ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ NGỌC VẤN
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG THẢM THỰC VẬT
VÀ HỆ THỰC VẬT Ở XÃ PHONG QUANG,
HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ NGỌC VẤN
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG THẢM THỰC VẬT
VÀ HỆ THỰC VẬT Ở XÃ PHONG QUANG,
HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
Ngành: SINH THÁI HỌC
Mã ngành: 8.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. LÊ NGỌC CÔNG
THÁI NGUYÊN - 2018
nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên trong suốt thời gian qua.
Trong quá trình thực hiện luận văn, do còn hạn chế về mặt thời gian, kinh
phí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong nhận được những ý kiến quý báu của thầy cô giáo, các nhà khoa học, cùng
bạn bè, đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Vấn
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ..........................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT ........................................ iv
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH ......................................................................... v
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1.Đặt vấn đề ......................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................ 2
3. Thời gian và phạm vi nghiên cứu .................................................................... 2
4. Ý nghĩa của đề tài ............................................................................................ 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .............................................................. 4
1.1. Một số khái niệm .......................................................................................... 4
1.1.1. Khái niệm về thảm thực vật....................................................................... 4
1.1.2. Khái niệm hệ thực vật ................................................................................ 4
3.1.4. Tài nguyên ............................................................................................... 24
3.2. Ðiều kiện kinh tế - xã hội ........................................................................... 26
3.2.1. Dân số, dân tộc ........................................................................................ 26
3.2.2. Hoạt động nông, lâm nghiệp .................................................................. 26
3.2.3. Giao thông, thủy lợi ................................................................................. 26
3.2.4. Văn hóa, giáo dục, y tế ............................................................................ 26
3.3. Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến
thảm thực vật KVNC ......................................................................................... 27
3.3.1. Những yếu tố thuận lợi ............................................................................ 27
3.3.2. Những yếu tố khó khăn ........................................................................... 27
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................... 29
4.1. Hiện trạng thảm thực vật khu vực nghiên cứu ........................................... 29
4.1.1. Thảm thực vật tự nhiên ............................................................................ 29
4.1.2. Rừng trồng ............................................................................................... 34
4.2. Hiên trạng hệ thực vật trong khu vực nghiên cứu ...................................... 35
4.2.1. Đa dạng ở mức độ ngành ......................................................................... 35
iv
4.2.2. Đa dạng ở mức độ họ............................................................................... 36
4.2.3. Đa dạng ở mức độ chi .............................................................................. 38
4.3. Hiện trạng hệ thực vật trong các kiểu thảm thực vật.................................. 39
4.3.1.Đa dạng các họ, chi, loài trong các kiểu thảm thực vật............................ 39
4.3.2. Đa dạng về mức độ họ trong các kiểu thảm thực vật .............................. 40
4.3.3. Đa dạng về mức độ chi trong các kiểu thảm thực vật ............................. 46
4.4. Hiện trạng dạng sống của thực vật ............................................................. 50
4.4.1. Thành phần dạng sống ở rừng thứ sinh ................................................... 51
4.4.2. Thành phần dạng sống ở thảm cây bụi .................................................... 51
4.4.3. Thành phần dạng sống ở thảm cỏ ............................................................ 52
Soi
Lấy sợi
2
Ca
Làm cảnh
3
Td
Cho tinh dầu
4
G
Cho gỗ
5
Nh
Cho nhựa
6
Nxb
Nhà xuất bản
12
ODB
Ô dạng bản
13
OTC
Ô tiêu chuẩn
14
SL
Số lượng
15
TTV
Thảm thực vật
16
RTH
Rừng trồng Thông
22
BTTN
Bảo tồn thiên nhiên
23
PCCCR
Phòng cháy chữa cháy rừng
24
IUCN
Tổ chức bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Quốc tế (The
International Union for conservertion nature and National
resource)
25
UNESCO Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hợp Quốc.
iv
bảo vệ sức khỏe của con người…Vì vậy, tỷ lệ đất có rừng che phủ của một quốc
gia là một chỉ tiêu an ninh môi trường quan trọng (diện tích đất có rừng đảm bảo
an toàn môi trường của một quốc gia tối ưu là 45% tổng diện tích). Hàng thập kỷ
qua do nhiều nguyên nhân khác nhau như sự tàn phá của chiến tranh, khai khác
tài nguyên rừng quá mức, thu hẹp diện tích rừng vào nhiều mục đích như lấy đất
làm công nghiệp, đốt nương làm rãy, do cháy rừng... gây hậu quả nghiêm trọng
và tổn thất nặng nề cho con người như hạn hán, lũ lụt, biến đổi về khí hậu do đó
ảnh hưởng đến nền kinh tế, chất lượng cuộc sống của con người...
Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng khôi phục rừng tự
nhiên, phát triển rừng đối với nền kinh tế, văn hóa xã hội, an toàn cho hệ sinh thái
môi trường toàn cầu, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chương trình, dự án khôi
phục, bảo tồn và phát triển rừng như chương trình 327 phủ xanh đất trống đồi trọc,
dự án trồng mới 5 triệu ha rừng theo quyết định số 661/QĐ-TTg của Chính phủ...,
thành lập và quy hoạch các Khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn Quốc gia...
Hà Giang là tỉnh miền núi phía Bắc có tổng diện tích tự nhiên 791.488,9ha,
trong đó diện tích rừng và đất quy hoạch cho phát triển lâm nghiêp là
533.138,3ha, chiếm gần 70% diện tích đất tự nhiên. Đặc biệt với trên 70% người
dân sinh sống trên đất rừng và có rừng thì việc đảm bảo sinh kế bền vững cho
người dân gắn liền với phát triển và bảo vệ rừng được coi là một trong những
nhiệm vụ cấp bách của cấp chính quyền nhân dân tỉnh Hà Giang. Hiện trên địa
1
bàn tỉnh Hà Giang có trên 40 nghìn ha rừng tự nhiên với trữ lượng lâm sản lớn
và đa dạng về chủng loại trong đó có Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Phong
Quang. Khu BTTN Phong Quang được thành lập theo quyết định số 194/CT,
ngày 09/8/1986 của Thủ tướng Chính phủ, thuộc đơn vị hành chính của 4 xã của
huyện Vị Xuyên trong đó có xã Phong Quang [39]
Xã Phong Quang có diện tích khá lớn thuộc khu BTTN Phong Quang với
3.2.2. Giới hạn về địa điểm
Đề tài nghiên cứu tại xã Phong Quang (huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang)
4. Ý nghĩa của đề tài
4.1. Về lý luận
Cung cấp dữ liệu về hiện trạng thảm thực vật và hệ thực vật ở xã Phong
Quang làm cơ sở cho công tác bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thực
vật.
4.2. Về thực tiễn
Đề xuất được các biện pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát triển bền vững
thảm thực vật và hệ thực vật ở khu vực nghiên cứu.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm về thảm thực vật
Thảm thực vật (vegetation) là khái niệm được nhiều nhà khoa học trong
và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau. Theo Schmithusen J. (1959) thì
thảm thực vật là lớp thực bì của trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của
nó [38]. Thái Văn Trừng (1978) cho rằng thảm thực vật là các quần hệ thực vật
phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh [48].Theo Trần Đình Lý (1998) thì thảm
thực vật là toàn bộ lớp phủ trên bề mặt Trái đất [29]. Ở khái niệm này thảm thực
vật mới chỉ là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đặc trưng hay phạm vi không
gian của một đối tượng cụ thể. Nó chỉ có nội hàm cụ thể khi có định ngữ kèm
theo như thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn hay “Thảm thực
vật Hà Giang”…v.v. Thành phần chủ yếu của thảm thực vật là cây cỏ, nhưng đối
tượng nghiên cứu chủ yếu của thảm thực vật là tập thể cây cối được hình thành
do một số lượng những cá thể của loài thực vật tập hợp lại. Do vậy, thảm thực
nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: Loạt quần hệ rừng xanh mưa mùa; loạt quần hệ khô
thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ
ngập quanh năm (theo Nguyễn Thị Thoa, 2014) [43].
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật ở Đông Dương đã chia thảm
thực vật thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian,
đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó [55].
