VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------------------------------
NGUYỄN THỊ THU LAN
PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ NHẬN THỨC
TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN CAO ĐẲNG,
ĐẠI HỌC Ở HẢI PHÒNG HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2018
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ÐẾN ÐỀ TÀI LUẬN ÁN................................................................................. 7
1.1. Nhóm công trình nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò chủ thể nhận
thức trong học tập của sinh viên các trường cao đẳng, đại học ........................ 7
1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu thực trạng và những vấn đề đặt ra về
vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên các trường đại học,
cao đẳng ở Hải Phòng ..................................................................................... 16
1.3. Nhóm các công trình nghiên cứu về giải pháp phát huy vai trò chủ thể nhận
thức trong học tập của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Hải Phòng ........... 24
1.4. Đánh giá những giá trị của các công trình nghiên cứu liên quan đến
đề tài và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu ................................. 36
Chƣơng 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CHỦ THỂ
NHẬN THỨC TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC,
3.3. Những vấn đề đặt ra về vai trò chủ thể nhận thức học tập của sinh
viên ở Hải Phòng ........................................................................................... 110
Chƣơng 4: GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÕ CHỦ THỂ NHẬN
THỨC TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN CAO ÐẲNG, ÐẠI
HỌC Ở HẢI PHÕNG HIỆN NAY ............................................................ 120
4.1. Đổi mới công tác giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò chủ thể nhận
thức trong học tập của sinh trên tất cả các phương diện, trong tiếp thu tri
thức, trong vận dụng và sáng tạo tri thức mới. ............................................. 120
4.2. Đổi mới chương trình đào tạo, nội dung giáo trình, phương pháp
giảng dạy - học tập và phương pháp kiểm tra, đánh giá tạo thuận lợi cho
sinh viên phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập ......................... 122
4.3 Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tạo động lực phát huy vai trò chủ
thể nhận thức của sinh viên trong học tập ..................................................... 130
4.4. Huy động nguồn lực tổng hợp, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất tạo
điều kiện thuận lợi cho sinh viên học tập, nghiên cứu, vận dụng và sáng
tạo tri thức mới .............................................................................................. 133
4.5. Nêu cao ý thức tự lực, tự cường, chủ động dấn thân, năng động và
sáng tạo của sinh viên trong học tập vì ngày mai tươi sáng ......................... 141
KẾT LUẬN .................................................................................................. 145
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA
TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .......................................... 147
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 149
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Danh sách các trường cao đẳng, đại học ở Hải Phòng ................... 91
Bảng 3.2. Động cơ thi vào trường của sinh viên cao đẳng, đại học ở
giao thông đa dạng, gồm: đường thuỷ, đường bộ, đường sắt, hàng không nối
liền các tỉnh trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và
các tỉnh phía Bắc. Điều kiện tự nhiên đó tạo thuận lợi cho Hải Phòng phát
triển đa dạng các trường cao đẳng, đại học, cung cấp nguồn lực con người đủ
số lượng, đảm bảo chất lượng đáp ứng yêu cầu của thành phố và đất nước.
Trong thời kỳ đổi mới, cùng với cả nước, giáo dục đại học ở Hải Phòng
đạt thành tựu to lớn về quy mô, chất lượng, hiệu quả. Đến năm 2009, Hải
Phòng có 20 trường cao đẳng, đại học với gần 300.000 sinh viên. Hàng năm,
giáo dục đại học Hải Phòng cung cấp cho thành phố và đất nước gần 70.000 cử
1
nhân, kỹ sư, đồng thời bồi dưỡng và nâng cao kiến thức cho hàng vạn cán bộ
quản lý cấp cơ sở đáp ứng tốt nhu cầu của thực tiễn [10].
