1
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Báo chí có một vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội.
Nó là vũ khí sắc bén trong lĩnh vực văn hóa - tư tưởng.
Kể từ khi tờ báo Thanh niên do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ra số
đầu tiên (21/6/1925) - đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử báo chí Việt
Nam, khai sinh ra nền báo chí cách mạng, góp phần giải phóng con người
giành độc lập cho dân tộc.
C.Mác và Ph.Ăngghen có một nhận xét rất đúng về báo chí: "Nghĩa vụ
của giới báo chí, là phải bênh vực những người bị áp bức xung quanh mình.
[...] Chỉ đấu tranh nói chung chống nhưng quan hệ tồn tại và chống nhà cầm
quyền cấp cao thôi chưa đủ. Báo chí phải đấu tranh chống lại viên hiến binh
này, viên công tố này, viên tổng đốc này. [...] Nhiệm vụ đầu tiên của báo chí
hiện nay là: Phá hủy toàn bộ những cơ sở của chế độ chính trị hiện tồn"(1).
Từ trước đến nay, Tự do nói chung và Tự do Báo chí nói riêng vẫn luôn
là vấn đề khiến nhiều người quan tâm. Nó luôn là một vấn đề nóng hổi và vô
cùng quan trọng. Chọn đề tài " Tự Báo chí ở Việt Nam, Lý luận và thực tiễn"
làm đề tài như một cách đưa quan điểm của các nhà nghiên cứu Tự do Báo chí
đến với bạn đọc, đồng thời thể hiện quan điểm của bản thân về vấn đề vô
cùng nhạy cảm và nóng bỏng này. Thông qua việc nghiên cứu Tự do Báo chí
ở Việt Nam sẽ gián tiếp giúp chúng ta nhận thức rõ hơn về tính khoa học, tính
cách mạng của báo chí và nguyên nhân thắng lợi của sự nghiệp cách mạng
nước ta. Đồng thời giúp chúng ta rút ra được những bài học kinh nghiệm qúy
báu trong việc Đảng lãnh đạo xây dựng báo chí cách mạng, cũng như trong
công cuộc bảo vệ và phát triển đất nước hiện nay với một nền báo chí lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội làm ánh sáng chỉ đường, lấy mục đích
giải phóng dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân, sự giàu mạnh, phồn vinh
của đất nước làm lý tưởng phấn đấu.
1
và Nhà nước ta.
5. Kết cấu đề tài
3
A. Mở đầu
B. Nội dung
Chương 1: Các quan niệm về Tự do
Chương 2: Các quan niệm về Tự do Báo chí
Chương 3: Lý luận
Chương 4: Thực tiễn
Chương 5: Khảo sát báo về vấn đề Tự do báo chí ở Việt Nam
C. Kết luận
D. Danh mục tài liệu tham khảo
B. NỘI DUNG
4
Chương 1. Các quan niệm về Tự do
Tự do là một vấn đề được rất nhiều cá nhân và tập thể quan tâm kể cả
thời kì trước và thời kì sau. Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng có
rất nhiều quan niệm về tự do. Mỗi cá nhân đưa ra một quan niệm tự do cho
riêng mình như một cách thể hiện quan điểm, cái nhìn khách quan của bản
thân về tự do. Và sau đây chúng ta hãy cùng đi tìm hiểu một số quan niệm về
Tự do.
1.1. Quan niệm về Tự do của Cac Mac:
" Không nên bàn đến có hay không không có Tự do. Tự do bao giờ
cũng có, vấn đề là Tự do cho ai và Tự do để làm gì "
đoạn cụ thể, cho từng giai cấp, lực lượng... cụ thể có thể ít, nhiều, rộng, hẹp...
khác nhau tùy thuộc vào tình hình chính trị cụ thể và tương quan lực lượng
của các giai cấp cụ thể mà thôi. Bởi vậy, tự do báo chí và tự do hoạt động báo
chí là thuật ngữ mang tính lịch sử..
7
2.2. Quan niệm về Tự do Báo chí của giai cấp Tư sản
2.2.1. Theo Clement Asante: Trong cuốn " Tự do báo chí và phát triển
", Clement Asante quan niệm " tự do báo chí là không chịu sự kiểm soát của
chính phủ; có quyền tự trị; và hoạt động như là cơ quan quyền lực thứ tư để
kiểm soát ba nhánh quyền lực khác trong Nhà nước". Tương tự, GS. John
C.Merill (Khoa Báo chí Đại học Missouri, Mỹ) cũng cho rằng, " nền báo chí
tự do phải có quyền tự trị, không chịu bất kỳ sự tác động hay chi phối từ bên
ngoài". Sau này, Merill và GS. TS Everette E. Dennis đã cũng định nghĩa tự
do báo chí là " quyền truyền đạt ý kiến, quan điểm và thông tin bằng chữ in
mà không chịu bất kỳ sự kiềm chế nào từ chính phủ". Thật ra đấy chỉ là
những mong moie cảu giới báo chí.
