MỤC LỤC
Lời nói đầu..................................................................................................02
I. Đặc điểm tâm lý của lứa tuổi thanh niên sinh viên (18 – 25).................03
1. Các yếu tố tác động tới tâm lý thanh niên sinh viên............................03
1.1 Sự phát triển về thể chất................................................................03
1.2 Sự thay đổi môi trường sống..........................................................04
1.3 Sự mở rộng các mối quan hệ.........................................................04
1.4 Hoạt động cơ bản của thanh niên sinh viên...................................05
2. Đặc điểm tâm lý của thanh niên sinh viên.............................................06
2.1 Tồn tại nhiều mâu thuẫn cần giải quyết........................................06
2.2 Nhận thức và trí tuệ phát triển.....................................................07
2.3 Động cơ học tập thay đổi.............................................................08
2.4 Tư tưởng thẩm mĩ phát triển........................................................08
2.5 Đời sống tình cảm phong phú......................................................09
2.6 Sự phát triển một số phẩm chất nhân cách..................................10
II. Hướng ứng dụng trong viết báo và tổ chức sản phẩm báo chí...............13
1. Ứng dụng trong tổ chức sản phẩm báo chí...........................................13
1.1 Nội dung......................................................................................13
1.2 Ngôn ngữ.....................................................................................15
1.3 Cách viết.......................................................................................16
1.4 Cách trình bày..............................................................................16
2. Đề xuất tổ chức một sản phẩm báo chí cụ thể........................................17
2.1 Khảo sát.......................................................................................17
1
2.2 Đề xuất chung...............................................................................18
2.3 Đề xuất chuyên mục nội dung......................................................18
2.4 Đề xuất hình thức.........................................................................19
2.5 Đề xuất tổ chức các hoạt động dành cho giới trẻ..........................19
Tài liệu tham khảo.......................................................................................21
I. Đặc điểm của tâm lý lứa tuổi thanh niên sinh viên (Từ 18 tuổi
tới 25 tuổi)
Việc xác định lứa tuổi của thanh niên sinh viên mang ý nghĩa tương đối
bởi tùy từng trường trung cấp, cao đẳng và đại học có năm ra trường khác nhau.
Ở đây, bắt đầu với con số 18 và kết thúc với con số 25 bởi phần lớn sinh viên
bước vào đại học năm 18 tuổi và ra trường muộn nhất là 25 tuổi.
Đây là nhóm tuổi đã có sự trưởng thành nhất định, có quyền công dân,
quan điểm chính trị, tôn giáo. Nhóm xã hội đặc biệt này là những người có tri
thức, được đào tạo bài bản, có nghiệp vụ và được nhìn nhận như chủ thể có
trách nhiệm của hoạt động sản xuất xã hội. Họ là nguồn dự trữ chủ yếu cho đội
ngũ các chuyên gia theo các nghề nghiệp khác nhau trong cấu trúc của tầng lớp
tri thức xã hội vì thế họ có vai trò và vị trí xã hội rõ rệt.
Tuy nhiên, sinh viên vẫn chịu sự giáo dục của gia đình và nhà trường,
còn phụ thuộc về kinh tế nên vẫn chưa được coi là một người trưởng thành thực
sự. Tâm lí của nhóm tuổi 18-25 đặt trong môi trường đại học có những đặc
trưng riêng.
1.
Các yếu tố ảnh hưởng tới tâm lý của thanh niên sinh viên
1.1 Sự phát triển về thể chất
Từ 18 đến 25 tuổi, là lứa tuổi mà cơ thể con người đã dần bước vào giai
đoạn ổn định và hoàn thiện cả về thể chất lẫn về giới.
4
Về thể chất, trọng lượng não đạt mức tối đa, chứa khoảng 14 – 16 tỷ nơron. Các nơ-ron phát triển hoàn thiện nhờ quá trình myelin hóa cao độ đảm bảo
sự dẫn truyền các luồng thần kinh nhanh chóng chính xác. Số lượng xi-nap của
các tế bào thần kinh đảm bảo sự liên hệ rộng khắp, chi tiết và tinh tế. Hoạt động
công trong học tập của họ, bởi vậy có ý nghĩa chi phối rõ rệt hơn.
1.3 Sự mở rộng các mối quan hệ
So với thời học phổ thông, các mối quan hệ của thanh niên sinh viên dần
dần mở rộng hơn ngoài phạm vi trường lớp và gia đình.
