BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
ĐỖ HỒNG NHUNG
MỐI QUAN HỆ PHI TUYẾN GIỮA NỢ CÔNG
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CÁC QUỐC GIA
THU NHẬP VỪA VÀ THẤP Ở ĐÔNG NAM Á
GIAI ĐOẠN 2000 – 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
ĐỖ HỒNG NHUNG
MỐI QUAN HỆ PHI TUYẾN GIỮA NỢ CÔNG
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CÁC QUỐC GIA
THU NHẬP VỪA VÀ THẤP Ở ĐÔNG NAM Á
GIAI ĐOẠN 2000 – 2015
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN HỒNG THẮNG
Các quan điểm về nợ công .........................................................................7
1.2.
Sự tác động của nợ công đến nền kinh tế ...................................................9
1.3.
Mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế. ..................17
1.4.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1.........................................................................25
CHƯƠNG 2.
MÔ HÌNH, DỮ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............26
2.1.
Mô hình nghiên cứu .................................................................................26
2.2.
Mô tả dữ liệu nghiên cứu .........................................................................29
2.3.
Phương pháp nghiên cứu ..........................................................................33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3.........................................................................52
CHƯƠNG 4.
4.1.
ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ................................................................53
Hoàn thiện thể chế chính sách và các công cụ quản lý nợ công, chú trọng
việc xây dựng môi trường tài chính hiệu quả: ......................................................53
4.2.
Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn đầu tư ..................................55
4.3.
Chuyển đổi cơ cấu nợ sang hướng cơ cấu nợ bền vững. .........................59
4.4.
Thực hiện các chính sách nhằm điều tiết kinh tế vĩ mô ...........................60
4.5.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4: .......................................................................61
4.6.
Hạn chế của bài nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. ..................61
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu thực hiện kiểm tra mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng
trưởng kinh tế. Dựa trên chuỗi dữ liệu bảng của 7 quốc gia Đông Nam Á có thu
nhập vừa và thấp trong giai đoạn 15 năm (từ 2000 – 2015), tác giả cố gắng giải
thích một loạt các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế bao gồm tỷ lệ gia tăng
dân số, độ mở thương mại, lạm phát, quy mô chính phủ, thâm hụt ngân sách và đặc
biệt là yếu tố nợ công thông qua các ước lượng khác nhau cũng như giải quyết các
vấn đề nhân quả ngược và nội sinh. Ngoài ra, tác giả còn kiểm tra các hiệu ứng
ngưỡng, mối quan hệ phi tuyến và tác động phụ trội của nợ công lên tăng trưởng
kinh tế trong điều kiện thâm hụt tài khóa khi tỷ lệ nợ ở mức thấp và khi chúng vượt
ngưỡng. Các kết quả thực nghiệm cho thấy một mối quan hệ nghịch đảo giữa tỷ lệ
nợ và tăng trưởng kinh tế khi kiểm soát các yếu tố khác quyết định đến tăng trưởng:
một sự gia tăng trung bình 10% trong tỷ lệ nợ công so với GDP dẫn đến một sự suy
giảm trong tốc độ tăng GDP thực hàng năm khoảng 0,381% mỗi năm. Việc bổ sung
biến thâm hụt tài khóa hỗ trợ thêm cho kết quả nghiên cứu về mối quan hệ tuyến
tính giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, một sự gia tăng trung bình 10% trong tỷ lệ
nợ công so với GDP dẫn đến một sự suy giảm trong tốc độ tăng GDP thực hàng
năm khoảng 0,437% mỗi năm. Đồng thời, tác giả cũng tìm thấy bằng chứng về sự
tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế (dạng chữ U
ngược), điều này càng khẳng định nợ công chỉ tác động cùng chiều đến tăng trưởng