UNESCO (1973) đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thế giới
dựa trên nguyên tắc ngoại mạo cấu trúc và được thể hiện trên bản đồ 1:2000 000.
Hệ thống đó được sắp xếp như sau:
1. Lớp quần hệ
1.A. Dưới lớp quần hệ
1.A.1. Nhóm quần hệ
1.A.1.1. Quần hệ
1.A.1.1.1. Dưới quần hệ
Theo hệ thống phân loại này thì thảm thực vật thế giới có 5 lớp quần hệ
5
là: (1) Lớp quần hệ rừng kín, (2) Lớp quần hệ rừng thưa, (3) Lớp quần hệ cây
bụi, (4) Lớp quần hệ cây bụi lùn và các quần xã có liên quan, (5) Lớp quần hệ
trảng cỏ [58].
1.2.2. Nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam
Chevalier (1918) nhà khoa học người Pháp, là người đầu tiên đã đưa ra một
bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân
loại thảm thực vật rừng nhiệt đới châu Á đầu tiên trên thế giới).Theo bảng phân
loại này, rừng miền Bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu [54].
Năm 1943, kỹ sư lâm học người Pháp Maurand đã chia Đông Dương thành
3 vùng thảm thực vật: Thảm thực vật Bắc Đông Dương, thảm thực vật Trung
Đông Dương, thảm thực vật Nam Đông Dương và vùng trung gian và đã liệt kê
ra 8 kiểu thảm thực vật trong 3 vùng đó. Đến năm 1956 có bảng phân loại mới
tại Hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat, 1975), Thái Văn Trừng
đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm sinh thái,
đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù hợp nhất
trên quan điểm sinh thái cho đến nay [47].
Phan Kế Lộc (1985) dựa trên bảng phân loại của UNESCO 1973, cũng đã xây
dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ: Rừng
rậm,rừng thưa, trảng cây bụi, trảng cây bụi lùn, trảng cỏ. Trong đó, dưới lớp quần hệ
là phân quần hệ, nhóm quần hệ, quần hệ và thấp nhất là dưới quần hệ [26].
Vũ Tự Lập và cộng sự (1995) cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành
và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm. Dựa vào mối quan hệ
giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau [24].
Thái Văn Trừng (1998) khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt
Nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc
ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên yếu tố
phát sinh hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành
5 kiểu thảm với 14 kiểu quần hệ [49].
Nguyền Thế Hưng (2003) cũng dựa trên nguyên tắc phân loại của UNESCO
7
(1973) đã xây dựng được 8 kiểu thảm thực vật khác nhau đặc trưng cho loại hình
thảm cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) [20].
Lê Ngọc Công(2004) cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973)
đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ: rừng rậm,
rừng thưa, trảng cây bụi và trảng cỏ. Ở đây, những trạng thái thứ sinh (trảng cỏ,
trảng cây bụi và rừng thưa) được hình thành do tác động của con người [14].
Nhìn chung, những nghiên cứu về thảm thực vật của các tác giả hầu hết
chỉ tập trung nghiên cứu ở một vùng cụ thể và phần lớn các tác giả đều dựa vào
khung phân loại của UNESCO (1973) trong nghiên cứu của mình.
- Châu Úc có khoảng 21.000 loài trong đó Đông Bắc Úc: 6.000 loài; Tây
Nam Úc: 5.500 loài, Lục địa Úc: 5.000 loài; Taxman và Tân Tây Lan: 4.500 loài
(theo Lê Trọng Cúc, 2002) [15].
Năm 1965, Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng 300.000 loài thực
vật Hạt kín; 5.000 - 7.000 loài thực vật Hạt trần; 6.000 - 10.000 loài Quyết thực
vật; 14.000 - 18.000 loài Rêu; 19.000 - 140.000 loài Tảo; 15.000 - 20.000 loài
Địa y; 85.000 - 100.000 loài Nấm và các loài thực vật bậc thấp khác (theo Lã
Đình Mỡi và cs, 1998) [34].
Long Chun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh
thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đã nhận xét: khi
nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có
60 họ, 134 chi và 167 loài (theo Ma Thị Ngọc Mai, 2007)[32]).
