Khóa luận vai trò của truyền thông đại chúng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở việt nam hiện nay - Pdf 50

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG VÀ VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG
ĐẠI CHÚNG TRONG CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM
NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY..............................................................8
1.1. Nhận thức chung về truyền thông đại chúng và vai trò của truyền thông
đại chúng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng...............................8
1.2. Đặc điểm của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng và yêu cầu đặt ra
đối với truyền thông đại chúng ở Việt Nam....................................................25
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY
VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TRONG CUỘC
ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY....................................................................................................41
2.1. Thực trạng vai trò của truyền thông đại chúng trong cuộc đấu tranh
phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam............................................................41
2.2. Một số giải pháp tăng cường hiệu quả của truyền thông đại chúng trong
công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam thời gian tới.........................56
KẾT LUẬN....................................................................................................64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................66


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Hệ thống chính trị

: HTCT

Nhà xuất bản

: NXB

chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn
với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng; đồng thời cảnh báo
“Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn
lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của
Đảng” [11,tr.172,185]. Đại hội chỉ rõ: “Công tác phòng, chống tham nhũng
chưa đạt được yêu cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm
trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi,
gây bức xúc xã hội”. Chính vì vậy, phòng, chống tham nhũng là công việc
khó khăn, phức tạp, cần sự quyết liệt và kiên trì, là vấn đề ưu tiên hàng đầu
cần phải giải quyết và là nhiệm vụ trọng tâm của toàn xã hội.

1


Tham gia vào cuộc chiến tham nhũng, bên cạnh các cơ quan chức năng
và quần chúng nhân dân còn có sự tham gia tích cực và mạnh mẽ của các cơ
quan truyền thông đại chúng (TTĐC). Với thông tin nhanh chóng, chính xác,
trung thực, khách quan và đa chiều, TTĐC đã trở thành một kênh thông tin
quan trọng của nhân dân. Đánh giá tầm quan trọng của TTĐC đối với sự
nghiệp cách mạng, Đại hội XI Đảng cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Chú
trọng nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo
dục, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng vì
lợi ích của nhân dân và đất nước…”[11,tr 225].
Thực tế cho thấy, nhiều vụ tham nhũng lớn trong nước được phát hiện,
phanh phui đưa ra ánh sáng nhờ TTĐC và đã tạo được sự hưởng ứng tích
cực từ nhân dân. TTĐC không chỉ đưa tin về tham nhũng, nó còn tuyên
truyền, phê phán, cổ động quần chúng nhân dân tích cực trong cuộc phòng,
chống tham nhũng nhằm làm trong sạch bộ máy nhà nước.
Để tìm hiểu rõ ràng về vai trò của TTĐC trong cuộc đấu tranh phòng,
chống tham nhũng giúp cho Đảng, Nhà nước có những chính sách phù hợp

hệ với dư luận xã hội.
+ Vũ Đình Hòe (chủ biên) (2000), Truyền thông đại chúng trong công
tác lãnh đạo, quản lý, Nxb CTQG, Hà Nội. Cuốn sách giới thiệu những vấn
đề lý luận cơ bản về truyền thông và truyền thông đại chúng, các phương
tiện truyền thông đại chúng, những vấn đề về truyền thông đại chúng hiện
đại. Điểm đáng lưu ý nhất là các tác giả đã phân tích vấn đề lãnh đạo, quản
lý và ứng xử với các phương tiện truyền thông đại chúng: mục đích và
nguyên tắc, mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà
nước đối với các phương tiện truyền thông đại chúng, luật pháp với các
phương tiện truyền thông đại chúng, hoạch ;và thông tin từ các phương tiện
truyền thông đại chúng.
+ Dương Xuân Sơn (1996), Báo chí nước ngoài, Nxb Văn hóa Thông
tin, Hà Nội. Cuốn sách giới thiệu khái quát về nền báo chí- lịch sử hình thành
và phát triển, tình hình kinh tế - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng;