2.2.2. Theo David H. Weaver (Khoa Báo chí, Đại học Indiana, Mỹ)
định nghĩa tự do báo chí theo 3 cách khác nhau: (1) Tự do báo chí là không có
bất kỳ sự can thiệp nào của chính phủ đối với truyền thông; (2) Tự do báo chí
là không có sự can thiệp nào của chính phủ và các thế lực khác đối với truyền
thông; (3) Báo chí không những không chịu sự can thiệp từ bên ngoài mà còn
có những điều kiện cần thiết để truyền đạt ý kiến và quan điểm tới đông đảo
công chúng.
2.2.3. Theo Ủy ban Hutchins: " Một nền báo chí do được giải phóng
khỏi mọi sự cưỡng bức từ bất cứ lực lượng nào, chính phủ hay xã hội, bên
trong hay bên ngoài. Một nền báo chí tự do được phép bày tỏ quan điểm trên
mọi phương diện. Đó là báo chí tự do cho tất cả mọi người có điều gì đó cần
phải nói cho công chúng. Một nền báo chí tự do được tôn trọng khi các ý kiền
Dưới chiêu bài " tự do báo chí", giai cấp tư sản thế giới đã tăng cường
sức mạnh của mình bằng cách mua chuộc các cây bút, tổ chức đài phát thanh,
truyền hình, các phương tiện hiện đại để xuyên tạc sự thật, vu cáo đối
phương, đàn áp khống chế dư luận, tìm cách lừa phỉnh, mê hoặc nhằm đổi
trắng thay đen một cách tráo trở. Bên cạnh việc sử dụng sức mạnh của đồng
tiền làm các việc trên, chúng còn sử dụng cả " bàn tay sắt " như luật pháp,
kiểm duyệt, lực lượng cảnh sát...để chèn áp, đàn áp và thủ tiêu các tờ báo, các
cây bút có khuynh hướng đối lập khi xét ra không có lợi cho sự thống trị của
chúng.
Trong xã hội còn có đấu tranh giai cấp, báo chí luôn bị chi phối bởi
cuộc đấu tranh giai cấp, mức độ và phạm vi tự do báo chí trong các xã hội đó
còn tùy thuộc ở mức độ tương quan lực lượng giữa các giai cấp, các tầng lớp
có lợi ích chính trị hoặc kinh tế khác nhau.
Trong xã hội có giai cấp thì tư tưởng thống trị xã hội bao giờ cũng là tư
tưởng cảu giai cấp thống trị. Vì vậy, trong xã hội tư sản, tư tưởng tư sản là tư
tưởng thống trị xã hội. Báo chí tư sản là công cụ đắc lực để bảo vệ, truyền bá,
phổ biến tư tưởng tư sản, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Đó cũng là điều
hiển nhiên. Chúng ta không nên ảo tưởng rằng giai cấp tư sản đem lại tự do
báo chí cho cá giai cấp đối địch, nhất là giai cấp vô sản và nhân dân lao động.
Thực chất, thứ tự do mà giai cấp tư sản ra sức tô vẽ, coi như đặc ân ban phát
cho toàn xã hội chỉ là những liều thuốc mê để lôi kéo những người nhẹ dạ,
10
những người nông nổi, thiếu sự tỉnh táo về mặt chính trị. Làm như vậy, giai
cấp tư sản dễ bề thống trị.
Trong khi giai cấp tư sản rêu rao về tự do báo chí, thậm chí là tự do
tuyệt đối, tự do rộng rãi đối với xã hội thì luật lệ tư sản về báo chí không kém
sự hà khắc, chế độ kiểm duyệt ngày càng ngặt nghèo và điều quan trọng nhất
và cũng là cơ bản nhất là các tòa soạn, các nhà in, các xưởng giấy đều nằm
phổ biến những kinh nghiệm hay, cung cấp những tri thức lành mạnh, trao đổi
những ý kiến trung thực và xây dựng. Nền báo chí đó mất đi tính chất lừa đảo,
bịp bợm, dối trá,...như đang xảy ra trong xã hội tư bản.