kinh tế đến một giá trị nhất định (vào khoảng 57%GDP từ kết quả nghiên cứu) sau
đó, khi vượt qua ngưỡng này, việc gia tăng thêm nợ sẽ khiến cho tăng trưởng kinh
tế chậm lại. Đối với mẫu nghiên cứu, kết quả cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê giữa tác động của tỷ lệ thâm hụt ngân sách tính theo GDP lên tốc độ tăng
trưởng GDP. Cụ thể tốc độ tăng trưởng GDP sẽ thấp hơn trung bình là 0.406% nếu
tỷ lệ nợ chính phủ trên GDP tăng thêm 1% vào những thời kỳ nợ chính phủ đạt từ
mức 57%GDP trở lên so với thời kỳ nợ chính phủ trên GDP thấp hơn 57%. Điều
này cho thấy với 1% tăng thêm của thâm hụt ngân sách sẽ khuyếch đại mức sụt
Reinhart và Rogoff, 2009, 2010a, b; Reinhart et al, 2012;. Kumar và Woo, 2010;
Cecchetti et al, 2011;. Checherita-Westphal và Rother, 2012; Furceri và Zdzienicka,
2012 cho thấy tỷ lệ nợ công chỉ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế đến một
mức độ nhất định nhưng khi vượt qua mức này thì càng tăng nợ công càng làm suy
giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh đó, thực tế cho thấy từ năm 2000, khu vực Đông Nam Á đã có một số
những nền kinh tế phát triển nhanh trên thế giới nhưng lại tiềm ẩn những nguy cơ
gây tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế của Indonesia đã nhận
được 6 phần trăm tăng trưởng hàng năm nhưng lại thiếu hụt các cơ sở hạ tầng thiết
yếu cho sự tăng trưởng bền vững. Sự tăng trưởng đáng ghi nhận ở Philippines lại
phụ thuộc quá nhiều từ nguồn đầu tư nước ngoài. Tăng trưởng của Thái Lan đã bị
đình trệ trong bối cảnh bất ổn chính trị, và nó hiện đang trong một bong bóng tín
dụng cổ điển. Việt Nam vẫn tạo ra sự tăng trưởng ấn tượng nhưng đối mặt với các
vấn đề ngân hàng, lạm phát cao, và tham nhũng phổ biến. Như vậy, việc tiếp tục
4
duy trì chính sách thâm hụt ngân sách cùng với tỷ lệ nợ công trên GDP ngày càng
tăng vẫn còn tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế? Và liệu có tồn tại ngưỡng
nợ công mà khi đó tỷ lệ nợ công trên GDP bắt đầu ảnh hưởng tiêu cực đến tăng
trưởng kinh tế tại các quốc gia này không?
Để giải quyết vấn đề trên, tác giả đã thực hiện đề tài “Mối quan hệ phi tuyến giữa
Nợ Công và Tăng Trưởng Kinh Tế các quốc gia có thu nhập vừa và thấp ở Đông
Nam Á Giai Đoạn 2000 – 2015” làm đề tài luận văn của mình nhằm kiểm tra tác
động của những yếu tố đến tăng trưởng kinh tế bên cạnh yếu tố nợ công cũng như
kiểm định lại mức độ mà ở đó tỉ lệ nợ công tác động đến tăng trưởng kinh tế thực sự
ở nhóm 7 quốc gia Đông Nam Á.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Với mục đích tìm hiểu mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và vấn đề tăng trưởng
(2000), Levine et al. (2000), Patillo et al. (2002), và Patillo et al. (2004). Bên cạnh
đó, tác giả cũng sử dụng các phương pháp hồi quy khác như Pooled OLS, FEM,
REM để xem xét mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tỷ lệ nợ công trên GDP và tốc độ tăng trưởng GDP của 7 quốc gia có thu nhập vừa
và thấp ở Đông Nam Á, bao gồm Indonesia, Malaysia, Philipines, Thái Lan, Việt
Nam, Lào, Campuchia trong giai đoạn từ 2000 – 2015.
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Bài nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế của
các quốc gia có thu nhập vừa và thấp ở Đông Nam Á giai đoạn 2000 – 2015 để xem
xét các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế bên cạnh yếu tố nợ và xác định
ngưỡng nợ công tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Tác giả cũng xem xét
thêm về việc thi hành chính sách tài khóa của chính phủ trong bối cảnh tỷ lệ nợ cao,
vượt ngưỡng sẽ tác động như thế nào đến tăng trường kinh tế của các quốc gia có
thu nhập vừa và thấp ở Đông Nam Á. Cùng với nhận định về tình hình nợ công tại
nhóm quốc gia trong mẫu nghiên cứu để đề xuất, kiến nghị các chính sách nợ công
nhằm tăng hiệu quả sử dụng nợ công.
