Ý nghĩa của phê bình sinh thái trong giảng dạy và học tập ở trường phổ thông hiện nay - Pdf 50

Ý nghĩa của phê bình sinh thái trong giảng dạy và
học tập ở trường phổ thông hiện nay

1


A. PHẦN MỞ ĐẦU

I. Lí do chọn đề tài
1. Thực tiễn : Trong các nhà trường hiện nay việc giáo dục bảo vệ môi
trường sinh thái hiện nay đang bị coi nhẹ. Việc giáo dục bảo vệ môi trường sinh
thái chưa có một tiết học cụ thể hay một môn học về sinh thái học mà chỉ thông
qua kiến thức tích hợp ở một số bộ môn. Chính vì vậy hiện nay học sinh còn có
cách hiểu rất mơ hồ về môi trường sinh thái và tác động của môi trường sinh
thái đối với đời sống con người. Phê bình văn học sinh thái ra đời từ gợi ý của
sinh thái học, khoa nghiên cứu mối quan hệ tương sinh, tương tác giữa các sinh
thể cùng mối quan hệ của chúng với môi trường vật chất xung quanh. Song phê
bình sinh thái thịnh hành ở nhiều nước phương Tây hiện nay tập trung vào vấn
đề dùng tư tưởng sinh thái để đánh giá văn học trong việc biểu hiện vấn đề sinh
thái, khẳng định vài trò của tự nhiên, xét lại quan điểm con người là trung tâm
từ thời Khai sáng
2. Khoa học:Phê bình sinh thái (tiếng Anh: ecocriticism) là ngành nghiên
cứu về văn học và môi trường từ quan điểm liên ngành, ở đó các học giả văn
học phân tích các văn bản minh họa cho các mối quan tâm về môi trường và
khảo sát các cách thức khác nhau qua đó văn học giải quyết chủ đề tự nhiên.
Một số nhà phê bình sinh thái tập trung hướng đến những cách giải quyết khả
hữu dành cho sự sửa chữa các thực trạng môi trường hiện nay, mặc dù không
một nhà phê bình sinh thái nào đồng thuận về mục đích, phương pháp luận và
phạm vi của phê bình sinh thái. Ở Mỹ, phê bình sinh thái thường được gắn liền
với Hội Nghiên cứu văn học và môi trường (ASLE), đây là nơi gặp gỡ và trao
đổi giữa các học giả quan tâm đến các vấn đề về môi trường ở trong văn học.

chuyên luận Sinh thái học của văn học đề xuất thuật ngữ “sinh thái học văn
học” (literary ecology). Năm 1978, William Rueckert trên tạp chí Bình luận
3


Iowa số mùa đông, đã đăng một bài viết với tiêu đề Văn học và sinh thái
học: một thực nghiệm phê bình sinh thái. Năm 1985, Hội ngôn ngữ học hiện đại
cho xuất bản một cuốn sách do Frederick O. Waage chủ biên mang tên Dạy văn
học môi trường: tài liệu, phương pháp và nguồn tư liệu.Năm 1989 trong Đại hội
“Hội văn học miền Tây” nước Mĩ, có hai vị học giả đề xướng phê bình sinh
thái. Một vị là Cheryll Glotfelty với báo cáo Hướng tới phê bình văn học sinh
thái. Năm 1998, tại Luân Đôn, tuyển tập Viết về môi trường: phê bình sinh thái
và văn học do nhà phê bình người Anh R. Kerridge và N. Sammells chủ biên
được xuất bản. Năm 2002, Tạp san nghiên cứu văn học uy tín Nghên cứu văn
học liên ngành năm đó cũng liên tục giới thiệu hai kì đặc san về phê bình sinh
thái: Thi học sinh thái và Phê bình văn học sinh thái. Roosendaal chủ biên
tuyển tập Xanh hóa nghiên cứu văn học: văn học, luân lí và môi trường, Dries
cho xuất bản chuyên luận Phê bình sinh thái: sáng tạo tự ngã và hoàn cảnh
trong văn học Indian Mĩ và môi trường.
III. Đối tượng, nhiệm vụ
1. Đối tượng : Là những văn bản văn học sinh thái. Phê bình sinh thái
thông qua nghiên cứu văn bản văn học nhìn nhận lại quan niệm văn hóa, mô
hình phát triển xã hội, phương thức sống của nhân loại đã ảnh hưởng như thế
nào đến quan hệ giữa con người và tự nhiên, đã làm cho trái đất đứng trước
nguy cơ sinh tồn nghiêm trọng như thế nào, đồng thời hướng tới việc xây dựng
một mô hình con người chung sống hài hòa với môi trường tự nhiên. Như vậy,
Phê bình sinh thái đã đặt văn học vào vấn đề gốc rễ của tồn tại văn hóa nhân
loại, tìm hiểu, đánh giá giá trị của văn học trong cái nhìn nhân văn rộng lớn, tìm
kiếm bản chất văn hóa xã hội và nội hàm tâm lí văn hóa dân tộc.
2. Nhiệm vụ: Phê bình sinh thái có nhiệm vụ chủ yếu mang giá trị đặc

