Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ giảng viên các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở việt nam hiện nay - Pdf 42

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

CAO TH H

nâng cao năng lực tư duy lý luận
cho đội ngũ giảng viên các trường đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức ở việt nam hiện nay

LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CH NGHA DUY VT BIN CHNG
V CH NGHA DUY VT LCH S
Mó s: 62 22 03 02

Ngi hng dn khoa hc:

1. GS.TS. TRN THNH
2. TS. MAI TH THANH

H NI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo
quy định.
Tác giả luận án

Cao Thị Hà




36
36

52

Chương 3: NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CHO ĐỘI
NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
- THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN

3.1. Thực trạng nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ giảng
viên các Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
3.2. Nguyên nhân của thực trạng nâng cao năng lực tư duy lý luận
cho đội ngũ giảng viên các Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức

78
78

103

Chương 4: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY
LÝ LUẬN CHO ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY

4.1. Nhóm giải pháp tuyển chọn, đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giảng
viên các Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
4.2. Nhóm giải pháp tạo môi trường đòi hỏi giảng viên phải nâng cao


:

Chủ nghĩa xã hội

ĐTBD

:

Đào tạo bồi dưỡng

ĐTBDCBCC

:

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

GV

:

Giảng viên

HCQG

:

Hành chính Quốc gia

LLCT


:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 2.1: Định mức thời gian hàng năm của mỗi giảng viên

63

Bảng 3.1: Cơ cấu giới tính đội ngũ giảng viên năm 2016

81

Bảng 3.2: Cơ cấu ngành đào tạo của đội ngũ giảng viên

82

Bảng 3.3: So sánh ngạch giảng viên năm 2016 của các Trường

87

Bảng 3.4: Kết quả đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của 03
Trường theo tiêu chuẩn giảng viên

88


Số lượng và trình độ giảng viên Học viện Hành chính
quốc gia

Biểu đồ 3.2:

84

Học hàm, học vị giảng viên Trường Đào tạo cán bộ Lê
Hồng Phong năm 2012 đến năm 2016

Biểu đồ 3.5:

84

Học vị giảng viên Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức Bộ Nội vụ năm 2012 đến năm 2016

Biểu đồ 3.4:

83

Học hàm, học vị giảng viên Học viện Hành chính
Quốc gia

Biểu đồ 3.3:

59

85


Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước trong mối quan hệ với nhiệm vụ của họ, khả năng nắm bắt thực tiễn và
xác định phương hướng, giải pháp tối ưu để giải quyết các vấn đề nảy sinh
trong thực tiễn, trong thực thi nhiệm vụ. Thực tiễn cho thấy, năng lực tư duy
lý luận (TDLL) của đội ngũ giảng viên là giá trị định hướng cho hoạt động
nhận thức, hoạt động thực tiễn của họ. Cùng với việc nắm vững lý luận cách
mạng, đội ngũ giảng viên còn phải biết vận dụng, cụ thể hoá hệ thống lý luận
đó trong các bài giảng của mình cho có chất lượng.
Trong Báo cáo Chính trị và Báo cáo Công tác xây dựng Đảng của Văn
kiện Đại hội Đảng toàn quốc khoá XI, XII, vấn đề xây dựng và nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) đã trình bày khá sâu sắc và toàn
diện. Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến
lược cán bộ từ nay đến năm 2020, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cải cách nền
hành chính triệt để, từ một nền hành chính quản lý truyền thống sang một nền


2
hành chính dịch vụ, chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch, với sự hoạt động
hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính Nhà nước thông suốt từ trung ương
tới cơ sở không thể tách rời sự đổi mới và nâng cao chất lượng công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức (ĐTBDCBCC). Giảng viên là lực chính yếu
để đẩy mạnh và tạo sự chuyển biến sâu sắc trong công tác ĐTBDCBCC, do
đó việc làm cần thiết, có tính then chốt là phải phát triển và nâng cao chất
lượng đội ngũ giảng viên tại các cơ sở ĐTBDCBCC về lực lượng (số lượng),
về phẩm chất - đạo đức và tri thức - năng lực (chất lượng).
Trong những năm qua, việc nâng cao NLTDLL cho đội ngũ giảng viên
các trường ĐTBDCBCC đã đạt được những kết quả đáng khích lệ: việc vận
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào bài giảng đã thường xuyên
thực hiện. Tuy nhiên, giảng viên các Trường Đào tạo, bồi dưỡng (ĐTBD)