6
6. Bố cục bài nghiên cứu
Phần còn lại của bài nghiên cứu được chia thành 4 chương, trong đó:
Chương 1: Tổng quan lý thuyết. Giới thiệu về khái niệm về nợ công và những yếu
tố dùng để đo lường tăng trưởng kinh tế trong bài nghiên cứu; trình bày mối quan
hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế theo lý thuyết và các nghiên cứu trước đây.
Chương 2: Phương pháp và kết quả nghiên cứu. Giới thiệu về bộ dữ liệu, mô hình
được sử dụng trong bài nghiên cứu; trình bày kết quả và giải thích các biến số mô
hình.
Chương 3: Trình bày kết quả nghiên cứu.
Nợ của Ngân hàng trung ương;
•
Nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn
Như vậy, nợ công theo thông lệ quốc tế nợ công, theo nghĩa rộng, là nghĩa vụ nợ
của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ của Chính phủ trung ương, các cấp chính
quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt
động do ngân sách nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước
và trong trường hợp vỡ nợ, nhà nước phải trả nợ thay). Theo nghĩa hẹp, nợ công bao
gồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ
của các tổ chức độc lập được Chính phủ bảo lãnh thanh toán.
Còn theo cách tính ở Việt Nam, Luật Quản lý nợ công năm 2009 quy định, nợ công
bao gồm nợ chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.
Theo đó, nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước
ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các
khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy
8
định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Nợ
được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng
vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh. Nợ chính quyền địa phương
là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát
hành hoặc uỷ quyền phát hành. Như vậy, có thể khái quát, nợ công là toàn bộ các
khoản vay nợ của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương tại một thời
điểm nào đó. Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nợ công, nhưng về cơ bản nợ
thời kỳ suy thoái vì người dân thường chi tiêu dựa trên kỳ vọng về thu nhập thường
xuyên chứ không phải thu nhập hiện tại và mọi chính sách đều có độ trễ nhất định.
Thay vì thực hiện chính sách tài khóa thiếu hụt, Nhà nước nên thực thi chính sách
tiền tệ hiệu quả. Còn Paul Samuelson, một nhà kinh tế học theo trường phái Keynes,
đã có những bổ sung quan trọng trong quan niệm về chính sách tài khóa của
Keynes. Ông cho rằng, để kích thích nền kinh tế vượt qua sự trì trệ, cần thiết phải
thực hiện cả chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ linh hoạt. Như vậy,
vay nợ là một cách huy động vốn tài trợ cho phát triển nhưng nếu không được quản
lý tốt sẽ gây tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Phần tiếp theo, tác giả sơ
lược về các lý thuyết và nghiên cứu về những tác động tích cực và tiêu cực của nợ
công đến nền kinh tế.
1.2.
Sự tác động của nợ công đến nền kinh tế
Nợ công có tầm ảnh hưởng đến nền kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn. Theo quan
điểm truyền thống, nợ công có tác động trong việc thúc đẩy cầu và sản lượng đầu ra
trong ngắn hạn; do việc vay nợ của chính phủ để bù đắp thâm hụt ngân sách do cắt
giảm các nguồn thu từ thuế trong khi mức chi tiêu công không thay đổi làm giảm
tiết kiệm của quốc gia và mức tích luỹ vốn, nên khuyến khích người dân tiêu dùng
nhiều hơn, số người thất nghiệp giảm đi mặc dù lạm phát có thể cao hơn (theo giả
định của lý thuyết Keynes) nhưng lại gây mất vốn và làm giảm đầu ra trong dài hạn
(theo Elmendorf và Mankiv, 1999). Quan điểm của David Ricardo, một nhà kinh tế
người Anh (1772 – 1832) lại cho rằng mức thuế cắt giảm được bù đắp bằng nợ
chính phủ sẽ không có tác động đến tiêu dùng kể cả trong ngắn hạn. Ngược lại, nó
10
làm các khoản tiết kiệm tư nhân tăng lên bởi người tiêu dùng đang chuẩn bị cho
khẩu ròng.