quan đến xây dựng tâm thức xanh và ý nghĩa thực tiễn của nó. Giáo dục môi
trường trong dạy học nghị luận xã hội thuận lợi bao nhiêu thì trong dạy đọc hiểu
5


tác phẩm văn chương lại khó khăn bấy nhiêu, bởi, trong chương trình ngữ văn
hiện hành vắng bóng những tác phẩm đề cập trực diện đến những hiểm họa,
nguy cơ về môi trường, sinh thái; và thiếu hẳn tri thức về lý thuyết phê bình
sinh thái nên giáo viên sẽ lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh khai thác
những chủ đề liên quan tới vấn đề này.
Phê bình sinh thái lấy chủ nghĩa Mác Lên nin làm cơ sở lí luận. Bên cạnh đó,
dẫn nhập những quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái-đạo đức sinh thái
vào đọc văn học. Cơ sở lý luận dựa vào thiên nhiên. Nghĩa là đối với những
mẫu thích hợp, không cần phải lý luận, phân tích gì nhiều, chỉ cần lấy cách thiên
nhiên để đánh giá một bản chất đúng/sai, tốt/xấu.
Chính vì những lí do trên mà em chọn đề tài " ý nghĩa của chủ nghĩa
phê bình sinh thái trong giảng dạy và học tập ở trường phổ thông".

B. NỘI DUNG

I. Khái niệm phê bình sinh thái:
6


Sinh thái (oikos) theo nghĩa gốc tiếng Hy Lạp cổ là nhà ở, nơi cư trú, bất
kì một sinh vật sống nào cũng cần nơi cư trú của mình. Thuật ngữ sinh thái học
(ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm oikos (chỉ nơi sinh sống) và
logos (học thuyết, khoa học).
Thuật ngữ “sinh thái học” chỉ thật sự ra đời vào năm 1869 do nhà sinh vật học
người Đức Ernst Haecker đưa ra. Ông là người đầu tiên đặt nền móng cho môn

người và thế giới tự nhiên và ngược lại.
Sự tác động của con người vào thế giới tự nhiên làm cho tự nhiên biến
đổi sự biến đổi đó là tốt hoặc xấu đi. Ví dụ con người chặt phá rừng bừa bãi làm
cho sự biến đổi khí hậu tăng lên hiện tượng hạn hán lũ lụt ngày càng tăng cao,
hay sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu làm tăng lượng khí thải gây hiệu ứng
nhà kính khiến cho băng ở hai cực tan chảy làm cho hiện tượng nước biển dâng
cao gây lũ lụt và ngập ở những vùng đất trũng trên Trái Đất. Mới đây nhất là sự
quy hoạch không tính toán kĩ càng của hệ thống thủy điện ở nước cộng hòa dân
chủ nhân dân Lào đã khiến đập thủy điện bị vỡ làm ngập chìm hàng nghìn ngôi
nhà trong nước tác động xấu đến đời sống người dân. Bên cạnh những tác động
xấu của con người đến thế giới tự nhiên con người cũng đã có những tác động
tích cực đến thế giới tự nhiên làm cho cuộc sống của con người ngày càng tươi
đẹp hơn. Ví như con người trống cây gây rừng làm cho tự nhiên thay đổi tăng
lượng oxi trong không khí làm giảm xói mòn đất hạn chế lũ lụt…hay con người
quy hoạch hệ thống thủy lợi khơi thông dòng chảy làm thoát nước ở những
vùng ngập úng, tiến hành thau chua rửa mặn…
Chính vì sự tác động của con người đến thiên nhiên làm cho thiên nhiên đã tác
động xấu đến con người và làm tổn hại cuộc sống của con người. Đó là hiện
tượng bão tố, lũ lụt, sạt lở đát xảy ra và làm thay đổi cuộc sống của con người
khắp mọi nơi trên trái đất, có những nơi hiện tượng nắng nóng gia tăng đột biến
như ở châu Phi có khu vực Xahara hay châu Á là khu vực Tây Nam Á… và
8