Tổng số loài thực vật đã biết hiện nay trên thế giới có nhiều biến động và
chưa cụ thể tùy từng tác giả do chưa nghiên cứu và điều tra đầy đủ. Các nhà thực
vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện nay có trên thế giới vào khoảng
500.000 - 600.000 loài.
* Ở Việt Nam
Công trình đầu tiên là bộ thực vật chí Đại cương Đông Dương của các tác
giả người Pháp là Lecomte H. và Humbert (1907-1952) đã thống kê thực vật ở
Đông Dương có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch. Đây là công trình rất có ý
nghĩa và nguồn tư liệu quý trong nghiên cứu hệ thực vật (theo Thái Văn Trừng,
1978) [48].
Phan Kế Lộc (1970) trong công trình “Bước đầu thống kế số loài đã biết
9
ở Việt Nam” cho thấy hệ thực vật Bắc Việt Nam có 5.609 loài thuộc 1.660 chi
và 240 họ [25].
Hoàng Chung (1980) trong nghiên cứu về đồng cỏ đã thống kê được thành
phần loài trong đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam có 233 loài thuộc 54 họ và
loài; tuổi 14 có 53 loài [41].
Phạm Hoàng Hộ (2003) trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê số loài hiện
có hệ thực vật là 10.500 loài [17]
Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống
kê các loài thực vật bậc cao có mạch gồm 160 họ, 468 chi, 654 loài chủ yếu là
cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều loài cây gỗ quý…[14].
Vũ Thị Liên (2005) khi nghiên cứu một số kiểu thảm thực vật ở Sơn La
đã thu được 452 loài thuộc 326 chi, 153 họ [31].
Đinh Thị Phượng (2010) đã điều tra được 298 loài, 224 chi thuộc 81 họ
thực vật bậc cao có mạch trong một số kiểu thảm ở Võ Nhai và Thành phố Thái
Nguyên, tỉnh Thái Nguyên[37].
Trần Thị Hân (2016) nghiên cứu đặc trưng các hệ sinh thái rừng ven biển
tỉnh Quảng Trị đã điều tra được 299 loài thuộc 219 chi, 98 họ [16].
Đặng Quốc Vũ (2016) đã công bố số loài thực vật ở khu BTTN Xuân Liên
(Thanh Hóa) có 1.560 loài thuộc 701 chi, 170 họ của 6 ngành thực vật bậc cao
có mạch [52].
Vũ Thị Thanh Hương (2017) khi nghiên cứu đặc điểm TTV thoái hóa ở
Thành phố Cẩm Phả (Quảng Ninh) đã thống kê được 281 loài thực vật thuộc 216
chi, 78 họ [21].
Nguyễn Thanh Nhàn (2017) đánh giá tính đa dạng thực vật bậc cao có
mạch tại VQG Pù Mát (Nghệ An) đã xác định được 2.600 loài thuộc 493 chi,
204 họ, trong đó ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế lớn [35].
Nhận xét chung:
Nhìn chung, những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả hầu hết
chỉ tập trung nghiên cứu và đánh giá thành phần loài ở một vùng và khu vực cụ
thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan với điều kiện khí hậu,
địa hình. Hiện nay số lượng các công trình nghiên cứu khá đa dạng, tuy nhiên cần
11
12
Xêrêbriacốp (1964) đưa ra bảng phân loại dạng sống mang tính chất sinh
thái học hơn của Raunkiaer. Trong bảng phân loài này, ngoài những dấu hiệu
hình thái sinh thái, Xêrêbriacốp sử dụng cả những dấu hiệu như ra quả nhiều lần
hay một lần trong cả đời của cá thể bao gồm: ngành, kiểu, lớp và lớp phụ Ông
còn phân chia ra các đơn vị nhỏ hơn: nhóm, nhóm phụ, tổ và các dạng đặc thù.