Như vậy: S + (T – G) = I + NX (**) Hay: T – G = I + NX – S (***)
Phương trình (***) chỉ ra rằng khi ngân sách nhà nước thâm hụt (T-G
cho chính họ do đang sở hữu trái phiếu chính phủ thì vẫn có những tác động khiến
cho các hoạt động kinh tế của người đó bị bóp méo. Dù cho Chính phủ dùng loại
thuế nào (thuế thu nhập, thuế tiêu dùng, thuế tài sản…), đánh thuế dưới hình thức
nào (trực tiếp, gián tiếp) cũng sẽ dẫn đến những sai lệch trong các hoạt động kinh tế
của một cá nhân như thay đổi hành vi tiết kiệm, tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng đến các
hoạt động kinh tế vi mô, vĩ mô khác như: sản xuất, việc làm… Bên cạnh đó, việc
tăng thuế để trả lãi vô hình chung đã tạo ra sự phân phối lại thu nhập giữa những
người nộp thuế và người sở hữu trái phiếu chính phủ, theo đó người nộp thuế chắc
chắn phải gánh chịu sự suy giảm về thu nhập, tiêu dùng hoặc tiết kiệm.
Có lập luận cho rằng nợ công có thể kích thích tổng cầu và có tác dụng tăng trưởng
tích cực trong ngắn hạn. Theo nghiên cứu của Krueger (1987), nợ công, đặc biệt là
nợ nước ngoài đóng vai trò quan trọng và có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh
tế tại các quốc gia đang phát triển. Nghiên cứu của Tokun và cộng sự (2007) cùng
với các nghiên cứu ban đầu của các nhà kinh tế học trong những thập niên 50 và 60
đã tìm thấy một lý thuyết chung về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và vấn đề tăng
trưởng kinh tế. Theo đó, việc chuyển giao hợp lý các nguồn lực nước ngoài (thông
qua các khoản vay, viện trợ và tài trợ) tại các quốc gia kém và đang phát triển sẽ
giúp bổ sung nguồn vốn thiếu hụt trong nước và chuyển đổi nền kinh tế để tạo ra
mức tăng trưởng cao hơn. Các quốc gia ở giai đoạn đầu phát triển với lượng vốn
nhỏ sẽ có những cơ hội đầu tư với tỷ suất hoàn vốn cao hơn so với các quốc gia có
nền kinh tế phát triển. Do vậy, chỉ cần các quốc gia này sử dụng vốn vay để đẩu tư
sản xuất thì tăng trưởng sẽ tăng và cho phép họ thanh toán các khoản nợ vay kịp
thời. Điều này cũng hàm ý rằng trong ngắn hạn có tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận
giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế, trong đó nợ nước ngoài là một bộ phận
quan trọng của nợ công. Do đó, hàm ý chính sách này cũng đúng với mối quan hệ
giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế. Trong nghiên cứu của mình, soludo (2001) đã
14
15
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào trong nước. Hơn nữa, kể từ khi chính phủ
vay chủ yếu bằng cách phát hành chứng khoán, có kỳ hạn, lãi suất và tổng chi phí
của các khoản nợ tài chính có tác động đáng kể đến nền kinh tế, trong tương lai của
doanh nghiệp và phúc lợi xã hội cho không chỉ hiện tại mà còn cả thế hệ tương lai.
Theo Martin (2009), nợ công cũng có thể được xem như là phương tiện của việc trì
hoãn thuế theo cách đó làm giảm biến dạng hiện tại. Vì vậy, chính phủ có hai lựa
chọn để giải quyết các nhu cầu tài chính do thâm hụt ngân sách. Đầu tiên là hệ
thống thuế, một mức thuế cao hơn dẫn đến tiêu thụ tại thời điểm đó thấp hơn, do đó
làm chậm sự tăng trưởng kinh tế. Trong khi đó, khoản nợ tài chính đặt áp lực lên
các thế hệ tương lai và khả năng của họ để duy trì sự ổn định kinh tế và tài chính.