nhiều nơi khác hiện tượng nắng nóng cục bộ xảy ra khiến cho hàng nghìn
người già bị đột tử. Hay hiện tượng lũ lụt ngày càng gia tăng ở khu vực Nam Á
và Đông Nam Á khiến cho hàng nghìn người chết, nhà cửa bị lũ cuốn trôi…
Trong các nhà trường hiện nay sự phát triển của giáo dục hướng đến giáo dục
các kĩ năng giá trị cuộc sống của con người đặc biệt là mối quan hệ giữa con
người với thiên nhiên. Về sinh thái trong nhà trường phổ thông đã được đề cập

vào thế giới nội tâm nhân vật thì chủ nghĩa phê bình sinh thái càng hiện rõ lên
trong tác phẩm đồng thời nó cũng thế hiện thái độ của nhà văn đối với thiên
nhiên. Chính thái độ của nhà văn đã là người xây dựng nên hình tượng nhân vật.
Không những thông qua hệ thống nhân vật trong tác phẩm chủ nghĩa phê
bình sinh thái trong văn học còn thể hiện mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên trong tác phẩm văn học. Mối quan hệ đó chính là tác động qua lại của con
người với thế giới tự thiên. Sự tác động này là tốt hoặc xấu nhưng mỗi sự tác
động là biểu thị thái độ tốt hoặc xấu, đi cùng với tác động là hậu quả mà nó
mang lại. Ở đây phê bình sinh thái quan tâm đến các giá trị cốt lõi mà mẹ thiên
nhiên mang lại cho con người. Các giá trị này thể hiện qua việc làm và hành
động của con người đến thế giới tự nhiên. Đó chính là sự hòa đồng gắn bó hay
là sự mâu thuẫn thù ghét, chính điều này làm phát sinh mâu thuẫn trong mối
quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên. Trong các công trinh nghiên cứu
khoa học hay trong các sáng tác văn học của các nhà văn mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên được xác lập qua hệ thống thái độ biểu thị cảm xúc của nhân
vật, thông qua xây dựng hình tượng nhân vật trong tác phẩm thể hiện ý thức của
người viết đối với thiên nhiên đồng thời thể hiện các giá trị của tác phẩm. Hầu
như các tác phẩm văn học ở nước ta hay phương Tây đều nói đến mối quan hệ
của con người với tự nhiên thông qua cách này hay cách khác, thể hiện một
cách trực tiếp hay gián tiếp. Tất cả các sáng tác thông qua mối quan hệ giữa các
thành phần với tự nhiên như : đất , nước, khí hậu….đều ảnh hưởng đến sáng tác
văn học thông qua cả ảnh hưởng từ tự nhiên đến xã hội và từ xã hội ảnh hưởng
đến tinh thần và đời sống nhà văn.
10


Cho đến nay con người chúng ta là một sinh thể nhỏ bé trong vũ trụ và
thế giới tự nhiên, mỗi sinh thể nhỏ bé này làm sao chống lại được sức mạnh từ
thiên nhiên điều này cho thấy loài người vẫn phải phụ thuộc vào tự nhiên như:
khai thác rừng, lấy nước, khai thác dầu mỏ , khí tự nhiên….Điều này cho thấy