Những mối giao lưu này mang tính phức hợp giữa cá nhân người sinh
viên với các bạn bè cùng lứa, cùng giới, khác giới, các tổ chức, các nhóm xã hội
trực tiếp và gián tiếp (các phương tiện thông tin, truyền thông) v.v... Hoạt động
giao lưu này chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển đời sống tâm lý, nhân
cách của sinh viên.
1.4 Các hoạt động cơ bản của thanh niên sinh viên
a. Hoạt động học tập.
- Hoạt động mang phạm vi hẹp hơn, sâu hơn, mang tính chất chuyên
ngành., tập trung vào một nghề nhất định. Bản chất hoạt động học tập của sinh
viên là đi sâu tìm hiểu những môn học những chuyên ngành khoa học cụ thể
một cách chuyên sâu nhằm nắm bắt đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp, quy
luật của các khoa học đó.
Sinh viên một mặt phải kế thừa các thành tựu đã có, mặt khác phải tiếp
thu những tri thức mới trong thời đại thông tin toàn cầu. Vì vậy hoạt động học
6
tập của sinh viên là sự căng thẳng về trí tuệ, phối hợp nhiều thao tác tư duy
phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa.
Ngoài học tập tri thức, lí thuyết, trong thời gian này sinh viên còn trau
dồi cho mình những kĩ năng, nghiệp vụ nhằm phục vụ sự nghiệp sau này. Công
việc học tập cũng chủ động và tự lực nhiều hơn so với thời gian học phổ thông.
- Song song với hoạt động học tập, nhiều sinh viên còn tham gia nghiên
cứu khoa học hoặc phân tích các đặc điểm của xã hội đặt trong bối cảnh thời
gian theo học. Nghiên cứu khoa học giúp sinh viên khẳng định bản thân và rèn
luyện những phẩm chất nghề nghiệp cho tương lai.
- Mâu thuẫn giữa ước mơ, kỳ vọng của sinh viên với khả năng, điều kiện
để thực hiện ước mơ đó.
- Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập, nghiên cứu sâu môn học mà mình
yêu thích với yêu cầu phải thực hiện toàn bộ chương trình học theo thời gian
biểu nhất định.
- Mâu thuẫn giữa lượng thông tin rất nhiều trong xã hội hiện tại với khả
năng và thời gian có hạn v.v...
Để phát triển, sinh viên phải biết giải quyết các mâu thuẫn này một cách
hợp lý. Với mọi sinh viên, điều này không dễ vượt qua. ở đây, một mặt người
8
sinh viên phải tích cực hoạt động, biết sắp xếp, mặt khác việc tổ chức dạy và
học ở các trường ĐH cần hỗ trợ, giúp đỡ sinh viên giải quyết các mâu thuẫn
trên. Xét đến cùng, nhân cách của mỗi sinh viên sẽ được phát triển chính trong
quá trình họ giải quyết được các mâu thuẫn một cách biện chứng.
2.2 Nhận thức và trí tuệ phát triển
Hoạt động nhận thức của sinh viên một mặt phải kế thừa một cách có hệ
thống những thành tựu đã có, mặt khác lại phải tiệm cận với những thành tựu
của khoa học đương đại và có tính cập nhật, thời sự. Chính vì vậy, nét đặc trưng
cho hoạt động học tập của sinh viên là sự căng thẳng nhiều về trí tuệ, sự phối
hợp của nhiều thao tác tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa,
khái quát hóa.
Hoạt động nhận thức của sinh viên vừa gắn kết chặt chẽ với nghiên cứu
khoa học, vừa không tách rời hoạt động nghề nghiệp của người chuyên gia.
Phạm vi hoạt động nhận thức của sinh viên đa dạng: vừa rèn luyện kỹ
năng, kỹ xảo nghề nghiệp, vừa phát huy việc học nghề một cách rõ rệt.
Hoạt động học tập của sinh viên mang tính độc lập, tự chủ và sáng tạo
cao. Hoạt động tư duy của sinh viên trong quá trình học tập chủ yếu là theo
hướng phân tích, diễn giải, chứng minh các định đề khoa học.