3


cơ cấu và các điều kiện phát triển báo chí các nước: Anh, Đức, Pháp, Tây Ban
Nha, Mỹ, Hà Lan, Thụy Điển…
+ Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, Nxb CTQG, Hà Nội.
Công trình này trình bày khá toàn diện về các mặt, các lĩnh vực, các vấn đề
của truyền thông đại chúng, như: truyền thông và truyền thông đại chúng;
sách và xuất bản sách; báo in; phát thanh, truyền hình, quảng cáo; các loại
hình truyền thông đại chúng khác (điện ảnh, hãng tin tức và internet); những
vấn đề truyền thông đại chúng trong thế giới hiện đại; lãnh đạo quản lý và
giao tiếp với các phương tiện truyền thông đại chúng.
Thứ hai, nhóm công trình về phòng, chống tham nhũng, tiêu biểu là:
+ Phan Xuân Sơn, Phạm Thế Lực (2010), Nhận diện tham nhũng và
các giải pháp phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Nxb CTQG, Hà

đây; phân tích những nguyên nhân khách quan và chủ quan cùng những bài
học kinh nghiệm đã tạo nên những thành tựu của báo chí và các nhà báo nước
ta trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng; đưa ra các giải pháp nhằm tiếp tục
nâng cao và phát huy tác dụng, hiệu quả của báo chí nước ta trong cuộc đấu
tranh chống tham nhũng.
+Trần Quang Nhiếp (chủ biên) (2005), Nâng cao hiệu quả của báo chí
trong cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng ở nước ta hiện nay, Nxb
CTQG, Hà Nội. Công trình đã cung cấp cho chúng ta những nghiên cứu về
báo chí với chống quan liêu, tham nhũng; thực trạng của việc nâng cao hiệu
quả của báo chí trong đấu tranh cống quan liêu, tham nhũng ở nước ta hiện
nay và những biện pháp chính nhằm nâng cao hiệu quả của báo chí trong cuộc
đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng ở nước ta hiện nay.
Những công trình nghiên cứu trên đã có cách tiếp cận về tham nhũng,
vai trò của TTĐC ở nhiều mức độ, phạm vi khác nhau, trong chừng mực nhất
định đã góp phần sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về vai
trò của TTĐC đối với phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, xét ở góc độ
Chính trị học, cho đến nay vẫn chưa có công trình chuyên sâu nào nghiên cứu
về vai trò của TTĐC trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ơ Việt
Nam một cách có hệ thống. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết

5


quả nghiên cứu trước đó, đề tài sẽ nghiên cứu sâu hơn về những vấn đề lý
luận và thực tiễn về vai trò trò của TTĐC trong cuộc đấu tranh phòng, chống
tham nhũng ở Việt Nam, từ đó đề ra những giải pháp góp phần nâng cao chất
lượng hoạt động này.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn vai trò của TTĐC

Trong quá trình thực hiện khóa luận, tác giả sử dụng các phương pháp:
hệ thống- cấu trúc; lôgic - lịch sử; phân tích - tổng hợp; so sánh; thống kê; thu
thập và tìm kiếm thông tin tổng hợp từ các báo cáo; các tài liệu tham nhũng;
các cơ quan báo chí và các thông tin mới nhất về phòng, chống tham nhũng
trên mạng Internet; phương pháp nghiên cứu tài liệu…
6. Những đóng góp về khoa học của đề tài
- Đề tài hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn của TTĐC
trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng và vai trò của TTĐC đối với
vấn đề này ở Việt Nam hiện nay.
- Đánh giá những mặt tích cực và hạn chế của hoạt động này, đồng thời
đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò của TTĐC trong cuộc đấu
tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam trong thời kỳ xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận khóa luận có kết cấu gồm 2 chương, 4 tiết
Chương I: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về truyền thông đại
chúng và vai trò của truyền thông đại chúng trong cuộc đấu tranh phòng,
chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.
Chương II: Thực trạng và giải pháp nhằm phát huy vai trò của truyền
thông đại chúng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
hiện nay.
CHƯƠNG 1