Giai cấp vô sản cần phấn đấu xây dựng một nền tự do báo chí với ý
nghĩa của chính từ này. Đó là tự do hoạt động báo chí vì lợi ích của đại đa số
nhân dân lao động. Nền tự do báo chí đó đem lại cho các nhà báo quyền hành
nghề, quyền cống hiến phục vụ độc giả, quyền sáng tạo theo đúng lương tâm
và trách nhiệm của người làm báo chân chính, vì sự tiến bộ của toàn xã hội và
hạnh phúc của nhân dân. Đương nhiên quyền tự do báo chí của người làm báo
chân chinhskhoong phải là sự tùy tiện muốn viết gì thì viết hoặc viết như thế
nào thì viết, mà là trách nhiệm trước xã hội của họ, sự giác ngộ chính trị của
họ, quan điểm giai cấp của họ sẽ chi phối hành vi và hoạt động báo chí của
họ. Họ viết gì, viết như thế nào, viết cho ai đọc, đều làm với ý đồ trong sáng,
động cơ xây dựng, quan điểm phục vụ đầy đủ, đúng với lương tâm và trách
nhiệm của người làm báo của nhân dân lao động. Người làm báo chân chính
là người biết hướng ngỏi bút vào mục đích cao cả của xã hội, sử dụng quyền
tự do báo chí một cách hiệu quả nhất và biết tự bảo vệ danh dự của mình
trước độc giả. Khác với những người làm báo chạy theo danh lợi và đồng tiền,
kẻ nô lệ của túi tiền bọn tư bản, người làm báo chân chính dám hy sinh mình
cho việc bảo vệ chân lý và sự tiền bộ chung.
Nền tự do báo chí mà giai cấp vô sản cần xây dựng, đo là quyền tự do
tiếp nhận và truyền bá, phản ánh các nguồn thông tin theo hướng tiến bộ và
xây dựng cho mọi thành viên trong xã hội. Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ
nghĩa xã hội, khi các giai cấp đang tồn tại thì việc phấn đấu cho một nền tự do
báo chí theo quá trình của giai cấp vô sản tuyệt nhiên không dễ dàng.
13
Ở các nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, một mặt phải khắc phục
tàn dư, các lề thói cũ cảu xã hội tư sản, mặt khác phải xây dựng được các
như vây, thực hiện tự do báo chí một cách công khai minh bạch, phục vụ lợi
ích toàn dân chứ không phải phục vụ lợi ích của giai cấp cầm quyền.
3.2: Tự do báo chí ở Việt Nam
3.2.1. Tự do báo chí thời kỳ trước cách mạng Tháng tám:
Nước ta chia làm 3 kỳ với các chế độ chính trị khác nhau, nhưng có thể
khái quát phân ra các giai đoạn sau:
- Giai đoạn đầu: từ khởi thủy (4/1865 với tờ Gia Định Báo) đến năm
1927, báo chí Việt nam hoạt động theo quy chế của luật báo chí 1881 và 1888
của Pháp. Điều kiện ra báo rất đơn giản: người có quốc tịch Pháp (và càng dễ
nếu làm chung với người Pháp - chỉ sau 24 giờ là có phép). Sau này, khi tờ
Phan Yên Báo (ra đời năm 1868) đăng bài có tính chất chống đối nhà cầm
quyền thực dân nên bị thu hồi giấy phép, và chính quyền còn ban hành Sắc
lệnh ngày 30/12/1898 quy định mọi tờ báo (trừ báo tiếng Pháp) đều phải có
giấy phép do người Pháp đứng tên.
- Giai đoạn 2: mở đầu bằng bộ Luật báo chí năm 1927. Phong trào yêu
nước và dân chủ lên cao vào những năm 1925 - 1926; báo chí phát triển mạnh
ở Bắc kỳ. Bộ luật này với nhiều điều khoản quy định khá chi tiết: Bắc và
Trung kỳ muốn ra báo phải có Quyết định của Phủ Toàn quyền, riêng Trung
kỳ còn phải được sự đồng ý của Triều đình. Trong bộ luật này lần đầu tiên
quy định rất khắt khe và chi tiết việc kiểm duyệt nội dung báo chí xuất bản,
đặc biệt là đối với những tư tưởng tiến bộ và cách mạng. Chế độ thưởng phạt
đối với báo chí cũng rất ngặt nghèo: phạt tiền, bồi thường, ngồi tù... (Tờ "Le
Nhà Quê" của Nguyễn Khánh Toàn ra tại Sài gòn chỉ xuất bản được 1 số ngày
11/12/1926 thì bị đình bản và thu giấy phép. Chủ nhiệm Nguyễn Khánh Toàn,
Giám đốc Nguyễn Văn Chất, Quản lý Phạm Văn Duyệt bị bắt)...
