Vấn đề quản trị công ty hợp danh theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện hành - Pdf 50

Mục Lục

1


Đề số 7: Vấn đề quản trị công ty hợp danh theo pháp luật doanh nghiệp
Việt Nam hiện hành?
Đặt vấn đề
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để
doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh;
phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước” - Khoản 3,
Điều 51. Lần đầu tiên trong lịch sử, các vấn đề về quyền đầu tư, sản xuất, kinh
doanh của Doanh nghiệp, được hiến định. Điều đó cho thấy sự quan tâm chú trọng
của Nhà nước về Doanh nghiệp. Thực tế cho thấy sự quan tâm này là vô cùng đúng
đắn bởi Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ
yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP). Những năm gần đây, hoạt động của
doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức
sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần
quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu
ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm,
xoá đói, giảm nghèo... Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển
dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân như: Cơ cấu nhiều thành phần kinh tế,
cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương. Doanh nghiệp phát
triển, đặc biệt là doanh nghiệp ngành công nghiệp tăng nhanh là nhân tố đảm bảo
cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng
cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế trong quá trình hội nhập. Với những đặc điểm quan trọng đó, nhu
cầu cần có một cơ sở pháp lý vững chắc, chặt chẽ về doanh nghiệp và hoạt động
của doanh nghiệp đã được đặt ra. Và luật Doanh nghiệp 2014 được ra đời để giải
quyết vấn đề đó trên cơ sở của việc ra đời Hiến pháp 2013. Trong luật Doanh
Nghiệp 2014 quy định có tất cả 5 loại hình doanh nghiệp, bao gồm: Công ty

a) Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau
kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các
thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn;
b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản
của mình về các nghĩa vụ của công ty;
c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong
phạm vi số vốn đã góp vào công ty.”
2. Đặc điểm
Công ty hợp danh có một số đặc điểm pháp lý cơ bản sau:
-

Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh
doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các
thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn;

-

Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về các nghĩa vụ của công ty;

-

Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong
phạm vi số vốn đã góp vào công ty.”

-

Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp.




- Thành viên.
- Cơ chế điều hành trong doanh nghiệp và điều hành hoạt động kinh doanh.
1. Chủ thể quản trị
Như đã nói ở phần mở bài, bản chất của công ty hợp danh là sự góp vốn và
liên kết giữa nhiều người. Khác với công ty TNHH 2 thành viên trở lên hoặc công
ty cổ phần, các thành viên hợp danh (thành viên có quyền quản lý công ty) trong
công ty hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình dẫn đến sự
liên kết ở trên phải là sự liên kết giữa những người thân thuộc với nhau, sự liên kết
đó được tạo dựng bằng sự tin tưởng lẫn nhau. Mặt khác hình thức công ty này có
tính tương đối an toàn với công chúng (pháp luật không cho phép công ty hợp danh
phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào - khoản 3 điều 172 luật Doanh nghiệp
2014), bởi vậy, các quy định của pháp luật về việc điều hành công ty hợp danh khá
mềm mỏng, sự điều hành công ty chủ yếu do các thành viên được quyền quản lý tự
thỏa thuận với nhau, bao gồm cả định hướng kinh doanh, cơ cấu tổ chức... chứ
không ràng buộc pháp luật chặt chẽ như một số loại hình doanh nghiệp khác, điển
hình là doanh nghiệp Nhà nước. Tuy vậy, để điều hành một công ty, nhất thiết phải
có người đứng đầu chỉ đạo, nếu không sẽ không thể thống nhất được tất cả các
thành phần trong công ty đó được. Thực vậy, pháp luật quy định trong công ty hợp
danh, hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất của công ty bao gồm tất
cả các thành viên. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh là chủ tịch
đồng thời kiêm Giám đốc hoặc là Tổng giám đốc. (nếu điều lệ công ty không có
quy định khác).
Theo căn cứ tại khoản 3 điều 177 luật Doanh nghiệp, Hội đồng thành viên có
quyền quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty. Việc quyết định được
tiến hành bằng hình thức biểu quyết của các thành viên. Tuy nhiên, hàng ngày nếu
6



chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam,

7


trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp
của Nhà nước tại doanh nghiệp;
-

Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những
người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà
nước tại doanh nghiệp khác;

-

Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất
năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;

-

Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết
định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc
hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công
việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án.