7


MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG
ĐẠI CHÚNG VÀ VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
TRONG CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY



những người làm công tác truyền thông) và đại chúng (các tầng lớp công
chúng rộng rãi) [26,tr.12,13].
Tóm lại, có thể hiểu, TTĐC là hoạt động truyền đạt các thông tin có
tính phổ biến trong xã hội một cách rộng rãi và công khai thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng
Như vậy, TTĐC có 2 nội dung cơ bản: 1- Hoạt động truyền tải thông
tin cho công chúng: TTĐC giúp truyền tải những thông tin chính trị - xã hội
một cách rộng rãi, trên quy mô lớn. Những thông tin này được truyền đi một
cách nhanh chóng, chính xác, công khai, đều đặn tới đông đảo quần chúng
nhân dân chứ không dành cho một số ít người. 2- Sử dụng phương tiện truyền
thông đại chúng: TTĐC là hoạt động giao tiếp xã hội rộng rãi, thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng. Những sự kiện và vấn đề được xã hội hóa
thông qua các phương tiện thông tin đại chúng liên quan tới nhiều người có
mối quan hệ xã hội rộng lớn, được nhân dân quan tâm, mong đợi và có khả
năng xâm nhập, lan rộng nhanh trong cộng đồng.
Các phương tiện truyền thông đại chúng (PTTTĐC) là các phương tiện
truyền tải thông tin đến công chúng, bao gồm: báo, tạp chí, đài truyền hình, đài
phát thanh, internet… Theo nghĩa rộng, các phương tiện thông tin đại chúng là
các thiết chế xã hội đặc thù với sự trợ giúp của các công cụ kỹ thuật đặc biệt
nhằm chuyển tải thông tin đến đông đảo công chúng. Các phương tiện thông
tin đại chúng như truyền hình, đài phát thanh, báo chí và gần đây là máy vi tính
tạo ra những mắt xích quan trọng nối người này với người khác. Những
phương tiện này có một đặc tính quan trọng là có khả năng truyền đạt nhiều
thông điệp từ một nguồn đơn lẻ đến rất nhiều người khác nhau trong cùng một
lúc.
Ngày nay, khi nói đến các PTTTĐC, trước hết người ta đề cập đến báo
chí (báo in, báo phát thanh, báo hình, báo điện tử). Đó là các kênh cơ bản
nhất, cốt lõi nhất, tiêu biểu cho sức mạnh, bản chất, xu hướng vận động phát

điểm của mình, từ đó hình thành quan điểm trong nhân dân về những vấn đề
mà họ đưa ra.
Thứ hai, chức năng giáo dục
Hoạt động thông tin của TTĐC chỉ có thể kích thích mọi người tích cực
tham gia hoạt động chính trị - xã hội, đánh giá các sự kiện chính trị khi nó
10