- Tổng quan tình hình nghiên cứu về NLTDLL cho đội ngũ giảng viên
các Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay.
- Làm rõ cơ sở lý luận về nâng cao NLTDLL cho đội ngũ giảng viên
các Trường ĐTBD CBCC.
- Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng nâng cao NLTDLL cho đội ngũ
giảng viên các Trường ĐTBD CBCC ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao NLTDLL cho đội ngũ giảng
viên các trường ĐTBD CBCC trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án chỉ đi vào nghiên cứu về nâng cao NLTDLL cho đội ngũ giảng
viên các Trường ĐTBD CBCC ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án chỉ tập trung khảo sát NLTDLL cho đội ngũ giảng viên tại các
cơ sở đào tạo, bồi dưỡng: Học viện Hành chính Quốc gia; Trường ĐTBD
CBCC, Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong thành phố Hà Nội từ năm


4
2012 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận của luận án là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, của ngành và các tài liệu khoa học có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra còn sử dụng
một số các phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: Phương pháp điều tra xã
hội học, thống kê, so sánh, thu thập và xử lý thông tin.
5. Những đóng góp về khoa học của luận án

của Nguyễn Đức Tài [84] đã phân tích quan niệm tư duy, TDLL; biện giải
TDLL - hình thức phản ánh cao nhất hiện thực khách quan bởi bộ óc con
người và làm rõ quan niệm về đổi mới TDLL về xã hội chủ nghĩa (XHCN),
tính tất yếu của việc đổi mới TDLL về XHCN. Theo tác giả, đổi mới TDLL
về chủ nghĩa xã hội (CNXH) là đổi mới phương pháp tư duy, khắc phục lối
TD kinh nghiệm, giáo điều, chủ quan, siêu hình về CNXH; loại bỏ những
quan điểm, nhận thức sai trái, lạc hậu, lỗi thời; là sự đổi mới kiến thức, tri
thức về XHCN và hình thành những quan niệm, nhận thức mới về CNXH và
con đường đi lên CNXH ở nước ta. Trong Chương 2, tác giả đã phân tích việc
đổi mới TDLL của Đảng ta về CNXH và con đường đi lên CNXH theo 05 nội
dung: nhận thức lại về CNXH và mô hình CNXH ở nước ta; đổi mới TDLL
về kiểu quá độ đi lên CNXH ở nước ta; đổi mới TDLL về lĩnh vực kinh tế;
đổi mới TDLL trong lĩnh vực xã hội và văn hóa; đổi mới TDLL của Đảng ta
trong lĩnh vực chính trị. Chương 3, đã làm rõ những vấn đề đặt ra phải tiếp
tục đổi mới và nâng cao trình độ TDLL, đó là: từ tình hình đổi mới của đất


6
nước, các xu thế phát triển của thế giới, những vấn đề đặt ra trong hoạt động
nghiên cứu lý luận; đồng thời, đề xuất một số phương hướng tiếp tục đổi mới
và nâng cao trình độ TDLL của Đảng nhằm đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới ở
Việt Nam; cụ thể: (i) Tiếp tục đổi mới và nâng cao nhận thức về chủ nghĩa
Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; (ii) Coi trọng công tác tổng kết thực
tiễn; (iii) Đổi mới và nâng cao trình độ TDLL đối với đội ngũ cán bộ làm
công tác tư tưởng, lý luận và NCKH; theo đó: nâng cao phương pháp TD
khoa học và giữ vững lập trường chính trị; thể chế hóa quyền tự do tư tưởng,
tự do sáng tạo trong công tác lý luận, xây dựng và thực hiện quy chế bảo đảm
dân chủ, phát huy tinh thần sáng tạo, tăng cường đoàn kết, ý thức trách nhiệm
xã hội...; xác lập và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lý luận khoa học và
chính trị; xây dựng và thể chế hóa cơ chế quản lý công tác lý luận, NCKH;

sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam nhận thức đúng đắn các vấn đề thời đại có
quan hệ chặt chẽ đến đổi mới TDLL. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh là cơ sở lý luận để TD đúng đắn về con đường phát triển của cách mạng
Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt; đây là thành công đáng ghi nhận
trong đổi mới TDLL của chúng ta trong suốt hơn 30 năm qua. Sự tiến bộ về
điều kiện vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân trong quá trình đổi mới đất
nước đã làm cho trình độ dân trí có sự chuyển biến về chất và nâng cao TDLL
phát triển lên tầm cao mới. Các ý tưởng đổi mới đất nước, con người và tổ
chức thực hiện sự đổi mới ở Việt Nam theo mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc
và phát triển XHCN nhất thiết phải có TDLL, trong đó TD triết học là chìa
khoá phương pháp luận khoa học. Từ những thành công của chúng ta trong
hơn 30 năm đổi mới vừa qua, có thể khẳng định rằng chủ nghĩa Mác-Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh có vai trò to lớn và đặc biệt quan trọng đối với tiến
trình đổi mới TDLL ở Việt Nam.
- "Đổi mới tư duy lý luận - khâu đột phá trong sự nghiệp đổi mới của
Đảng ta" của Trần Sỹ Phán [69] đã nhận thức một cách sâu sắc ý nghĩa và
tầm quan trọng của TDLL trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta lấy đổi


8
mới TDLL làm khâu "đột phá" cho toàn bộ sự nghiệp đổi mới của mình. Đổi
mới trên cơ sở kế thừa, kế thừa trên cơ sở đổi mới. Đó là biện chứng của sự
phát triển nói chung, của TDLL nói riêng. Với ý nghĩa đó, đổi mới TD không
có nghĩa là phủ nhận những thành tựu lý luận đã đạt được, phủ nhận những
quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng CNXH, phủ nhận đường lối đúng
đắn đã được Đảng ta lựa chon và dân tộc ta, nhân dân ta thống nhất đi theo.
Về nguyên tắc, đổi mới không làm thay đổi mục tiêu XHCN mà làm cho mục
tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả hơn. Muốn đổi mới tư duy, đòi hỏi Đảng ta
phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin,
kế thừa di sản tinh thần quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ

- "Vai trò của tư duy lý luận đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ
giảng viên trẻ" của Vũ Văn Ban [2] đã đi sâu phân tích làm rõ vai trò của
TDLL đối với việc nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên trẻ trong các
Học viện, Trường sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam trên 03 nội dung sau:
Thứ nhất, giúp họ ngày càng nhận thức thấu đáo tri thức khoa học chuyên
ngành và các khoa học khác; Thứ hai, giúp họ có điều kiện tìm tòi, lựa chọn
phương pháp giảng dạy hiệu quả; Thứ ba, giúp họ thực hiện tốt nhiệm vụ
NCKH và các nhiệm vụ khác... Qua đó, các nhà quản lý cũng như người
giảng viên trẻ nhận thức rõ vấn đề này để có những biện pháp thích hợp bồi
dưỡng, rèn luyện và phát huy vai trò của TDLL, làm cơ sở cho nâng cao chất
lượng giảng dạy và NCKH, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Theo tác giả, TDLL là TD ở cấp độ cao, dựa trên các công cụ là khái niệm,
phạm trù, phán đoán, suy luận hướng tới phân tích, tổng hợp, khái quát để tìm
ra bản chất, quy luật của hiện thực khách quan, từ đó định hướng, hướng dẫn
hoạt động thực tiễn của con người và sáng tạo tri thức mới.
Những năm gần đây, các quan điểm, chủ trương phát triển giáo dục của
Đảng đều đề cao vai trò của đội ngũ những người làm công tác giáo dục, xem
đó là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục. Là một bộ phận cấu thành
đội ngũ nhà giáo, đội ngũ giảng viên trẻ là lực lượng kế cận, là những tri thức


