanh và đáp ứng nhanh chóng mau lẹ
các yêu cầu của thị trường; giảm sai lỗi khuyết tật và những khiếu nại của khách
hàng.
Chất lượng sản phẩm hàng hoá của một doanh nghiệp phải được định hướng
bởi khách hàng, doanh nghiệp phải sản xuất, bán cái mà khách hàng cần chứ không
phải cái mà doanh nghiệp có. Chất lượng sản phẩm dịch vụ hành chính công của
một cơ quan hành chính nhà nước phải được định hướng bởi khách hàng là người
dân, đáp ứng nhu cầu của người dân, vì dân phục vụ.
10


Các doanh nghiệp, tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh để tồn tại và phát
triển đều với mục đích tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc phục vụ thỏa mãn các
nhu cầu của khách hàng. Điều đó có nghĩa là khách hàng chính là người mang lại
nguồn lợi cho doanh nghiệp, có khách hàng nghĩa là có doanh số, lợi nhuận và vì
thế công ty mới có thể tồn tại và phát triển được.
Một câu hỏi được đặt ra: Làm thế nào để thỏa mãn được các nhu cầu đa
dạng của khách hàng?
Đó là khi các tổ chức, doanh nghiệp phải luôn coi khách hàng là trung tâm
của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, hay nói cách khác là các tổ chức, doanh
nghiệp phụ thuộc vào các khách hàng của mình, xem khách hàng như là động lực
chèo lái và phát triển của tổ chức. Trước đây, xu hướng của các doanh nghiệp là
phát triển sản phẩm rồi đi tìm thị trường để tiêu thụ, tìm khách hàng để bán sản
phẩm đã cho thấy doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn như: Hàng hóa tồn kho

khách hàng về việc công ty có đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng hay
không, coi đó như một trong những thước đo mức độ thực hiện của hệ thống chất
lượng. Sản phẩm và dịch vụ được tạo ra để thỏa mãn nhu cầu khách hàng luôn là
một quá trình có sự kết hợp của nhiều bộ phận, phòng ban trong công ty. Vì vậy,
cần phổ biến nhu cầu và mong đợi của khách hàng trong toàn bộ tổ chức công ty
theo các cấp độ tương ứng để mọi người thấu hiểu và thực hiện đầy đủ, qua đó đảm
bảo và nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng.
Định hướng khách hàng tốt cũng nghĩa là các doanh nghiệp cũng cần xây
dựng và quản lý mối quan hệ với khách hàng hiệu quả. Và định hướng khách hàng
không chỉ là một nguyên tắc đơn thuần mà đã trở thành một phần, một bộ phận
12


trong hệ thống quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Hiện nay, mô hình quản trị
mối quan hệ khách hàng (CRM) chính là mô hình mang tính định hướng trong
doanh nghiệp, như là một chiến lược kinh doanh chứ không phải là dịch vụ khách
hàng thuần túy.
Một chuyên gia tư vấn về quản trị doanh nghiệp đã ví von rằng: “Nếu coi hệ
thống quản lý kinh doanh là một chiếc xe đạp thì khung xe (mang tính nền tảng) là
hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000, bánh trước (mang tính định hướng) là hệ
thống CRM và bánh sau (mang tính động lực) là hệ thống ERP.”
PHẦN BA:
LIÊN HỆ NGUYÊN TẮC ĐỊNH HƯỚNG KHÁCH HÀNG
THEO ISO 9000:2000 VÀO CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM
(VINAMILK)
I. Giới thiệu chung Công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
Vinamilk

Loại hình

Dịch vụ
Doanh thu
Lợi nhuận
kinh doanh
Số nhân viên

Lê Thị Băng Tâm - Chủ tịch
Hội đồng Quản trị
Mai Kiều Liên - Tổng Giám
đốc
Sữa, phòng khám đa khoa,
nước trái cây, đầu tư tài
chính
46.965 tỷ đồng (2016)
9.364 tỷ đồng (2016)
6000 (2016)

Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam, tên khác: Vinamilk, mã chứng khoán
HOSE: VNM, là một công ty sản xuất, kinh doanh sữa và các sản phẩm từ sữa
cũng như thiết bị máy móc liên quan tại Việt Nam. Theo thống kê của Chương
trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, đây là công ty lớn thứ 15 tại Việt Nam vào năm
2007.
Công ty là doanh nghiệp hàng đầu của ngành công nghiệp chế biến sữa,
hiện chiếm lĩnh 54,5% thị phần sữa nước, 40,6% thị phần sữa bột, 33,9% thị phần
sữa chua uống, 84,5% thị phần sữa chua ăn và 79,7% thị phần sữa đặc trên toàn
quốc. Ngoài việc phân phối mạnh trong nước với mạng lưới hơn 220.000 điểm bán
hàng phủ đều 63 tỉnh thành, sản phẩm Vinamilk còn được xuất khẩu sang 43 quốc
gia trên thế giới như Mỹ, Pháp, Canada, Ba Lan, Đức, khu vực Trung Đông, Đông
Nam Á... Sau hơn 40 năm ra mắt người tiêu dùng, đến nay Vinamilk đã xây dựng
được 14 nhà máy sản xuất, 2 xí nghiệp kho vận, 3 chi nhánh văn phòng bán hàng,

Vinamilk luôn mang đến cho bạn những giải pháp dinh dưỡng chất lượng quốc tế,
đáp ứng nhu cầu cho mọi đối tượng tiêu dùng với các sản phẩm thơm ngon, bổ
dưỡng, tốt cho sức khỏe gắn liền với các nhãn hiệu dẫn đầu thị trường hay được ưa
chuộng như: Sữa nước Vinamilk, Sữa chua Vinamilk, Sữa đặc Ông Thọ và Ngôi
Sao Phương Nam, Sữa bột Dielac, Nước ép trái cây Vfresh...

15


Vinamilk cung cấp hơn 200 chủng loại sản phẩm với các ngành hàng chính:
*Sữa nước: sữa tươi 100%, sữa tiệt trùng bổ sung vi chất, sữa tiệt trùng, sữa
organic, thức uống cacao lúa mạch với các nhãn hiệu ADM GOLD, Flex, Super
SuSu.
*Sữa chua: sữa chua ăn, sữa chua uống với các nhãn hiệu SuSu, Probi, ProBeauty.
*Sữa bột: sữa bột trẻ em Dielac, Alpha, Pedia, Grow Plus, Optimum Gold, bột dinh
dưỡng Ridielac, sữa bột người lớn như Diecerna đặc trị tiểu đường, SurePrevent,
CanxiPro, Mama Gold.
*Sữa đặc: Ngôi Sao Phương Nam (Southern Star) và Ông Thọ.
*Kem và phô mai: kem sữa chua Subo, kem Delight, Twin Cows, Nhóc Kem,
Nhóc Kem Ozé, phô mai Bò Đeo Nơ.
*Sữa đậu nành - nước giải khát: nước trái cây Vfresh, nước đóng chai Icy, sữa đậu
nành GoldSoy.
II. Chính sách, mục tiêu chất lượng của Vinamilk
 Về doanh số và vị thế
Mục tiêu đề ra là năm 2012 phải đạt doanh số 20.000 tỉ đồng (tương đương
1 tỉ đô la Mỹ), đứng vào top 50 doanh nghiệp sữa lớn nhất thế giới với doanh số 3
tỷ đô la Mỹ vào năm 2017. Vinamilk hiện đang ở vị trí thứ 68
 Về sản phẩm
Mục tiêu của công ty là đa dạng hóa sản phẩm, phát triển thành một tập đoàn
thực phẩm mạnh của Việt Nam thông qua việc xây dựng hệ thống sản phẩm phong

giao hàng miễn phí hay chiết khấu khi mua hàng số lượng lớn.
Hướng tới mục tiêu chất lượng đã đề ra, công ty đã không ngừng nỗ lực
phấn đầu, cơ bản công ty đạt được một số mục tiêu như sau:
17