Tuy nhiên, giáo dục đại học Hải Phòng trong những năm qua còn nhiều
hạn chế, đó là: quy mô đào tạo được mở rộng nhưng chất lượng đào tạo giảm
sút do nhiều trường chú trọng dạy chữ, dạy nghề mà ít quan tâm dạy người;
việc triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ của các trường đang trong giai đoạn
đầu, gặp nhiều khó khăn, bất cập; nội dung, quy trình đào tạo lạc hậu, chỉ coi
trọng cung cấp tri thức hàn lâm, coi nhẹ kỹ thuật thực hành. Phương pháp dạy
học của giảng viên chủ yếu là thuyết trình, “thầy nói- trò nghe, thầy đọc- trò
chép”; chưa chú trọng giáo dục kỹ năng sống, phát huy tính sáng tạo, tính tích
cực tự học, năng lực thực hành, thực tế của sinh viên; sinh viên chủ yếu học thụ
động, ỷ lại vào thầy. Trong thi cử còn tồn tại một phận sinh viên vi phạm quy
chế: quay cóp, chạy điểm, còn hiện tượng sử dụng văn bằng giả...
Quán triệt quan điểm Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa VIII (1996) là “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo
dục - đào tạo” [24, tr. 42]; quan điểm Đại hội XII của Đảng: “Giáo dục là quốc
sách hàng đầu. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo
công tác trong ngành giáo dục đã thôi thúc tác giả chọn đề tài “Phát huy vai trò
chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng
hiện nay” làm luận án tiến sĩ triết học, chuyên ngành triết học duy vật biện chứng.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và đánh giá đúng thực trạng
vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở
thành phố Hải Phòng trên ba phương diện: tiếp thu tri thức, vận dụng tri thức
và góp phần sáng tạo tri thức mới, luận án đề xuất một số giải pháp đồng bộ,
hiệu quả, có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn phát huy vai trò chủ thể nhận
thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận án tập trung giải quyết
những nhiệm vụ sau:
3
- Tổng quan các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án. Chỉ rõ
những kết quả chính đã thực hiện, những nội dung luận án tiếp tục nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò chủ thể nhận thức trong học tập
của sinh viên cao đẳng, đại học với tư cách là chủ thể nhận thức trong tiếp thu
tri thức, trong vận dụng tri thức và trong góp phần sáng tạo tri thức mới
- Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của chủ thể nhận thức trong học
tập của sinh viên ở thành phố Hải Phòng và khái quát những vấn đề đặt ra từ
thực trạng đó
- Đề xuất những giải nhằm phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập
của sinh viên cao đẳng, đại học ở thành phố Hải Phòng trong những năm tới
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp lôgíc - lịch sử.
Phương pháp lôgíc - lịch sử giúp khai thác các dữ kiện, hoàn cảnh thông
tin khoa học, tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Nhờ đó, có thể tổng
quan lịch sử vấn đề nghiên cứu, khái quát quy luật chủ thể nhận thức trong
học tập của sinh viên, phát hiện những vấn đề đặt ra và các giải pháp giải
quyết những vấn đề đó. Phương pháp lôgíc - lịch sử đặt ra yêu cầu nghiên cứu
về vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên theo lôgic: Chủ thể nhận thức trong
tiếp thu tri thức, chủ thể nhận thức trong vận dụng tri thức và chủ thể nhận
thức trong góp phần sáng tạo tri thức theo trình tự chương trình đào tạo từ
năm thứ nhất đến năm cuối (lịch sử)
- Phương pháp điều tra xã hội học được vận dụng trong xây dựng phiếu
điều tra, thu thập tư liệu, số liệu phục vụ quá trình nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp dùng để khái quát những tư liệu,
tài liệu tham khảo để tạo cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, đánh giá thực
trạng vấn đề nghiên cứu, rút ra những kết luận khoa học mới.
- Phương pháp thống kê, so sánh trong xử lý những tư liệu, số liệu thu
thập làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu.
5
5. Đóng góp mới của luận án
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về chủ thể nhận thức, vai trò chủ thể nhận
thức, phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên: chủ thể
nhận thức trong tiếp thu, vận dụng và góp phần sáng tạo tri thức mới.
- Chỉ ra những nhân tố tác động đến việc phát huy vai trò chủ thể nhận
thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng hiện nay.
- Luận án phát hiện những vấn đề nẩy sinh về vai trò chủ thể nhận thức
1.1. Nhóm công trình nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò chủ thể
nhận thức trong học tập của sinh viên các trƣờng cao đẳng, đại học
Trong hoạt động giáo dục, ở mọi thời đại, ở mức độ khác nhau, song vai
trò chủ thể nhận thức của người học luôn được quan tâm. Ý tưởng dạy coi
trọng người học, chú ý đến chủ thể nhận thức của người học có từ thời cổ đại,
đã phát triển trở thành quan điểm trong giáo dục hiện đại ngày nay.