Do thắng lợi của mặt trận Bình dân Pháp, ngày 1/1/1935 Toàn quyền
Pháp ký Sắc lệnh hủy bỏ chế độ kiểm duyệt báo chí, công nhận tính hợp pháp
của người Việt nam khi xin phép ra báo. Nhưng vin cớ điều kiện chiến tranh,
ngày 26/9/1939 Chính phủ Pháp ban bố sắc lệnh đặt Đảng cộng sản và những
chí đối lập. Sau khi lật đổ Ngô Đình Diệm, tình hình chính trường rối ren,
16
ngày 7/6/1964 Nguyễn Khánh ký Sắc lệnh 18/64 quy định các biện pháp đối
với báo chí trong tình trạng khẩn cấp: thi hành biện pháp kiểm duyệt cấm tàng
trữ và lưu hành các ấn phẩm... có hại cho nền an ninh công cộng. Biến cố
Mậu Thân (1968) - chính quyền ban bố tình trạng khẩn cấp và thiết lập lại chế
độ kiểm duyệt. Ngày 30/12/1969 ban hành Quy chế báo chí mới, nhưng đến
ngày 4/8/1972 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lại ban hành Sắc lệnh số 007
sửa đổi một số điều của Quy chế báo chí như: nâng mức ký quỹ của một số tờ
báo lên 20 triệu đồng; đóng cửa những tờ báo vi phạm an ninh quốc gia đến
lần thứ 2; các vụ vi phạm của báo chí sẽ do Tòa án mặt trận xét xử...
- Tháng 4/1975 chế độ Việt nam cộng hòa sụp đổ. Năm 1976 thống
nhất đất nước. Báo chí cả nước hoạt động theo Luật số 100/SL-L-02.
- Ngày 28/12/1989 Quốc hội thông qua Luật Báo Chí và ngày 2/1/1990
Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh công bố Luật Báo Chí nước CH XHCN
Việt nam, thay thế Luật Báo Chí năm 1957 vừa trên cơ sở kế thừa những
nguyên tắc đúng đắn của Luật Báo Chí năm 1957, vừa bổ sung và hoàn thiện
một bước luật pháp của nhà nước ta về báo chí.
- Ngày 12/6/1999 Quốc hội thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều
của Luật Báo Chí năm 1989 nhằm hoàn thiện một bước Luật Báo Chí cho phù
hợp với những yêu cầu của thực tiễn công cuộc đổi mới.
Cùng với việc từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp, các văn bản
dưới luật cũng được ban hành để hướng dẫn tổ chức thực hiện nhằm đưa Luật
Báo Chí vào cuộc sống. Như vậy, những điều kiện cho tự do báo chí từng
bước được xác lập và ngày càng hoàn thiện.
3.3.3. Tự do báo chí trong điều kiện đổi mới của nước ta
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xác lập quyền
tự do dân chủ đối với mọi công dân trong đó có quyền tự do báo chí, tự do
độ, tự do vô chính phủ mà là nền tự do trong khuôn khổ cảu pháp luật, của
Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Luật pháp sẽ bảo vệ quyền tự do hoạt động báo
chí vì mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, đáp ứng yêu cầu của công cuộc
đổi mới và khuyến khích phục vụ các yêu cầu của nhân dân lao động. Song
song với việc khuyến khích đó, Luật pháp ngăn cấm các hoạt động báo chí
18
làm phương hại đến quyền lãnh đạo xã hội của Đảng, nhà nước và lợi ích của
nhân dân. Chúng ta hạn chế quyền tự do báo chí đối với các phần tử và
khuynh hướng báo chí phản động, nhất là những kẻ lợi dụng đổi mới, lợi
dụng mở rộng tự do báo chí để viết bài đả kích, xuyên tạc gây hoang mang
trong dư luận. Có một số người cho rằng như vậy là không có tự do báo chí.
Đúng, chúng ta không có tự do báo chí đối với những kẻ phá hoại công cuộc
xây dựng xã hội chủ nghĩa, gây mất ổn định chính trị trong nước, nhưng bảo
đảm quyền tự do viết báo, đăng báo, mua báo, đọc báo cho mọi người dân
đang phấn đấu xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Nền tự do báo chí mà
chúng ta bảo vệ và thực hiện là nền tự do phù hợp với sự vận động tất yếu của
lịch sử.