10
mới vào nghề, với lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ, đội ngũ này đang ra sức tu
dưỡng, rèn luyện, phấn đấu vươn lên làm chủ tri thức khoa học, đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ. Tuy nhiên, do tuổi đời và tuổi nghề còn ít, sự tích luỹ tri thức
và kinh nghiệm chưa nhiều nên trình độ và năng lực sư phạm của họ còn hạn
chế. Trước sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng đang đặt ra nhu cầu tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội, trong đó có sự tham gia đóng góp
tích cực của đội ngũ giảng viên trẻ. Để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng
viên trẻ một cách nhanh chóng, hiệu quả, trước hết phải quan tâm bồi dưỡng,

chế, tác giả đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao NLTDLL cho
giảng viên lý luận Mác-Lênin ở các Trường Chính trị tỉnh là: Học tập, trau dồi
phương pháp TD biện chứng duy vật; Từng bước chuẩn hóa đội ngũ CBGD
lý luận Mác - Lênin theo hướng kết hợp hài hòa giữa năng lực, trình độ
chuyên môn với phẩm chất, đạo đức cách mạng; Tiếp tục đổi mới và hoàn
thiện chính sách đối với CBGD lý luận Mác-Lênin.
1.2. NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CHO CÁN BỘ, GIẢNG
VIÊN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

- "Phát triển năng lực tư duy lý luận của cán bộ chính trị cấp trung
đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Văn Dũng [20] đã
đưa ra quan niệm: NLTDLL của một chủ thể nhất định là tổng hòa các yếu tố
chủ quan của chủ thể trong quá trình TD phản ánh chân thực và nhạy bén hiện
thực khách quan đáp ứng yêu cầu của hoạt động này, từ đó tạo ra khả năng
đánh giá và chỉ đạo hoạt động thực tiễn của chủ thể làm cho những hoạt động
đó đạt được hiệu quả cao. Phát triển NLTDLL là kết quả tổng hợp của sự
tương tác giữa nhiều yếu tố, trong đó mỗi yếu tố giữ vị trí không ngang bằng
nhau, song chúng đều góp phần quy định sự tồn tại, phát triển của năng lực
TDLL. Tác giả đã luận giải để tạo nên NLTDLL của mỗi con người gồm 03
nhóm yếu tố; cụ thể: Một là, những yếu tố tạo ra cơ sở cho sự hình thành và
phát triển NLTDLL là: các tri thức nguồn, tư chất của chủ thể tư duy; Hai là,
những yếu tố nội tại của NLTDLL, gồm: năng lực ghi nhớ, lưu giữ những


12
phạm trù, quy luật, quan điểm lý luận; năng lực tái hiện những vấn đề lý luận
đã ghi nhớ, lưu giữ...; sự nhanh nhạy, tính độc lập, tự chủ, sáng tạo trong phát
hiện mâu thuẫn, những vấn đề mới của thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện lý
luận; khả năng tiếp nhận sâu sắc và chuyển hóa những vấn đề lý luận thành
kiến thức, niềm tin của chủ thể tư duy; Ba là, những yếu tố góp phần tạo ra

bộ cấp dưới và quần chúng nhân dân để tạo thành phong trào cách mạng sâu
rộng trên địa bàn tỉnh; (v) Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn; (vi) Nâng cao
năng lực dự báo, định hướng trong hoạt động lãnh đạo của họ.
Về thực trạng năng lực TDLL, tác giả xác định thực trạng năng lực
TDLL của cán bộ này là đang đứng trước mâu thuẫn giữa yêu cầu, nhiệm vụ
ngày càng cao với trình độ và khả năng đáp ứng của cán bộ lãnh đạo chủ chốt
ở đây nhiều mặt chưa ngang tầm, nhất là về năng lực TDLL. Để khắc phục
hạn chế trên, Luận án đưa ra 03 nguyên tắc nhằm nâng cao năng lực TDLL
cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng Đồng bằng Bắc Bộ là:
phải từng bước gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí cho cán
bộ, đảng viên trên địa bàn; nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ;
kết hợp chặt chẽ với việc tăng cường rèn luyện đạo đức cách mạng... Đồng
thời, đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực TDLL cho đội ngũ cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng Đồng bằng Bắc Bộ: Trau dồi và rèn luyện
phương pháp TD biện chứng duy vật; tăng cường tổng kết thực tiễn; tiếp tục đổi
mới công tác đào tạo, bố trí, sử dụng đãi ngộ cán bộ và phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo...; thực hiện dân chủ trong hoạt động lãnh đạo, quản lý.
- "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý luận Mác
- Lê nin ở các trường Chính trị tỉnh" của Nguyễn Đình Trãi [94] đã phân tích
TDLL và NLTDLL; theo tác giả: NLTDLL là sự phát triển cao của năng lực
TD con người; NLTDLL không chỉ được biểu hiện ở sự hiểu biết lý luận mà
còn ở phương pháp tiếp cận thực tiễn. Về yếu tố ảnh hưởng tới NLTDLL,
theo tác giả đó là tác động về mặt sinh học và tác động về mặt xã hội. Về
NLTDLL trong công tác giảng dạy lý luận Mác-Lê nin, theo tác giả, công tác