Người dân không chỉ sẽ phải trả số tiền vay, mà còn bao gồm các chi phí liên quan
đến vay nợ, trong đó bao gồm lãi vay và chi phí quản lý nợ. Một món nợ được coi
là bền vững nếu nó được sử dụng để tạo ra tăng trưởng kinh tế và lợi ích cao hơn so
với chi phí ban đầu, nếu không sẽ gặp phải các vấn đề tài chính công khác nghiêm
trọng trong dài hạn. Vì vậy, chính phủ phải duy trì sự cân bằng giữa thuế và vốn vay
để duy trì sự ổn định kinh tế và tài chính trong một thời gian dài.
Bên cạnh những lợi ích mà việc vay nợ chính phủ mang lại thì tài chính công phải
được xử lý cẩn thận, vì trong trường hợp mức nợ quá cao, chi phí nợ trở nên cao
hơn so với lợi ích của nó sẽ bắt đầu làm suy giảm GDP tác động tiêu cực đến nền
kinh tế, trong dài hạn nợ công gây ra tác động lấn át đầu tư tư nhân và tác động tiêu
cực đến hoạt động kinh tế (Elmendorf và Mankiw, 1999). Bằng cách tăng lãi suất
dài hạn, nợ công cao hơn có thể gây lấn át đầu tư (Modigliani, 1961, Gale và
Orszag, 2003; Baldacci và Kumar, 2010). Đây không phải là kênh duy nhất mà qua
đó một gánh nặng nợ nần tài chính có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn. Sự
suy giảm số dư tài chính trong sự hiện diện của các cổ phiếu nợ công cao gây bất lợi
cho sự tăng trưởng, mặc dù thâm hụt giúp tài trợ vốn công cộng (Adam và Bevan,
2005, Saint-Paul, 1992 và Aizenman, Kletzer, và Pinto, 2007). Nói chung, điều này
lập luận rằng một cổ phiếu cao hơn ở nợ công sẽ gây ra thuế bóp méo trong tương
tăng trưởng GDP. Trong khi đó, kết quả lại không tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa
thống kê về mối quan hệ này ở nhóm các nước công nghiệp. Điều này cho thấy kết
17
quả thật thú vị khi các nước công nghiệp cho mức độ nợ công cao hơn nhưng lại
không nhất thiết phải liên quan đến tốc độ tăng trưởng GDP thấp hơn.
Ngoài ra, Vladimir Simic và Vinko Mustra (2012) thực hiện nghiên cứu khảo sát về
mối quan hệ giữa nợ (bao gồm nợ công và nợ nước ngoài) với tăng trưởng trong
khu vực Trung Đông và Đông Nam Âu. Nghiên cứu sử dụng phương pháp Fixed
effect FEM, random effect REM và GMM để phân tích dữ liệu bảng động bao gồm
mẫu của 18 quốc gia. Kết quả của cả hai tác giả đều chỉ ra sự tồn tại của mối quan
hệ có ý nghĩa thống kê giữa nợ (gồm nợ công và nợ nước ngoài) và tăng trưởng
kinh tế, với xu hướng tăng trưởng giảm khi nợ ở mức cao. Nghiên cứu khác của
Manoel Bittencourt (2012) điều tra tác động của nợ công nước ngoài lên tăng
trưởng với mẫu 9 nước châu Mỹ La Tinh, sử dụng phân tích dữ liệu bảng bằng các
phương pháp hồi quy ước lượng OLS gộp, FEM, GMM sai phân và GMM hệ thống
đã góp phần ủng hộ quan điểm cho rằng tăng trưởng kinh tế tăng khi được hỗ trợ
bởi việc giảm gánh nặng nợ nần của chính phủ, đặc biệt khi nợ đó đến từ nguồn vay
nợ nước ngoài.
1.3.
Mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế.
Để giải thích toàn diện mối quan hệ lâu dài giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, lý
thuyết “Debt overhang” ra đời và được xem như một lý thuyết nền tảng, lý thuyết
này được giải thích qua đồ thị đường cong dạng chữ U ngược. Theo Krugman
(1988) định nghĩa “debt overhang” là tình trạng số tiền dự kiến chi trả nợ sẽ giảm
dần khi dung lượng nợ tăng lên. Lý thuyết “debt overhang” cho rằng nếu nợ trong
và tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp. Bên cạnh đó, môi trường chính sách
của chính phủ cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa nợ và tăng trưởng kinh tế.