Sự khác nhau cơ bản giữa nền báo chí xã hội chủ nghĩa với bào chí tư
sản không phải về mặt hình thức tờ báo, cách đăng tin bài, các hoạt động
mang tính nghiệp vụ mà chính là ở mục đích và phương hướng hoạt động. báo
chí của chúng ta hoạt động vì mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích
của đa số nhân dân. Báo chí tư sản có mục đích hoàn toàn không giống với ta
mà vì lợi ích riêng của họ. Hoạt động báo chí của ta phù hợp với quy luật vẫn
động cảu lịch sử, là nhằm xây dựng một xã hội mới, tự do dân chủ, mọi người
đều có quyền sống hạnh phúc và công bằng. Còn hoạt động báo chí tư sản
nhằm duy trì, kéo dài chế độ bóc lột để đem lại lợi nhuận cho giai cấp tư sản.
Nền tự do báo chí chúng ta đang xây dựng và thực hiện là sự tự do sử
dụng báo chí như một công cụ cảu toàn xã hội để thông tin, trao đổi, cổ vũ
thể ngăn cấm bằng biện pháp mệnh lệnh chính đối vowissuwj tràn ngập thông
tin, kể cả các kênh thông tin công khai hoặc lén lút. Điều quan trọng là dòng
báo chí chính thống của chúng ta ngoài sự phê phán, phan tích ra còn phải có
sự hướng dẫn xư lí các nguồn thông tin không chính xác đó. Muốn vậy báo
chistrong giai đoạn đổi mới phải vươn lên mạnh mẽ để dùng các nguồn thông
tin xây dựng lành mạnh đủ sức chiếm lĩnh và hướng dẫn dư luận xã hội, hạn
chế các nọc độc thông tin từ bên ngoài.
20
Cách làm báo theo kiểu hành chính, cửa quyền như thời bao cấp trước
đây không thể đáp ứng nhu cầu cảu xã hội về sự tự do báo chí trong điều kiện
đổi mới. Xã hội đang cần nhiều thông tin, thông tin đa dạng, nhanh nhạy và
chính xác. Trong bối cảnh bùng nổ thông tin với các phương tiện rất hiện đại,
chúng ta không chỉ tăng cường điều kiện vật chất, đổi mới cung cách hoạt
động mà còn có một đội ngũ mạnh cả về quan điểm tư tưởng và nghiệp vụ
báo chí.
Tự do báo chí là bộ phận quan trọng của quyền con người, là sự phát
triển tự nhiên cần thiết của cuộc sống.
Tự do báo chí phát triển gắn với các điều kiện xã hội tât yếu khác nhau.
Quan niệm về tự do báo chí tuyệt đối, tự do báo chí thuần túy trong xã hội còn
có đấu tranh giai cấp là điều ảo tưởng và phi lí. Mức độ tự do báo chí phải tùy
thuộc vào các điều kiện lịch sử cụ thể, vì vậy tự do báo chí có thể cho một số
người thì hạn chế tự do báo chí với một số người khác. Chỉ có chế độ xã hội
chủ nghĩa mới tạo nền tự do báo chí cho đại bộ phận nhân dân lao động và
hạn chế tự do đối với thiểu số người chống đối nhân dân.
3.3. Luật báo chí
CHƯƠNG II
QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ, QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN BÁO
CHÍ CỦA CÔNG DÂN
Đầu tiên em xin đưa hai bài báo của nhà báo Phan Quang
4.1. Bài báo" Tự do Báo chí - Thực chất và huyền thoại"
Tự do là khát vọng của con người ở mọi thời đại. Kể từ ngày con người
trở thành sinh vật có trí khôn, sống gắn bó trong cộng đồng, thì con người
luôn luôn khát khao tự do, không ngừng vươn tới Tự do. Vì tự do của cộng
đồng, của dân tộc, của cá nhân, con người ở trên mọi lục đại trong quá khứ,
hiện tại cũng như tương lại, sẵn sàng xả thân để giữ gìn và bảo vệ nó.
Tuy nhiên, quan niệm về tự do không phải thời nào cũng giống thời
nào. Con người thuộc những xã hội trình độ phát triển khác nhau, được nuôi
dưỡng bởi những nền văn minh dị biệt, đương nhiên phải có nhận thức và
mục tiêu không đồng nhất về tự do. Mục tiêu tự do của con người thời công
nghiệp hóa xa lạ với khát vọng tự do của con người thời sống bằng hái lượm.