-

Thể nhân không phải là cá nhân.
Tổ chức, cá nhân không có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp


phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn
được quy định tại điều 182 luật Doanh nghiệp 2014.
Xét về phạm vi chịu trách nhiệm tài sản, thành viên góp vốn chỉ chịu trách
nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty nhưng
thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về các nghĩa vụ của công ty. Về quyền và nghĩa vụ, thành viên góp vốn không
được tham gia vào hoạt động tham gia quản lý công ty, không được tiến hành hoạt
động kinh doanh nhân danh công ty như thành viên hợp danh, ngoài ra, khác với
thành viên hợp danh, thành viên góp vốn lại có thể chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc
là thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác.
3. Cơ chế điều hành trong công ty và điều hành hoạt động kinh doanh.
Về cơ chế điều hành trong công ty hợp danh, căn cứ Điều 179 luật doanh
nghiệp 2014, hàng ngày, công ty hợp danh được hoạt động dưới sự quản lý và kiểm
soát của các thành viên hợp danh theo sự sắp xếp của Chủ tịch Hội đồng thành
viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Người này có các nhiệm vụ sau đây:
9


-

Quản lý và điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty với tư cách
là thành viên hợp danh;

-

Phân công, phối hợp công việc kinh doanh, giữa các thành viên hợp danh;

-

Tổ chức sắp xếp, lưu giữ đầy đủ và trung thực sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ và

Trong quá trình nghiên cứu về “Quản trị trong công ty hợp danh”, tôi đã nhận
thấy được một số quy định chưa hoàn thiện của pháp luật ở những vấn đề sau đây:
-

Đối với thành viên hợp danh, pháp luật nên quy định về trình độ chuyên môn,
uy tín của họ trong lĩnh vực mà họ đăng ký kinh doanh. Bởi như đã nói, công ty
hợp danh là công ty đối nhân, vấn đề con người mới là vấn đề quan trọng, số
lượng vốn góp chỉ là thứ yếu. Trên thực tế các cá nhân khi thành lập công ty
hợp danh thường đăng ký kinh doanh trong các lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn
nghề nghiệp như luật sư, y tế... Do đó quy định như vậy để đảm bảo các chủ thể
bên ngoài khi giao dịch với công ty hợp danh có thể an tâm hơn và sẽ tránh
được rủi ro.

-

Về vấn đề Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc của công ty. Luật quy định rằng các
thành viên hợp danh phải bầu ra 01 thành viên hợp danh làm Chủ tịch hội đồng
thành viên, kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Theo tôi luật nên có sự điều
chỉnh theo hướng cho phép Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty có thể được
thuê ở bên ngoài. Bởi việc điều hành công ty là không hề dễ dàng trong khi
việc quản lý một doanh nghiệp đòi hỏi quá trình học tập và nghiên cứu. Thật
khó để một thành viên hợp danh trong công ty hợp danh về lĩnh vực y tế có thể
đảm bảo được yếu tố chuyên môn về quản lý doanh nghiệp và chuyên môn về
y tế.

-

Về vấn đề huy động vốn, do việc chịu trách nhiệm về tài sản trong ty hợp danh
là vô hạn (đối với thành viên hợp danh) cho nên pháp luật đã không cho phép
loại hình doanh nghiệp này phát hành bất cứ một loại chứng khoán nào vì lo sợ

công ty hợp danh, vấn đề kinh doanh hằng ngày được thực hiện bởi các thành viên
hợp danh dưới sự sắp xếp chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc hoặc Tổng
12


Giám đốc, tuy nhiên khi có vấn đề phát sinh thì việc giái quyết vấn đề sẽ được tất
cả tập thể thành viên biểu quyết để quyết định. Các quy định của pháp luật về loại
hình doanh nghiệp này khá mềm mỏng nhưng vẫn đảm bảo tính hiệu quả trong
công tác quản lý, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề theo tôi nên sửa lại để có lợi hơn
cho công ty hợp danh, từ đó tăng tính cạnh tranh của loại hình doanh nghiệp này
trên thị trường.

13


Danh mục tham khảo:
1. Luật Doanh nghiệp 2014.
2. Luật phòng chống tham nhũng 2005, sửa đổi bổ sung năm 2012.
3. Giáo trình luật Doanh nghiệp – Tập 1 – ĐH luật HN 2013.
4. Giáo trình quản trị doanh nghiệp – ĐH Kinh tế Quốc dân 2004.

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status