làm cho môi trường sinh thái xuống cấp , vì thế trong văn học ngày nay đã nhấn
mạnh đến vai trò ý thức cá nhân trong việc bảo vệ giữ gìn môi trường sinh thái.
Và ở nước ta hiện nay có một số tác giả đã nhận thức rõ và đi sâu vào mối quan
hệ văn học và sinh thái. Năm 2017 có một tác phẩm nghiên cứu phê bình văn
chương không gây ồn ào nhưng lại được dư luận chú ý và được tái bản, và điều
này cũng có thể xem như một hiện tượng xuất bản trong lĩnh vực vốn được coi
nặng tính hàn lâm và thường khô khan, khó hiểu. Một điều lạ là tên gọi của nó
nghe qua lại quá ư báo chí nhưng tựu trung vẫn là thời sự văn chương, hay ít ra
cũng nhắc nhở về một thời sự mà văn chương nước ta cần hướng đến. Đó là
cuốn “Rừng khô, suối cạn, biển độc... và văn chương”, phê bình sinh thái của
TS Nguyễn Thị Tịnh Thy.Cuốn sách hơn 500 trang với 4 chương chính. Chương
một: “Các khái niệm tiền đề”, chương 2: “Văn học sinh thái”, chương 3: “Phê
bình sinh thái” và chương 4: “Thực hành nghiên cứu”.
Các tác phẩm văn học này có ý nghĩa lớn trong việc thức tỉnh nhân tâm
của mỗi con người trong bối cảnh thực tại của nước ta hiện nay: lũ lụt thiên tai
ngày càng xảy ra nhiều hơn, thực phẩm bẩn ngày càng nhiều, môi trường ngày
càng ô nhiễm …Điều này làm cho chúng ta suy nghĩ làm thế nào để nâng cao ý
thức bảo vệ môi trường sinh thái và sự đa dạng sinh học trong cuộc sống. Vì
vậy mỗi con người và đặc biệt là văn học cần nâng cao ý thức thức tỉnh nhân
tâm của mỗi con người trong xã hội chúng ta hiện nay.
Như vậy sinh thái có vai trò quan trọng trong toàn bộ đời sống xã hội của
loài người nhiệm vụ của mỗi giáo viên hiện nay ở trong trường phổ thông rất
quan trọng đặc biệt là các giáo viên dạy bộ môn khoa học xã hội trong đó có bộ
môn ngữ văn. Khi dạy học chúng ta cần giáo dục dục ý thức bảo vệ môi trường
sinh thái thông qua các bài học cụ thể đặc biệt là bộ môn văn học, bộ môn mở
12


cửa tâm hồn của mỗi học sinh để làm được điều này mỗi giáo viên cần tăng
cường sử dụng kiến thức tích hợp liên môn, tăng cường phối hợp giữa các bộ

viết đương thời không chủ đích đứng từ lập trường sinh thái như hiện nay, thì
chúng ta vẫn có thể đứng trên lập trường của mình để phát hiện và tìm ra ý
nghĩa hiện đại trong những văn bản xa xưa.. Mặc dù phần lớn hình tượng thiên
nhiên trong thơ ca trung đại đều được dùng như một ẩn dụ, một phương tiện để
kí thác tâm trạng, cái cớ để thể hiện tình cảm chủ quan của nhà thơ, nhưng ý
thức sinh thái hàm ẩn trong đó là một thực tế khách quan không thể phủ nhận.
Có không ít tác phẩm coi thiên nhiên là đối tượng thẩm mĩ độc lập, nhà thơ
chiêm nghiệm vẻ đẹp tự nhiên của nó. Trong những vần thơ của những nhà Nho
ở ẩn sống với cảnh điền viên, với chốn lâm tuyền như Nguyễn Trãi, Nguyễn
Bỉnh Khiêm chúng ta dễ dàng tìm thấy tư tưởng ca ngợi quan hệ hài hòa thân
thiết giữa con người và tự nhiên. Sự giao cảm giữa con người và vũ trụ trong
văn học trung đại Việt Nam và Trung Quốc đã tạo nên cảnh giới tươi đẹp. Như
vậy, trong văn học trung đại, tư tưởng sinh thái chưa được hình thành một cách
tự giác và có hệ thống, nhưng họ đã thể hiện ra niềm tôn kính, ngưỡng mộ, tình
yêu đối với tự nhiên. Ngay thời hiện đại cũng có rất nhiều tác phẩm văn học
không phải văn học sinh thái theo đúng nghĩa của nó, nhưng lại bao hàm trong
đó ý thức sinh thái rất mạnh mẽ, chẳng hạn như Ông già và biển cả của
Hemingway hay Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư. Những tác phẩm như
vậy hoặc ít hoặc nhiều đều có cống hiến nhất định cho việc thức dậy ý thức sinh
thái trong người đọc. Đối với những tác phẩm này, chúng ta có thể tạm thời
không sử dụng mô hình đọc truyền thống và những kết luận đã có, mà đọc lại
nó từ góc độ sinh thái.
Khi phân tích văn bản văn học, Phê bình sinh thái chú ý đến hai loại cảm hứng:
cảm hứng ngợi ca và cảm hứng phê phán. Hiển nhiên văn học sinh thái thường
phản ánh mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên, và thường là thông qua phản tư
và phê phán quan hệ mâu thuẫn này để thức tỉnh ý thức sinh thái, chỉ ra nguy cơ
của việc con người chiếm đoạt tự nhiên, khai thác vô độ tự nhiên chính là tự đào
14