Đòi hỏi tự do của dân châu Âu trong đêm dài trung cổ khác đòi hỏi tự do của
dân châu Âu ngày nay. Thê thiếp chủ nô hay cung tần phong kiến ước vọng tự
do luyến ái đâu có giống tự do luyến ái xã hội hiện đại, khi mà luật pháp một
số nước đồng tình sự xây dựng gia đình riêng giữa nam với nam hoắc giữa nữ
với nữ, chẳng han.
Tự do là một phạm trù mang tính lịch sử, không tách rời trình độ phát
triển. Báo chí ra đời thời manh nha công nghiệp hóa - đến nay mới qua một
chặng đường hết sức ngắn ngủi so với tồn tại ít nhất bảy mươi vạn năm của
loài người - càng gắn bó hơn với tính giai đoạn. Quan niệm về tự do báo chí
do đó làm sao thời nào giống hệt thời nào. Tự do là thành quả đấu tranh
không phải phước lành Thượng đế ban, chia đều cho mọi người, đâu cũng
như đâu.
Chỉ là ngụy biện, lời khẳng định rằng trên đời chỉ có mỗi một khuôn
mẫu chung và duy nhất về tự do báo chí, cho dù con người đang sống ở hai
quốc gia mà thu nhập bình quân chênh nhau đến cả trăm lần (300 so với
23
24
không khoan nhượng, cũng thiện chí hướng tới mục tiêu đoàn kết, xây dựng,
tóm lại phá để xây.
Thời đất nước ta chưa giành lại độc lập, tự do, thân phận người dân
chẳng mấy hơn thân phận no lệ, nhân dân ta trong đó có những người cầm
bút, đã đổ máu để đòi hỏi và thực hiện tự do báo chí. Mục tiêu cuả tự do báo
chí thời trước là vạch trần tội ác và giả nhân giả nghĩa của kẻ thống trị, động
viên cho nhân dân ta " lấy sức ta để giải phóng cho ta ". Trong kháng chiến,
mục tiêu tự do báo chí là huy động sức mạnh đại đoàn kết, đánh lui kẻ thù
xâm lược, cứu nước cứu nhà. Vì mục tiêu cao cả ấy, có khi chúng ta phải tự
kiềm chế. Có những vấn đề báo chí kháng chiến tạm thời chưa đề cập. Nếu
cần gọi, như có ai đó thích nhấn mạnh, sự tự kiềm chế ấy là hạn chế tự do,
chung quy cũng chỉ vì mục đích tối thượng là đánh thắng kẻ thù xâm lược.
Ngày nay, đất nước đổi mới, xã jooij cởi mở hơn, tầm nhìn xa rộng hơn, song
thời cơ chen cài thách thức, mục tiêu của báo chí Việt Nam là đẩy lui nghèo
thiếu, xây dựng quốc gia phát triển, gắn kết độc lập dân tộc với hợp tác quốc
tế, chấn hưng văn hóa, thực thi dân chủ, công bằng xã hội. Mục tiêu cao cả
của tự do báo chí và lợi ích tối thượng của đất nước hòa quyện với nhau, đồng
nhất với nhau. Nền tự do báo chí mà bao thế hệ người Việt Nam hằng mơ
ước, ngày nay chúng ta đang biến thành hiện thực, là nền tự do báo chí lấy lợi
ích tối cao của dân tộc làm tiêu chí chính trị và nghề nghiệp. Trong nền tự do
ấy, người cầm bút tung hoành theo tài năng, trí tuệ và lương tâm cá nhân,
song hoài bão, trí tuệ và lương tâm mỗi người thể hiện dưới dạng nào vẫn
không ra ngoài ước vọng và lương tri toàn dân tộc, vẫn vì lợi ích tối thượng
của nhân dân.
Người Mỹ rất coi trọng lợi ích đất nước họ. Tình cảm ấy biến thành ý
chí, làm nên động lực mạnh mẽ giúp nhân dân Hoa Kỳ đạt thành tựu vĩ đại
trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, khoa học,giáo dục, công nghệ, văn hóa...được thế
giới khâm phục. Tình cảm và ý chí ấy, mặt khác, không tránh khỏi bị những
thế lực nào đó chi phối, lạm dụng vào những mục đích không trong sáng.
các quan hệ bình đẳng giữa hoa Kỳ và Việt Nam. Không có đạo lý nào cho
phép cơ quan lập pháp quốc gia này áp đặt những điều luật gây tổn hại cho