Ở Phương Tây cổ đại, các nhà triết học nổi tiếng có những quan điểm
tiến bộ về giáo dục như: Hêraclitus (Hy Lạp, 535- 475 trước Công nguyên),
Socrate (Hy Lạp, 469- 399 trước Công nguyên), Platon (Hy Lạp, 427- 347
trước Công nguyên), Aristote (Hy Lạp, 384- 322 trước Công nguyên)… đều
hướng đến nâng cao hiệu quả giáo dục thông qua phương pháp giảng dạy tích
cực. Đặc biệt, Hêraclitus đánh giá rất cao vai trò của giáo dục là phải soi sáng để
người học tự chọn, rồi tự bước đi, nghĩa là người học phải biết tự học. Ông
khẳng định: “thực chất giáo dục là thắp lên một ngọn đuốc để soi sáng cho người
học nhận ra những con đường, tự mình chọn lấy cho mình một con đường, rồi tự
bước đi trên con đường đã chọn, dưới ánh sáng của ngọn đuốc ấy” [82, tr.112].
Cùng quan điểm với Hêraclitus, nhà triết học cổ đại Hy Lạp Socrate
nhấn mạnh đến vai trò của nội lực ở người học với phương châm: hỡi con
người, hãy tự biết mình. Theo quan điểm của Socrate, mục đích của giáo dục
không phải là cách làm cho con người ra khỏi đám đông, càng không phải
làm cho người ấy mất hút trong đám đông “mục đích của giáo dục là làm cho
con người nhận ra chính mình giữa đám đông” [82, tr. 54]. Để giúp người học
tự bộc lộ, ông đề ra phương pháp đỡ đẻ tinh thần, thường gọi là phương pháp
Socrate.
7
Theo Platon, mọi người đều phải học và học đến nơi đến chốn. Để học
hành đến nơi đến chốn thì con đường chủ yếu vẫn là tự học, tự học thường
Usinski (1824-1890), J. Dewey (1859-1952)… kế thừa, phát triển thành tư
tưởng lớn về giáo dục “giáo dục tự do”. Trong tư tưởng về giáo dục tự do có học
thuyết “lấy đứa trẻ làm trung tâm” với ý tưởng “đừng cho trẻ em khoa học, mà
phải để trẻ tự phát minh”[82, tr.19]. Các nhà giáo dục này đều hướng việc phát
huy những tiềm năng trong cá nhân con người, nhấn mạnh phương pháp học tích
cực: tự học, tìm tòi, khám phá, nỗ lực của bản thân để dành lấy tri thức.
Bàn về chủ thể nhận thức trong học tập, tác giả I.F. Kharlamop viết cuốn:
Phát huy tính tính cực học tập của học sinh như thế nào (1978), tập I, II, NXB
Giáo dục, Hà Nội. Nội dung các tập cuốn sách đều khẳng định: “tự học có vai
trò rất quan trọng trong việc nâng cao tính tích cực nhận thức và hiệu quả cho
hoạt động trí tuệ của học sinh” [55, tr. 32]. Để phát huy tính tích cực học tập
của học sinh, tác giả cuốn sách cho rằng giáo viên phải vận dụng vốn hiểu
biết, kinh nghiệm của từng học sinh và cả tập thể lớp để xây dựng bài học và
thiết kế giáo án kiểu phân nhánh. Những dự kiến của giáo viên về hoạt động
của người học và cách tổ chức các hoạt động đó. Tuỳ theo diễn biến các hoạt
động của người học trên lớp để giáo viên có thể linh hoạt điều chỉnh giờ học
phân hóa theo trình độ và năng lực của người học, tạo điều kiện để bộc lộ và
phát triển tiềm năng của mỗi cá nhân trong lớp. Thông qua các tập của cuốn
sách, I.F. Kharlamop khẳng định cách dạy tích cực, chủ động của giáo viên sẽ
là động lực phát huy tính tích cực chủ động của học sinh góp phần nâng cao
hiệu quả trong giáo dục.