14
giảng dạy lý luận Mác-Lê nin nhằm góp phần hình thành thế giới quan và
phương pháp luận khoa học cho người học; chuyển hóa kiến thức thành niềm
tin khoa học, lý tưởng cách mạng; xây dựng cho người học khả năng vận

quyết, chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển
toàn diện trên địa bàn huyện; NLTDLL giúp cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
huyện nâng cao khả năng nắm bắt, đánh giá tình hình thực tiễn, tổng kết thực
tiễn, tìm ra nguyên nhân của thành công và thất bại, rút ra bài học kinh
nghiệm, định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn tiếp theo. Ngoài ra,
NLTDLL còn giúp cho người cán bộ chủ chốt cấp huyện hoàn thành tốt mọi
nhiệm vụ, đạt kết quả tối ưu, luôn chủ động trong việc đề xuất và thực hiện kế
hoạch, chương trình hành động. Tuy nhiên, NLTDLL của đội ngũ này cũng
còn một số hạn chế, đó là: bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, giáo điều, chủ quan,
TD lôgic yếu; một phần đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện còn mang nặng lối
TD theo đường mòn, duy ý chí trong suy nghĩ và hành động, có tâm lý ngại
thay đổi, ngại va chạm và khi gặp khó khăn thì thường đổ lỗi cho khách quan,
nhanh chóng quay lại cách làm cũ; lấy các mong muốn cá nhân áp đặt cho
thực tế, lấy nhu cầu, nguyện vọng chủ quan thay cho khả năng hiện thực, lấy
ý muốn, ý chí của người lãnh đạo làm điểm xuất phát, bất chấp quy luật khách
quan... Từ thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện và NLTDLL của họ,
tác giả nêu một số nguyên tắc cơ bản để nâng cao NLTDLL cho đội ngũ cán
bộ này: (1) Nâng cao NLTDLL phải xuất phát từ thực tiễn, phải gắn với quá
trình tổng kết thực tiễn trên địa bàn người cán bộ chủ chốt phụ trách. (2) Nâng
cao NLTDLL phải gắn với công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. (3)
Nâng cao NLTDLL cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện phải gắn với nâng
cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của họ và nâng cao
trình độ dân trí cộng đồng. (4) Phải gắn việc nâng cao NLTDLL với việc giải
quyết nhiệm vụ chính trị ở địa phương là phát triển kinh tế - xã hội mà người
cán bộ chủ chốt trực tiếp phụ trách. (5) Nâng cao NLTDLL cho đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp huyện phải gắn liền với việc trau dồi phẩm chất đạo đức cách


16
mạng.