10
Theo B.G.Ananhev và một số nhà tâm lý học khác, tuổi sinh viên là thời
kỳ phát triển tích cực nhất của những loại tình cảm cao cấp như tình cảm trí tuệ,
tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ. Những tình cảm này biểu hiện rất phong
phú trong hoạt động và trong đời sống của sinh viên. Đặc điểm của nó là tính có
hệ thống và bền vững so với thời kỳ trước đó. Hầu hết sinh viên biểu lộ sự
chăm chỉ, say mê của mình đối với chuyên ngành và nghề nghiệp đã chọn. Để
thỏa mãn tình cảm trí tuệ, họ học tập không chỉ ở giảng đường và thư viện
trường ĐH mà còn mở rộng và đào sâu kiến thức của mình bằng nhiều cách:
học thêm ở khoa khác, trường khác, tìm đọc ở nhiều thư viện, học trên các
phương tiện truyền thông v.v... Chính tình cảm trí tuệ này làm cho lượng tri
thức mà sinh viên tích lũy được thường rất lớn, vượt xa những sinh viên không
có loại tình cảm này về mọi mặt.
Hơn ai hết sinh viên là người yêu vẻ đẹp thể hiện ở hành vi phong thái
đạo đức, cũng như vẻ đẹp thẩm mỹ ở các sự vật hiện tượng của thiên nhiên
hoặc con người tạo ra. Khác với những lứa tuổi trước, tình cảm đạo đức, tình
cảm thẩm mỹ ở tuổi sinh viên biểu lộ một chiều sâu rõ rệt. Họ yêu thích cái gì
họ đều có thể lý giải, phân tích một cách có cơ sở.
Cá biệt có những sinh viên đã xây dựng được "triết lý" cho cái đẹp của
mình theo chiều hướng khá ổn định. Điều này lý giải tại sao ở độ tuổi này sinh
viên đã có cách cảm, cách nghĩ riêng, có phong cách kiến trúc, hội họa, điêu
khắc riêng v.v...
2.5 Đời sống tình cảm phong phú
Tình bạn cùng giới, khác giới ở tuổi sinh viên tiếp tục phát triển theo
chiều sâu. Ngoài tình bạn bằng tuổi, sinh viên phát triển thêm các mối quan hệ
11
tượng nhận thức chính là bản thân chủ thể, là quá trình chủ thể thu thập, xử lý
thông tin về chính mình, chỉ ra được mức độ nhân cách tồn tại ở bản thân, từ đó
có thái độ hành vi, hoạt động phù hợp nhằm tự điều chỉnh, tự giáo dục để hoàn
thiện và phát triển...
Đặc điểm tự đánh giá ở sinh viên mang tính chất toàn diện và sâu sắc.
Biểu hiện cụ thể của nó là sinh viên không chỉ đánh giá hình ảnh bản thân mình
có tính chất bên ngoài, hình thức mà còn đi sâu vào các phẩm chất, các giá trị
của nhân cách. Tự đánh giá của họ không chỉ trả lời câu hỏi: Tôi là ai? mà còn:
Tôi là người thế nào? Tôi có những phẩm chất gì? Tôi có xứng đáng không?
v.v... Hơn thế họ còn có khả năng đi sâu lý giải câu hỏi: Tại sao tôi là người như
thế?
Những cấp độ đánh giá ở trên mang yếu tố phê phán, phản tỉnh rõ rệt. Vì
vậy, tự đánh giá của sinh viên vừa có ý nghĩa tự ý thức, tự giáo dục. Một số kết
quả nghiên cứu cho thấy, mức độ tự đánh giá ở sinh viên không đồng đều:
- Những sinh viên có kết quả học tập cao thường chủ động, tích cực trong
việc tự nhìn nhận, tự đánh giá, tự kiểm tra hành động, thái độ cư xử, cử chỉ giao
tiếp để hướng tới những thành tựu khoa học, lập kế hoạch học tập, nghiên cứu
khoa học một cách cụ thể nhằm tự hoàn thiện ngày càng cao.
- Còn những sinh viên có kết quả học tập thấp dễ tự đánh giá không phù
hợp.
13
- Có những sinh viên tự đánh giá mình quá cao, thường bị động trong học
tập, nhu cầu giao tiếp thường mạnh hơn nhu cầu nhận thức. Hoạt động của họ
hướng chủ yếu vào các quan hệ.