mới mới thật sự thay đổi thi pháp cũ đề trở thành một thể thơ hiện đại, vừa có
hình thức tự do vừa thể hiện cá tính. Văn học 1932 – 1945 đã thay đổi căn bản
hệ thống thể loại văn học theo quỹ đạo văn học hiện đại của thế giới. Sau năm
1945 việc chuyển đổi cả nền văn học sang văn học tuyên truyền là đặc điểm nổi
bật nhất của văn học cách mạng Việt Nam sau 1945. Các thể loại văn học bề
ngoài vẫn là thơ ca, tiểu thuyết, nhưng tính chất đã khác. Từ trong nền văn học
tuyên truyền ấy Tố Hữu nổi lên như một mẫu mực của văn học tuyên truyền,
thơ trữ tình chính trị sử thi. Suốt ba mươi năm chiến tranh không có một hiện
tượng đổi mới thơ. Tiểu thuyết trở thành sử thi. Phóng sự biến thành kí sự. Thể
loại tản văn biến mất.Tùy bút là thể loại dễ bị phê phán. Tùy bút của Nguyễn
Tuân kí sự hóa. Tập thơ Xuân Diệu phần “riêng” gây tranh cãi, phần “chung”
thường sống sượng, ít thành công.

IV. Ý nghĩa của phê bình văn học sinh thái trong nhà trường
Phê bình văn học sinh thái, đề cập đến việc xây dựng tâm thức trong văn hóa
đọc xanh. Văn hóa đọc xanh là tôn chỉ cốt yếu của thẩm mỹ hóa đời sống, văn
hóa đọc xanh và xây dựng tâm thức xanh là hai mặt của một chỉnh thể thẩm mỹ
hóa cuộc sống. Xuất phát từ nguyên lý của văn hóa đọc xanh, trên cơ sở lĩnh hội
những phạm trù có liên quan đến thẩm mỹ sinh tồn, thẩm mỹ cuộc sống và thẩm
mỹ sinh thái chỉnh thể của con người, tiến hành làm rõ mối quan hệ biện chứng
giữa văn hóa đọc xanh và xây dựng tâm thức xanh, tầm quan trọng của tâm thức
xanh đối với thẩm mỹ sinh thái chỉnh thể, tính chất riêng biệt của xây dựng tâm
thức xanh, chuẩn mực xây dựng tâm thức xanh, xác định và chỉ ra những khái
niệm liên quan đến xây dựng tâm thức xanh và ý nghĩa thực tiễn của nó.
Tóm lại sinh thái là sự tác động qua lại của con người với thế giới tự
nhiên nhằm thể hiện một mục đích nào đó của con người. Chủ nghĩa phê bình
16



trong đó tinh thần vừa là môi trường nuôi dưỡng mọi sá0ng tạo vật chất và tinh
thần, lại vừa là sản phẩm của chính môi trường văn hóa tinh thần do con người
tạo ra. Trên cơ sở đó rà soát các hệ thống giá trị nội tại của con người, sự xung
đột của các giá trị truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, các giá trị thật và
giả tạo, cao cả và tầm thường, chân thực và hư ảo. Phương pháp nghiên cứu
chủ yếu là phương pháp xã hội học, phương pháp ghiên cứu văn hóa, kết hợp
với phương pháp nghiên cứu nội tại, bởi vì sinh thái tác động lên chỉnh thể, làm
đổi thay cả chỉnh thể văn học nói chung cũng như chỉnh thể của tác phẩm, thể
loại, phong cách văn học nói riêng.
Vận dụng quan điểm phê bình sinh thái trong giảng dạy là giáo dục cho
học sinh ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật, thực vật, thương yêu cỏ
cây, hoa lá, chim muông. Bảo vệ nước, cây cối, động thực vật. Đồng thời, giáo
dục học sinh ý thức, thói quen làm sạch môi trường sống cảu bản thân, gia đình,
xã hội.

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status