năng áp dụng lý luận vào thực tiễn còn hạn chế, đồng thời chỉ ra nguyên nhân,
những vấn đề đặt ra.
Từ thực trạng NLTDLL và yêu cầu của việc nâng cao NLTDLL để
nâng cao cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu
số ở Tây Nguyên, đề tài đã đưa ra 6 giải pháp: (i) Đẩy mạnh phát triển kinh tế
xã hội nhằm tạo tiền đề vật chất cho việc nâng cao NLTDLL của đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu số; (ii) Tích cực đào tạo,
bồi dưỡng, nâng cao trình độ các mặt, nhất là trình độ LLCT - hành chính, rèn
luyện TD biện chứng duy vật cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người
dân tộc thiểu số; (iii) Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn; (iv) Tăng cường rèn luyện
đạo đức cách mạng, chú trọng học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh; (v) Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, chú trọng phát huy dân
chủ trong hoạt động thực tiễn; (vi) Chú trọng công tác cán bộ, nhất là hoàn
thiện chính sách đối với cán bộ người dân tộc thiểu số để tạo động lực khuyến
khích cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện nâng cao NLTDLL.
- "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
huyện ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay" của Nguyễn Đức Quyền [80] đã đưa ra quan
niệm: NLTDLL là khả năng dư duy về những vấn đề chung, tổng thể, toàn
vẹn, nắm bắt đối tượng trong tính chỉnh thể của sự tồn tại, vận động và phát
triển; đó là khả năng TD khoa học, sáng tạo trong sử dụng các quan niệm,
phạm trù để phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa đem
lại những tri thức mới mang tính chính xác, sâu sắc, chặt chẽ, logic và có hệ
thống... phù hợp với quy luật khách quan của sự tồn tại và vận động của hiện
thực. Luận án đã phân tích, làm rõ 03 yếu tố ảnh hưởng đến NLTDLL, là: đặc
tính bẩm sinh của con người; quá trình giáo dục, học tập, rèn luyện; môi
trường kinh tế-xã hội, nền tảng văn hóa, khoa học xã hội; hoạt động thực tiễn;
nhu cầu và lợi ích. Về vai trò của NLTDLL đối với hoạt động lãnh đạo, quản
lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện, Luận án đã luận giải theo 04 vấn



19
trong lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện.
- "Nâng cao năng lực NCKH và tiếp cận thực tế của giảng viên: cách
tiếp cận và giải pháp" của Nguyễn Xuân Minh [62] đã đưa ra một số quan
niệm về năng lực, một số khung nghiên cứu năng lực và từ các cách tiếp cận
khác nhau, tác giả cho rằng: năng lực là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ
năng, thái độ để hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể trong một điều kiện công
việc vụ thể. Theo tác giả, hoạt động NCKH và tiếp cận thực tiễn của giảng
viên phụ thuộc rất lớn vào hai nhóm yếu tố chính: năng lực của bản thân
giảng viên và các yếu tố thuộc môi trường nghiên cứu. Thứ nhất, năng lực
nghiên cứu và tiếp cận thực tiễn phụ thuộc vào: nhận thức của giảng viên về
tầm quan trọng, sự cần thiết và nỗ lực dành thời gian, tâm huyết cho hoạt
động NCKH và tiếp cận thực tiễn; Kiến thức chuyên môn để có thể hoàn
thành nhiệm vụ nghiên cứu hoặc tiếp cận thực tiễn, cập nhật các vấn đề mới
trong lĩnh vực nghiên cứu; Kỹ năng nghiên cứu và tiếp cận thực tiễn với các
kỹ năng liên quan như: kỹ năng tiếp cận vấn đề, kỹ năng tiếp cận nguồn thông
tin, kỹ năng thiết lập quan hệ, kỹ năng tổ chức triển khai hoạt động nghiên
cứu và thâm nhập thực tiễn. Thứ hai, môi trường nghiên cứu bao gồm các yếu
tố: Điều kiện hỗ trợ triển khai hoạt động NCKH, bao gồm các yếu tố như thời
gian, kinh phí, chương trình phần mềm, máy tính, hỗ trợ về thủ tục; quy trình
triển khai, khả năng thành lập các nhóm nghiên cứu; Ghi nhận, liên quan đến
các hình thức thưởng, khích lệ khi giảng viên hoàn thành nhiệm vụ nghiên
cứu hay đi thực tế; Khai thác, việc đưa kết quả nghiên cứu hay tổng kết những
thực tiễn mới có ý nghĩa khích lệ giảng viên trong việc tập trung công sức cho
các hoạt động có nhiều giá trị gia tăng.
Bài viết đã khái quát tình hình NCKH và tiếp cận thực tiễn của giảng
viên tại Cơ sở II (Trường Đại học Ngoại thương), cho thấy: giảng viên tại Cơ
sở II đã bắt đầu quan tâm và đầu tư vào việc viết sách tham khảo, chuyên
khảo và thực hiện đề tài khoa học các cấp; từ năm 2005-2011 có 9 đề tài khoa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status