- Trong 3 tháng đầu năm 2012, Vinamilk đã ghi dấu ấn ngoạn mục trên thị
trường trong và ngoài nước với tổng doanh thu đạt hơn 6.051 tỷ đồng, tăng trưởng
khoảnh 30% so với cùng kỳ năm 2011. Đến tháng 9 doanh thu khủng của công ty
đã lên con số 20.098 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2011 và đã vượt mức
kế hoạch trước đó đề ra
- Nhằm đa dạng mặt hàng kinh doanh, công ty đã mở rộng thêm 2 lĩnh vực
sản xuất bia và cafe. Nhà máy bia có công suất ban đầu là 50 triệu/năm và sẽ tăng
công suất lên đến 100 triệu lít/năm. Nhà máy chế biến cafe có quy mô khoảng
1500 tấn cafe hòa tan/năm và 2500 tấn cafe rang xay/năm. Dự kiến 2 nhà máy xây
dựng trong vòng 18 tháng
- Để đạt được mục tiêu đề ra, Vinamilk tiếp tục củng cố và mở rộng hệ thống
phân phối: mở thêm điểm bán lẻ, tăng độ bao phủ phân phối sản phẩm. Về mặt thị
phần, tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu thị trường của Vinamilk, nâng cao thị phần
sữa nước, mở rộng thị phần nước giải khát có lợi cho sức khỏe.
- Bên cạnh đó, Vinamilk vẫn tiếp tục đầu tư mở rộng nhà máy, tối ưu hóa
công suất của các nhà máy hiện tại: xây mới các nhà máy chế biến với công nghệ
tiến tiên nhất. Đồng thời tăng số lượng trang trại bò sữa trong và ngoài nước.
III. Nguyên tắc định hướng khách hàng thể hiện trong Công ty Vinamilk
1.Nghiên cứu nhu cầu
Theo báo cáo của Tổ chức Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp
Quốc (FAO), mức tiêu dùng sữa bình quân đầu người của Việt Nam chỉ đạt 15
lít/năm chỉ bằng 1/4 nhu cầu cần có và khá thấp so với nhiều nước trong khu vực
và thế giới, như Thái Lan (34 lít/năm), Trung Quốc (25 lít/năm) và Anh (112
lít/năm).

từ sữa tươi ở mức tốt, đặc biệt là sữa chua cũng đẩy nhu cầu về sữa tươi lên cao.
Nắm bắt được tiềm năng tăng trưởng của thị trường, ngày càng có nhiều
doanh nghiệp tham gia ngành chế biến sữa Việt Nam. Đặc biệt, đa phần các doanh
19


nghiệp hiện đang tập trung đầu tư phát triển vùng nguyên liệu của riêng mình dưới
nhiều hình thức nhằm giải quyết nhược điểm lớn nhất của ngành sữa Việt Nam thiếu hụt nguyên liệu. Phần lớn lượng bò sữa của Việt Nam hiện được nuôi phân
tán trong các hộ nông dân quy mô nhỏ, kỹ thuật chăn nuôi cũng như cơ sở vật chất
kém dẫn đến sản lượng sữa thấp và chi phí sản xuất sữa tươi cao. Theo khảo sát
của Hãng Euromonitor International, chi phí trung bình của sữa ở Việt Nam là
1,40USD/lít, so với mức 1,3 USD/lít ở New Zealand và Philippines, từ 1,1 - 1,2
USD/lít tại Australia và Trung Quốc, và 0,90 USD/lít ở Anh, Hungary và Brazil.
Một trong những doanh nghiệp sữa thành công nhất với việc tạo lập vùng
nguyên liệu để phát triển sản phẩm là Vinamilk - doanh nghiệp đầu ngành sữa Việt
Nam đã đầu tư 1.600 tỷ đồng xây Tổ hợp các trang trại chăn nuôi bò sữa công nghệ
cao tại Thanh Hóa để tạo nguồn nguyên liệu chế biến sữa, chủ động mở rộng hoạt
động sản xuất. Trước đó, Vinamilk đã đầu tư xây dựng “siêu” nhà máy sữa nước và
sữa bột tại Bình Dương có tổng vốn đầu tư là 2.400 tỷ đồng, công suất bằng tổng 9
nhà máy sữa hiện tại của Vinamilk.
2. Thiết kế, sản xuất
a,Thiết kế
Khi nhắc đến thương hiệu sữa này, người dùng sẽ liên tưởng ngay đến
những mẫu bao bì có gam màu xanh dương, màu trắng, logo có hình chữ VM cách
điệu và những chú bò sữa vui nhộn. Logo của Vinamilk được thiết kế khá linh hoạt
với 2 dạng: Dạng ngang và dạng đứng với hai gam màu xanh và trắng cơ bản. Màu
xanh biểu tượng cho thiên nhiên, đồng cỏ, nguồn dinh dưỡng và tạo nên cảm giác
gần gũi cho khách hàng. Còn gam màu trắng thể hiện đến sữa và các chế phẩm từ
sữa. Ngoài ra, trên logo còn có 2 nét lượn ở trên và dưới tượng trưng cho 2 giọt sữa
đang chảy từ dòng sữa, có tác dụng gây ấn tượng mạnh với khách hàng.