thực hiện chức năng giáo dục. Như vậy, từ chỗ chỉ là phương tiện truyền tin,
TTĐC đã trở thành một phương tiện giáo dục có hiệu quả.
Xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng bị cuốn hút vào
guồng máy kinh tế - chính trị của quốc gia cũng như quốc tế và yêu cầu về
học tập, nâng cao trình độ hiểu biết cũng vì thế mà tăng lên. Nhà trường
không thể đáp ứng hết yêu cầu này và TTĐC là phương tiện lý tưởng để hỗ
trợ, thay thế thông qua những hình thức đa dạng, hấp dẫn, dễ dàng trong cách
tiếp cận. TTĐC chủ yếu chỉ chuyển tải những kiến thức phổ thông nhưng có
hệ thống ở mọi lĩnh vực (chính trị, kinh tế, văn hoá, lịch sử, tôn giáo, pháp
luật...) mang đến cho công chúng cái nhìn toàn diện, bức tranh toàn cảnh về
hiện thực đời sống xã hội. Từ đó truyền thụ những giá trị văn hoá - lịch sử khoa học, tích cực và tiến bộ của nhân loại.
Một nội dung quan trọng của chức năng giáo dục đó là giáo dục chính
trị - tư tưởng, tạo lập cho quần chúng một thế giới quan, nhân sinh quan đúng
đắn, toàn diện, hình thành ở họ những quan điểm, lập trường, thái độ chính trị
tiến bộ, tích cực. Giáo dục không chỉ dừng lại ở chỗ cung cấp kiến thức mà
còn tuyên truyền cái mới, cái chân - thiện - mỹ, đồng thời phê phán cái lỗi
thời, cái xấu, cái ác, định hướng những tiêu chí, giá trị, chuẩn mực, hành vi,
giúp mỗi cá nhân thích ứng, hoà đồng trong hoạt động xã hội. Với chức năng
này, TTĐC luôn đi đầu trong cuộc đấu tranh vì tiến bộ của con người chống
lại những hiện tượng tiêu cực trong xã hội, cảnh tỉnh dư luận về những gì đi
ngược lại đạo lý và phi văn hoá.
Thứ ba, chức năng định hướng

triển nền văn hoá. TTĐC là kênh truyền bá, phổ biến một cách sinh động các
loại hình và các tác phẩm văn hoá - văn nghệ để nâng cao trình độ hiểu biết
chúng của nhân dân, khẳng định và phát huy những hía trị văn hóa tốt đẹp,
hình thành và không ngừng hoàn thiện lối sống tích cực trong xã hội
[33,tr41]. Trong điều kiện toàn cầu hoá TTĐC hiện nay, với lợi thế của mình,
hàng ngày, hàng giờ các phương tiện TTĐC liên tục phổ biến những giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời giúp nhân dân tiếp cận có chọn lọc
những tinh hoa văn hoá nhân loại. Qua đó, TTĐC vừa giúp mỗi thành viên
trong xã hội nâng cao vốn tri thức, làm phong phú thêm đời sống tinh thần

12


của mình, vừa góp phần hình thành nhân cách, hướng quần chúng nhân dân
vào những giá trị chân- thiện- mỹ, có lối sống văn minh, lành mạnh nhằm
mục tiêu phát triển con người một cách toàn diện.
Thứ sáu, chức năng giải trí và một số chức năng khác
Đến đây có lẽ không thể bỏ qua chức năng “xuyên suốt” của TTĐC là
giải trí. Có thể nói, cùng với chức năng thông tin, giải trí đã làm cho truyền
thông trở thành “Đại chúng”.
Giải trí luôn là một nhu cầu thực tế của con người. Xã hội càng hiện
đại, nhịp độ cuộc sống càng gia tăng thì nhu cầu giải trí càng trở nên phong
phú, sinh động và cấp thiết hơn. Nó giúp cho con người xoá đi những căng
thăng thần kinh, khắc phục những ức chế tâm lý do công việc tạo ra, đồng
thời sử dụng thời gian nhàn rỗi một cách hiệu qủa nhất, đem lại sự thoải mái
để con người có thể tiếp nhận cái mới và tái tạo sức lao động. Chính vì thế
giải trí luôn có mặt trong hầu hết các hoạt động của các TTĐC đặc biệt là
truyền hình. Ngoài ra, với sự phát triển không ngừng của xã hội hiện đại,
TTĐC còn mang chức năng dich vụ và thương mại.
Như vậy, TTĐC với các chức năng của nó đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc

hình thức, phương thức và sản phẩm thông tin – giao tiếp.
Định kỳ có thể được hiểu là “từng khoảng thời gian nhất định, sau đó
sự việc lại xảy ra”. Trong báo chí, theo đó, cứ sau một khoảng thời gian, sản
phẩm báo chí được xuất bản, được truyền phát đi. Cứ như thế, định kỳ, đều
đặn lặp đi lặp lại. Với tính định kỳ này đã quy định nề nếp làm việc của cơ
quan báo chí cũng như phong cách hoạt động của nhà báo.
Thứ ba, tính dễ nhớ, dễ hiểu và dễ làm theo.
Tính chất giao tiếp đại chúng yêu cầu thỏa mãn trình độ chung của
công chúng. Do đó, các thông điệp phát ra phải đảm bảo để công chúng hiểu
ngay lập tức và cùng hiểu như nhau để có thể chia sẻ, nhận thức hoặc xử ly
kịp thời, hiểu quả. Điều này đòi hỏi thông điệp phải được thiết kế phù hợp để
người nông dân có trình độ trung bình tiếp nhận không thấy khó hiểu và nhà
khoa học không thấy nhàm chán.
Thứ tư, nội dung thông điệp có tính mục đích rõ rệt.

14


Mục đích chính trị, tính định hướng của hoạt động TTĐC rất rõ ràng.
Người sử dụng cũng như công chúng tiếp nhận đều ý thức về mục đích và
tính định hướng của các thông điệp. Trong những tình huống khác nhau, mục
đích của TTĐC không như nhau, nhưng dù mục đích nhằm trực tiếp vào văn
hóa, giải trí, kinh tế hay xã hội, thì mục đích xuyên suốt và bao trùm của nó
vẫn là mục đích chính trị - xã hội. Bởi vì TTĐC liên quan đến đông đảo công
chúng xã hội, đến việc tập hợp lực lượng và thu phục những “bạn đồng minh”
như V.I.Lênin đã khẳng định từ đầu thế kỷ XX.
Thứ năm, tính gián tiếp.
Hầu hết các kênh TTĐC, trong quá trình chuyển tải thông điệp, không
có sự tiếp xúc trực tiếp giữa chủ thể và khách thể mà dùng các phương tiện kỹ
thuật làm vật trung gian truyền dẫn. Do đó, muốn nâng cao năng lực và hiểu

chức, tập đoàn, cá nhân…lợi dụng những ưu thế về chức vụ, cương vị, uy tín,
nghề nghiệp, hoàn cảnh của mình hoặc người khác, lợi dụng những sơ hở của
pháp luật để làm lợi bất chính. Đây không chỉ là vấn đề của riêng một quốc
gia mà là vấn nạn chung của cả thế giới.
Có rất nhiều khái niệm về tham nhũng được đưa ra. Trước hết, Tài liệu
hướng dẫn của Liên hợp quốc về chống tham nhũng cho rằng: “tham nhũng –
đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng”.
Công ước Luật dân sự về chống tham nhũng của Hội đồng châu Âu
(thông qua tại cuộc họp thượng định lần thứ hai ở Strasbourg tháng 10/1997)
đưa ra định nghĩa: Tham nhũng là việc đòi hỏi, gợi ý, đưa hoặc nhận trực tiếp
hoặc gián tiếp của hối lộ hoặc lợi thế bất chính khác hoặc triển vọng của hối
lộ hay lợi thế bất chính đó, làm ảnh hưởng đến sự thực hiện đúng đắn nhiệm
vụ hoặc công việc của người nhân hối lộ hoặc lợi thế bất chính hoặc triển
vọng về của hối lộ bất chính đó [31,tr.223].
Tổ chức Minh bạch quốc tế cho rằng: Tham nhũng là hành vi của người
lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ lợi ích
cá nhân [9].
Ở Việt Nam khái niệm tham nhũng cũng được tiếp cận từ nhiều góc độ
khác nhau:

16


Trong từ điển tiếng Việt: “Tham nhũng là sự lợi dụng quyền hành để
nhũng nhiễu dân, lấy của dân” [7,tr.1523].
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhiều lần đề cập đến hiện tượng tham
nhũng. Người cho rằng, tham ô là “lấy của công làm của tư. Là gian lận tham
lam”, “tham ô là trộm cướp” [22,tr.488].
Ở đề tài này, tác giả xin lấy khái niệm tham nhũng trong Luật phòng,
chống tham nhũng được Quốc hội thông qua năm 2005, ở Khoản 2 Điều 1

kiểm soát, yếu kém, chậm đổi mới, trình độ quản lý lạc hậu, phi dân chủ, mức
sống thấp, quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị bị phân chia tùy tiện,
không được kiểm soát, dể bị lạm dụng sẽ dẫn đến tình trạng nảy sinh và phát
triển tình trạng tham nhũng.
Tại các cuộc đàm phán về Công ước chống tham nhũng của Liên hợp
quốc trước đây, người ta đều khẳng định là nơi nào hệ thống pháp luật còn
lỏng lẻo, các quy trình ra quyết định và hoạch định chính sách còn thiếu minh
bạch, thủ tục hành chính còn rườm rà, lương công chức còn thấp… thì ở đó
tình trạng tham nhũng có xu hướng gia tăng cả về tính chất và mức độ, đồng
thời số vụ có tính chất xuyên quốc gia cũng xuất hiện ngày càng nhiều [32].
Về nguyên nhân chủ quan:
Thứ nhất, phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ Nhà nước bị suy
thoái, công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên yếu kém. Một bộ phận
không nhỏ đảng viên, cán bộ, công chức suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm
chất đạo đức, lối sống. Không ít cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành,
kể cả cán bộ lãnh đạo cao cấp còn thiếu gương mẫu trong việc giữ gìn
phẩm chất đạo đức, chưa đi đầu trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng.
Thứ hai, sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phòng ngừa và đấu tranh
chống tham nhũng ở một số nơi chưa chặt chẽ, sâu sát, thường xuyên; việc xử
lý tham nhũng chưa nghiêm. Với việc quản lý buông lỏng trong kiểm tra,
giám sát, lợi dụng những khẽ hở trong cơ chế, chính sách để làm những điều
phi pháp, chiếm dụng của công thành của riêng.
Thứ ba, chức năng, nhiệm vụ của nhiều cơ quan Nhà nước trong cuộc
đấu tranh chống tham nhũng chưa rõ ràng, chồng chất. Một số quy định của
Đảng và Nhà nước còn chưa đồng bộ, có nhiều thay đổi, chồng chéo, mâu
thuẫn, không có tính khả thi, dễ bị lợi dụng để làm trái trục lợi; cơ chế phân
cấp, phân quyền, trao quyền cho tổ chức, cá nhân, nhất là người đứng đầu
chưa rõ ràng, đầy đủ, trong khi chưa có cơ chế để kiểm tra, giám sát, kiểm
18


19


hư hoá cấp trên làm cho bộ máy trở thành quan liêu, chúng sẽ tăng cường đưa
thêm kẻ xấu vào guồng máy và triệt hại đội ngũ viên chức chưa tốt.Tham
nhũng sẽ làm cho quần chúng mất đi sự tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của
Đảng và Nhà nước và đây cũng là nguyên nhân căn bản nhất dẫn đến thất
bại của Đảng và Nhà nước. Công ước Liên châu Mỹ về chống tham nhũng
thừa nhận rằng: “Tham nhũng làm giảm tính chính đáng của các cơ quan
công quyền, xâm hại xã hội, nền tảng đạo đức và công lý cũng như sự phát
triển toàn diện của con người [33,tr.233].
Thứ ba, tác hại về xã hội
Tham nhũng xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn
mực đạo đức xã hội, tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước.Trước
những lợi ích bất chính đã hoặc sẽ có được khi thực hiện hành vi tham
nhũng, nhiều cán bộ, công chức đã không giữ được phẩm chất đạo đức
của người cán bộ cách mạng, không phục vụ nhân dân mà hướng tới các
lợi ích bất chính, bất chấp việc vi phạm pháp luật, làm trái công vụ, trái
lương tâm, đạo đức nghề nghiệp. Vì vậy, tham nhũng không chỉ phát sinh
ở trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng cơ
bản, quản lý đất đai… mà còn có xu hướng lan sang các lĩnh vực từ trước
tới nay ít có khả năng xảy ra tham nhũng như: văn hoá, y tế, giáo dục, thể
dục, thể thao...Thậm chí, cả những lĩnh vực lẽ ra không thể có tham
nhũng, cả dưới góc độ đạo đức và pháp luật, như lĩnh vực phúc lợi xã hội
hay bảo vệ pháp luật. Hành vi tham nhũng xảy ra không ít trong các
chương trình trợ cấp cho thương binh, liệt sĩ, các gia đình chính sách;
tham nhũng tiền, hàng hoá cứu trợ xã hội, trong cả xét duyệt công nhận di
tích lịch sử, văn hoá, thi đua khen thưởng. Thậm chí tham nhũng còn xảy
ra trong các cơ quan bảo vệ pháp luật.