Năm 1994, Raja Roy Singh - nhà giáo dục người Ấn Độ, trong cuốn
sách Giáo dục thế kỷ XX: Những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương nghiên cứu vai trò tự học của người học và đề cao vai trò chuyên gia cố vấn
của người thầy trong học tập thường xuyên và học tập suốt đời, hình thành và
phát huy năng lực tự học của người học [86, tr.54]. Người học được đặt ở vị
trí trung tâm của hệ giáo dục, vừa là mục đích lại vừa là chủ thể của quá trình
học tập. Theo tác giả, khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong thế kỷ XXI là
9
10
quy tắc, các kết luận và khái quát hóa. Nó được xây dựng trên cơ sở đổi mới
phương pháp học tập của người học xuất phát từ yêu cầu, điều kiện học tập
tích cực để xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập. Tác giả kết luận: chỉ bằng
con đường tự học và phát huy tính tích cực của người học, tăng cường nghiên
cứu, làm việc với tài liệu, dạy học nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, cải tiến
công tác tự học, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá… mới nâng cao hiệu
quả học tập. Do đó, phải coi trọng hoạt động độc lập hoặc theo nhóm (thảo
luận, làm thí nghiệm, quan sát vật mẫu, phân tích bảng số liệu…) qua đó
người học vừa được trang bị tri thức, kĩ năng mới vừa rèn luyện phương pháp
tự học, tự nghiên cứu [87].
Cùng với xu thế phát triển của thời đại, các nhà giáo dục ở các nước phát
triển còn đi sâu nghiên cứu để tối ưu hóa việc học, họ đánh giá cao vai trò tự
nhận thức trong việc học của học sinh, sinh viên. Với hướng nghiên cứu này,
các nhà giáo dục học có nhiều đóng góp cơ sở lý luận về đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng phát huy vai trò tự nhận thức của sinh viên. Tiêu
biểu trong lĩnh vực này là các nhà khoa học về giáo dục như: Smit - Man
Hetboc,Sharma, R. Ahmed… đều khẳng định tầm quan trọng của tự học trong
xã hội cạnh tranh, thời đại bùng nổ công nghệ thông tin và tri thức khoa học
như hiện nay [88], [90].
Như vậy, nghiên cứu về nhận thức và vai trò chủ thể nhận thức của người
học đã được các nhà giáo dục thế giới từ thời kỳ cổ đại đến nay quan tâm. Dù
cho các cách tiếp cận phương pháp nghiên cứu về giáo dục khác nhau, các nhà
giáo dục nổi tiếng trên thế giới đều thống nhất vai trò quan trọng chủ thể nhận
thức của người học để tiếp cận, lĩnh hội tri thức hình thành nhân cách, đồng thời
các quan điểm tiến bộ về giáo dục từ thời cổ đại là cơ sở quan trọng về đổi mới
phương pháp dạy và học trong giáo dục đại học hiện nay.
Tác giả Nguyễn Kỳ tiếp tục chủ đề vai trò chủ thể nhận thức trong học
giảng giải, uốn nắn, chứ thầy đâu có học hộ trò. Dạy, dù sao cũng chỉ là ngoại
lực tác động đến trò. Ngoại lực đó phải có sự cộng hưởng của nội lực cố gắng
của học trò. Sự cố gắng này mới đúng là tự học. Như vậy, tự học có thể xảy ra
khi có thầy, có sách, cả khi không có thầy, có sách” [107, tr.21].