cung cấp bao bì chất lượng cao và dồi dào, để cho ra hàng chục triệu hộp sữa mỗi
ngày. Do đó, Vinamilk đã hợp tác với hai nhà cung cấp bao bì hàng đầu thế giới là
công ty Tetra Pak của Thụy Điển và Combibloc của Đức để cung cấp những bao bì
chất lượng hàng đầu. Tuy hai loại bao bì này khác nhau về kích cỡ, màu sắc và
cách đóng gói nhưng cả hai đều cùng dung tích và đạt chuẩn quốc tế giúp giữ trọn
sự tươi ngon của sữa trong suốt 6 tháng mà hoàn toàn không dùng bất kỳ chất bảo
quản nào.
Với cấu tạo 6 lớp, là loại bao bì có sự kết hợp ưu điểm của 3 chất liệu giấy,
nhựa và nhôm để tạo nên một mẫu bao bì có tính chất hoàn chỉnh nhất, hạn chế
khuyết điểm của từng loại riêng biệt. Đây là dạng hộp giấy khá đặc biệt, với
nguyên liệu chính là giấy nhưng có thể chứa đựng chất lỏng.
Một số điểm khác nhau của hai loại bao bì:
 Hộp Tetra Pak cao và thon thả, hộp Combibloc thấp hơn và có bề ngang
rộng hơn.
 Vị trí ống hút hộp Combibloc ở giữa hộp, trong khi ống hút hộp Tetra Pak ở
góc hộp.
 Trên mặt đáy mỗi loại bao bì đều có logo của nhà sản xuất bao bì.
b, Sản xuất
Nhà máy Sữa Việt Nam được trang bị dây chuyền sản xuất sữa tươi tiệt
trùng với thiết bị hiện đại và công nghệ sản xuất tiên tiến hàng đầu hiện nay. Nhà
22


máy hoạt động trên một dây chuyền tự động, khép kín, từ khâu nguyên liệu đầu
vào đến đầu ra sản phẩm.
Sữa tươi sau khi được kiểm tra chất lượng và qua thiết bị đo lường, lọc sẽ
được nhập vào hệ thống bồn chứa lạnh (150 m3/bồn).
Từ bồn chứa lạnh, sữa tươi nguyên liệu sẽ qua các công đoạn chế biến: ly
tâm tách khuẩn, đồng hóa, thanh trùng, làm lạnh xuống 4 oC và chuyển đến bồn
chứa sẵn sàng cho chế biến tiệt trùng UHT. Máy ly tâm tách khuẩn, giúp loại bỏ

liệu đến xuất kho thành phẩm của toàn công ty.
IV.Đánh giá hoạt động áp dụng quản trị chất lượng theo ISO 9000:2000 của
Vinamilk
 Thành tựu :
- Mở rộng quy mô lẫn thị trường, nên vị công ty nâng lên trong năm 2013,
công ty đầu tư hai “ siêu ” nhà máy sữa lớn bậc nhất, đặt tỉnh Bình
Dương có nhà máy sữa bột Việt Nam có vốn đầu tư 2000 tỉ đồng, bắt đầu
hoạt động từ tháng 4/2013 nhà máy sữa Việt Nam có vốn đầu tư 2.400 tỉ
đồng khánh thành vào tháng 9/2013. Hai nhà máy đầu tư công nghệ tiên
tiến ngành sữa, đủ sức đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế an toàn vệ sinh thực
phẩm môi trường.
- Cho ra đời nhiều sản phẩm có giá trị cao nhằm đáp ứng nhu cầu các
nước. Xuất mọi sản phẩm từ sữa chua, sữa tươi, sữa bột… cạnh tranh với
nhãn hiệu sữa nổi tiếng quốc tế. Nhà máy sữa bột Việt Nam có tổng công
suất 54000 sữa bột/ năm, thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu sữa đạt chuẩn
quốc tế cho khoảng 700.000 trẻ em Việt Nam . Toàn bộ trang thiết bị,
24


công nghệ nhà máy được cung cấp bởi tập đoàn GEA (ĐỨC), đảm bảo
dưỡng chất, vitamin, khoáng chất,…
- Được tổ chức Bureau Veritas (Pháp) cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn
ISO 9001:2008 cho hai trang trại chăn nuôi bò sữa Vinamilk tỉnh Tuyên
Quang và Nghệ An việc đạt giấy chứng nhận ISO 9000:2008 đưa trang
trại Vinamilk trở thành đơn vị tiên phong ngành chăn nuôi bò sữa Việt
Nam áp dụng thành công hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn
ISO 9000:2008 để xuất ra các thị trường khó tính như: Mỹ, Nga, Nhật,
Hàn Quốc, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ,…
 Hạn chế :
- Một khó khăn trong việc áp dụng tiêu chuẩn ISO Vinamilk thiếu hụt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status