- Ngược lại có một số sinh viên đánh giá mình quá thấp, thường bi quan
trước kết quả hoạt động hoặc thụ động trong quan hệ giao tiếp với bạn bè. Họ ít
phấn đấu vươn lên trong học tập nên việc tự giáo dục, tự hoàn thiện đạt mức
- Nghề có điều kiện chăm lo gia đình: 64,2%
- Nghề có điều kiện phát triển năng lực: 62,8%
- Nghề được xã hội coi trọng: 62,7%
- Nghề đảm bảo yên tâm suốt đời: 60,0%
- Nghề làm việc bằng trí óc: 6 1,7 %
- Nghề có thể giúp ích cho nhiều người: 57,8%
- Nghề có điều kiện tiếp tục học lên: 56,8%
Những kết quả nghiên cứu trên cho ta thấy sinh viên đã chọn và đánh giá
cao các giá trị rất cơ bản con người. Trong thời kỳ mở cửa của nền kinh tế thị
trường, những định hướng giá trị của thanh niên nói chung và sinh viên nói
riêng cũng đã có những thay đổi, những sự phân hóa nhất định. Ví dụ: có xu
hướng đề cao những giá trị kinh tế, vật chất và có phần coi nhẹ những giá trị về
15
phẩm chất đạo đức, chính trị, xã hội. Đây là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi một
quá trình giáo dục định hướng giá trị có tính chất từ vĩ mô đến vi mô của toàn
xã hội.
II. Hướng ứng dụng trong viết báo và tổ chức sản phẩm báo
chí
1. Ứng dụng trong tổ chức sản phẩm báo chí
1.1. Nội dung
Việc xác định phạm vi nội dung phản ánh của ấn phẩm có ý nghĩa quan
trọng đối với sự tồn tại và phát triển của tờ báo. Mỗi nhóm công chúng mục tiêu
khác nhau có phạm vi nội dung phản ánh không giống nhau do họ có mối quan
tâm, sở thích cùng những đặc điểm tâm sinh lý khác nhau.
Qua những đặc điểm chung cơ bản về mối quan tâm, sở thích của sinh
viên, ta có thể xác định nội dung ấn phẩm bao gồm các vấn đề:
- Xu hướng mới, hiện tượng mới.
phục vụ nhóm công chúng này.
Như đã phân tích ở trên, đối tượng sinh viên có cuộc sống tâm lý chịu tác
động của nhiều yếu tố như sự thay đổi môi trường sống, môi trường học tập,
các mối quan hệ ngày càng được mở rộng, họ lại có nhu cầu hoàn thiện mình về
mọi mặt thể chất, tinh thần lẫn trí tuệ... vì thế đề tài học tập, hoạt động chính trị
xã hội, thể thao, giải trí là các nội dung cần thiết đối với bất kì một tờ báo dành
cho sinh viên nào.
17
Ngoài ra, nhà báo cũng cần tập trung đưa ra cách định hướng, gợi í hoặc
giúp sinh viên có cái nhìn khách quan, kiến thức nền tảng để giải quyết các mâu
thuẫn cơ bản và xác định được đường đi đúng đắn cho mình trong hiện tại và
tương lai:
- Mâu thuẫn giữa ước mơ, kỳ vọng của sinh viên với khả năng, điều kiện để
thực hiện ước mơ đó.
- Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập, nghiên cứu sâu môn học mà mình yêu
thích với yêu cầu phải thực hiện toàn bộ chương trình học theo thời gian biểu nhất
định.
- Mâu thuẫn giữa lượng thông tin rất nhiều trong xã hội hiện tại với khả năng
và thời gian có hạn v.v...
Sinh viên là nhóm đối tượng có đời sống tình cảm ngày càng phong phú,
các mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp, đây cũng là vấn đề mà người làm
báo cần có sự quan tâm đúng mức.
Cần phải lưu ý, việc đáp ứng nhu cầu thị hiếu của công chúng là cần thiết
nhưng sinh viên là lớp người vẫn chưa thực sự vững vàng tuy đã có những sự
trưởng thành nhất định. Báo chí không nên chạy theo lợi nhuận mà quên đi vai
trò định hướng của mình. Các đề tài đều phải khai thác dưới góc nhìn khách
quan và nhân văn, nhằm bảo vệ quyền lợi sinh viên và góp phần xây dựng trong
Người trẻ thường ngại đọc những bài viết dài, dày đặc chữ và các khái niệm
khoa học.
19
Viết cho sinh viên nên:
- Có bố cục rõ ràng, đơn giản.
- Cách viết dễ hiểu, đại chúng.