Bảng phân loại dạng sống cây thuộc thảo đã được lập ra lần đầu tiên bởi Canon
(1911), sau đó hàng loạt bảng đã được đưa ra với cây thảo, đặc điểm phần dưới
đất đóng vài trò rất quan trọng trong phân chia dạng sống, nó biểu thị mức độ
khắc nghiệt khác nhau của môi trường sống, là phần sống lâu năm của cây. Vì
thế việc sử dụng phần dưới đất để làm tiêu chuẩn phân chia dạng sống sẽ giúp
cho ta đánh giá đúng hơn kiểu thảm, những đặc điểm đặc trưng của môi trường
(theo Hoàng Chung, 2008)[11].
* Ở Việt Nam
Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng
cỏ Bắc Việt Nam đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu
đồng cỏ savan, thảo nguyên [10].
Lê Trần Chấn (1990) khi nghiên cứu hệ thực vật tại Lâm Sơn (Hòa Bình)
ông đã theo phương pháp của Raunkiaer để phân chia thực vật thành 5 nhóm
dạng sống. Tuy nhiên, tác giả dùng thêm một số kí hiệu để chi tiết hóa một số
dạng sống (a: kí sinh; b: bì sinh; c: dây leo; d: cây chồi trên thân thảo). Ông
không xếp phương thức sống kí sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản mà coi đây
là những dạng phụ [7].
Phan Nguyên Hồng (1991) khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật ở rừng
ngập mặn Việt Nam ông đã chia 7 dạng sống cơ bản: Cây gỗ (G), cây bụi (B),
cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B), kí sinh (K),
bì sinh (B) [18].
Bộ NN&PTNT (2000) trong cuốn Tên cây rừng Việt Nam đã phân loại
Ngoài ra, theo hướng này còn nhiều nhà khoa học khác cũng phân chia
dạng sống thực vật ở các vùng khác nhau của Việt Nam.
Như vậy, nghiên cứu dạng sống là một trong những nội dung quan trọng
khi nghiên cứu hệ thực vật, vì dạng sống thể hiện sự thích nghi của thực vật với
14
môi trường sống. Khi nghiên cứu hệ thực vật ở một khu vực cụ thể, các tác giả
đều phân chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm dạng sống tùy theo
tiêu chí của từng tác giả. Trong số đó thì hệ thống phân của Raunkiaer vừa đảm
bảo tính khoa học vừa dễ áp dụng vì nó dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực
vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, là kết
quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên.
1.4. Nghiên cứu về yếu tố địa lý
Phân tích các yếu tố địa lý thực vật là một trong những yếu tố quan trọng
khi nghiên cứu một hệ thực vật hay bất kỳ một khu hệ sinh vật nào để hiểu bản
chất cấu thành của nó làm cơ sở cho việc định hướng bảo tồn giống vật nuôi, cây
trồng. Tập hợp các loài của một hệ thực vật có khu phân bố ít nhiều giống nhau
tập hợp lại thành một yếu tố địa lý. Tập hợp tất cả các yếu tố địa lý của hệ thực
vật (tính %) là phổ các yếu tố địa lý của hệ thực vật đó.
* Trên thế giới
Nghiên cứu về yếu tố địa lý thực vật được Gagnepain (1926, 1944) trình
bày trong hai công trình là: Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương và
Giới thiệu về hệ thực vật Đông Dương. Theo tác giả hệ thực vật Đông Dương có
các yếu tố sau: Yếu tố Trung Quốc 33,8%; Yếu tố Xích kim - Himalaya
18,5%; Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác (15,0%); Yếu tố đặc hữu bán đảo
Đông Dương 11,9%; Yếu tố nhập nội và phân bố rộng (20,8%).
Pócs Tamas (1965) đã phân tích, sắp xếp các loài thực vật ở Bắc Việt Nam
và hệ thực vật Bắc Việt Nam gồm các yếu tố nhưsau:
Từ các vùng nhiệt đới khác
7,36%
- Nhân tố khác
4,83%
Ôn đới
3,27%
Thế giới
1,56%
- Nhân tố nhập nội, trồng trọt
3,08%
Tổng:
100%
* Ở Việt Nam
Thái Văn Trừng (1978) cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số
loài đặc hữu. Nhưng khi thảo luận tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ Nam Trung
Hoa và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và căn cứ vào khu phân bố
hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã nâng tỷ lệ các loài đặc hữu bản địa