sách và pháp luật phòng, chống tham nhũng trong thực tiễn. Thông qua
TTĐC, cán bộ, công chức được trang bị thêm những kiến thức cơ bản và mới
cả về lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Những vấn đề
lý luận, khoa học, những nguồn tư liệu thông tin quan trọng cho các cán bộ
chuyên môn và lãnh đạo tham khảo, vận dụng vào công tác phòng, chống
tham nhũng.
21


1.1.3.2.

Truyền thông đại chúng phát hiện hành vi tham nhũng

Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, TTĐC đã cùng với các
lực lượng tích cực phát hiện các vụ việc, đấu tranh mang lại những kết quả thiết
thực. TTĐC đã công khai và thẳng thắn đấu tranh phê phán mạnh mẽ những
tập thể cá nhân vi phạm pháp luật. TTĐC theo dõi, cảnh báo những nơi có
nguy cơ tham nhũng, vừa tham gia phát hiện và tạo nên dư luận mạnh mẽ, đòi
hỏi các cơ quan trong bộ máy nhà nước phải hoàn thiện cơ chế xây dựng, bồi
dưỡng cán bộ, đảng viên, công chức về nhân cách, đạo đức, lối sống để phòng
ngừa, ngăn chặn và xử lý tham nhũng. Một khi TTĐC phát hiện các nghị sỹ
quốc hội có những điều khuất tất, họ có quyền điều tra, tìm kiếm sự thật và
công bố sự thật đó trước công chúng [1,tr.134]. TTĐC đã đi tiên phong trên
mặt trận đầy khó khăn này. Nó được coi là “mũi nhọn”, là một trong những
công cụ, phương tiện hữu hiệu giữa cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham
nhũng. Thực tế cho thấy nhờ có sự hỗ trợ tích cực và hiệu quả của TTĐC mà
nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng, phản động… được đưa ra ánh sáng, xử lý
kịp thời, đúng pháp luật.
Hiện nay, TTĐC là một trong những vũ khí quan trọng trong cuộc đấu
tranh chống hiện tượng tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy nhà nước. TTĐC

pháp giải quyết. Trên thực tế, khi TTĐC lên tiếng về những vụ việc tham
nhũng thì các cơ quan có thẩm quyền vào cuộc nhanh hơn để xem xét, xử lý.
Thông qua đó, TTĐC góp phần thúc đẩy hoàn thiện cơ chế quản lý, chấn
chỉnh sai phạm, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước.
1.1.3.4. Truyền thông đại chúng nêu gương những tấm gương điển hình
trong phòng, chống tham nhũng
Trước hết, để nhân dân hiểu rõ hơn về sứ mệnh của mình trong công tác
phòng, chống tham nhũng, TTĐC có vai trò tuyên truyền các quy định của
pháp luật về đấu tranh, phòng, chống tham nhũng và tác hại của tham nhũng
đến sự phát triển của xã hội để mọi người dân hiểu rõ. Trên cơ sở đó, mọi
người ý thức được trách nhiệm của mình trong đấu tranh phòng, chống tham
nhũng. TTĐC đã góp phần làm công chúng hiểu rõ, đấu tranh chống tham

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status