- Dung lượng ngắn nhưng truyền tải được nhiều nội dung sâu sắc
- Chỉ nên tập trung làm rõ một vấn đề nhất định. Không nên tham quá
nhiều nội dung trong một bài viết
Ví dụ như trên báo Sinh Viên Việt Nam là tờ báo chuyên viết cho sinh
viên các trường trung cấp, cao đẳng và đại học trên toàn quốc, bài viết thường
có dung lượng dưới 1200 chữ. Những bài dài kì, mỗi kì hầu hết đều chỉ dưới
1000 chữ. Các bài viết dài có sự chia đọa với tít xen rõ ràng.
1.4. Cách trình bày
Trình bày đơn giản, màu sắc tươi trẻ hài hòa. Trong mỗi bài viết nên chèn
từ 1 tới 2 hình ảnh để minh họa cho nội dung.
Đối với báo in, trang bìa phải có màu sắc bắt mắt, thiết kế trẻ trung, độc
đáo, với các hình ảnh hoạt động tươi trẻ, sôi nổi của sinh viên. Cần có sự thay
đổi hình thức và màu sắc trang bìa các kì. Những trang nội dung, không bên bó
buộc vào một bố cục trình bày khô cứng mà có thể phá vỡ bố cục tạo vẻ “mở”
cho trang báo. Bìa báo đẹp, hình thức trình bày hấp dẫn sẽ dễ dàng hơn để tiếp
cận nhóm công chúng sinh viên vốn có tâm lí ưa thích sự mới lạ và chuộng hình
thức.
Đối với báo mạng, cần tích hợp đa phương tiện, đầy đủ kênh hình, kênh
chữ, kênh tiếng. Trình bày trên trang cũng có thể chèn các hình ảnh, biểu tượng
ngộ nghĩnh có hình thức đơn giản để tạo hứng thú cho nhóm đối tượng trẻ. Hiện
20
Tên tờ báo: Tôi Sinh Viên
Cơ quan chủ quản: Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
2.3. Đề xuất chuyên mục nội dung
Học đường
Phản ánh các hoạt động học tập, chia sẻ kinh nghiệm học tập, phân tích
tình trạng học tập của sinh viên trong bối cảnh hiện nay.
Nhịp điệu trẻ
Chuyên mục viết về các hoạt động đoàn hội, hoạt động trong và ngoài
trường (ngoài hoạt động học tập), cập nhật các xu hướng mới của sinh viên
thông qua thể loại tin, phản ánh, phóng sự, điều tra, phỏng vấn...
Đặc điểm của chuyên mục này là thông tin nhanh chóng, nóng hổi và liên
tục.
Lập nghiệp
Chuyên mục giúp định hướng nghề nghiệp tương lai , chia sẻ kinh
nghiệm rèn luyện kĩ năng, cách thu thập kiến thức cần thiết để sinh viên có thể
chuẩn bị cho công việc tương lai ngay từ khi còn ở trong trường. Bài viết trong
chuyên mục này phải có câu chuyện, nhân vật, sự kiện cụ thể.
Chân dung
22
Gồm các thể loại phóng sự chân dung, phản ánh, phỏng vấn... nhằm cung
cấp cho độc giả chân dung những sinh viên có thành tích cao trong học tập, thể
dục thể thao hoặc có các hoạt động nổi bật có ích cho xã hội.
Bên cạnh đó, các nhân vật “hiện tượng” đang nổi tiếng trong giới trẻ vì
sự độc đáo, mới lạ của mình cũng cần đề cập để thu hút độc giả.
Tôi trải nghiệm
Chuyên mục bao gồm các bài viết chia sẻ, tâm sự về những trải nghiệm
của sinh viên, để người đọc cũng có thể rút ra các bài học cho mình và trưởng
- Mở các cuộc thi viết: “Tôi trải nghiệm”, “Tôi trẻ”... Để tất cả sinh viên
đều có thể trở thành cộng tác viên viết bài cho tòa soạn. Các bài viết ngày sẽ có
những chất liệu cuộc sống quý già và chân thực mà phóng viên khó có được.
- Mở các cuộc thi ảnh
- Mở các chương trình trải nghiệm: Sinh viên thành thị về nông thôn, tổ
chức hoạt động từ thiện...vv...vv
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tâm lí học phát triển – Vũ Thị Nho
2. Tâm lý học giới tính và giáo dục giới tính – PGS.TS. Bùi Ngọc Oánh
3. Tiểu luận Tâm lí báo chí – Đỗ Ngọc An
25