12
Công cuộc đổi mới giáo dục chỉ thực sự thành công khi nhận thức về đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự lập và sáng
tạo của người học là nhận định của tác giả Nguyễn Văn Hợi trong bài: Cơ sở
lý luận của việc biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, Tạp chí
Triết học Đại học Sư phạm I Hà Nội, năm 1999… Theo tác giả, quan điểm
biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo là tư duy mới về phương
pháp giáo dục. Phương pháp này dựa vào cách thức hoạt động của người thầy
trong quá trình dạy học tác động đến người học và việc học của họ, nhằm
hướng dẫn họ học tập và giúp họ đạt mục tiêu học tập. Quá trình tự đào tạo
thực hiện trên lớp học, ở mỗi bài học, trong sự tương tác giữa thầy và trò,
giữa trò với nhau và với môi trường học tập, trong đó, trò là chủ thể chứ
không phải “người ngoài cuộc”, thầy là người tổ chức, dẫn dắt, cố vấn và tổng
hợp ý kiến để giờ học diễn ra đúng hướng, đạt mục tiêu. Thay vì chỉ tập trung
ngồi nghe thầy thuyết trình, trò sẽ được tăng cường tính tự chủ và tự lập, phát
triển khả năng tư duy, kỹ năng trình bày, hùng biện, chia sẻ, hợp tác, tổng hợp
tài liệu…, thầy nêu vấn đề, trò phải tìm cách giải quyết vấn đề đó, qua đó rút
ra cho mình những tri thức mình cần, chứ không phải thụ động tiếp thu những
kiến thức mà thầy áp đặt. Bài báo kết luận để biến quá trình đào tạo thành
quá trình tự đào tạo thành công phải chuyển đổi dần vai trò, lấy người thầy là
trung tâm sang việc lấy học trò làm trung tâm [47, tr.25-26].
Năm 1999, Tạp chí Đại học Sư phạm I Hà Nội đăng bài viết của nhóm
tác giả Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Tính nhan đề: Hiệu quả của việc dạy
tr.24-27]. Tuy nhiên, học để có hiệu quả, phương pháp dạy phải biến quá trình
dạy học thành quá trình tự học, lấy sinh viên làm trung tâm. Trong quá trình dạy
này, sinh viên được nói, được tìm hiểu, khám phá tri thức, hay được hoạt động,
được làm, tức là học trong hoạt động và bằng hoạt động.
Năm 2009, Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội đăng bài viết của
tác giả Phan Bích Ngọc với nhan đề: Tổ chức tốt việc tự học cho sinh viên
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Đại học theo hình thức tín
chỉ hiện nay [78, tr.160-164]. Theo tác giả bài báo, bản chất tự học của sinh
viên đại học là quá trình tự nỗ lực, quyết tâm, tích cực để đạt được mục tiêu
14
học tập. Đây cũng chính là điều kiện để sinh viên nâng cao chất lượng học
tập, đồng thời nâng cao chất lượng kỹ năng nghề nghiệp cho bản thân. Hiệu
quả của quá trình tự học bên cạnh thành tích học tập, sinh viên được trau dồi
những kỹ năng nghề nghiệp cần thiết, như: giải quyết vấn đề, giao tiếp, ứng
xử, làm việc nhóm, quản lí thời gian và phát triển kỹ năng mềm bằng các buổi
ngoại khóa, tham gia diễn đàn, hội thảo, công tác xã hội, công tác từ thiện…
Từ phân tích trên đây, tác giả bài báo kết luận: đối với phương thức đào tạo
theo hệ thống tín chỉ, do đặc thù của nó nên vấn đề tự học của sinh viên có vai
trò rất quan trọng.
Sử dụng phương pháp dạy học tích cực phù hợp với quá trình cấu trúc
lại chương trình đào tạo theo hướng phát triển năng lực người học là công
trình của tác giả Bùi Thị Thu Hương, đăng trên tạp chí Quản lý Giáo dục, số
72, năm 2015. Theo tác giả, phương pháp dạy học tích cực là phương pháp
giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
người học. Phương pháp này trong dạy và học chú trọng rèn luyện phương
pháp tự học, tạo cho người học lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong
mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Từ dạy và học thụ
“hiểu rõ những đặc điểm thực tiễn, thực trạng quan hệ chủ thể và khách thể
nhận thức nhằm nâng cao vai trò tích cực, chủ động sáng tạo của sinh viên
trong học tập” [101, tr. 117]. Qua đó, luận án đề xuất một số giải pháp chủ
yếu nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của sinh
viên Việt Nam hiện nay.
1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu thực trạng và những vấn đề
đặt ra về vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên các
trƣờng đại học, cao đẳng ở Hải Phòng
Các nhà Tâm lý học ở Đức như H.Hipso, M.Phorvec…đã có những công
trình nghiên cứu về thái độ, thái độ học tập và các biểu hiện của nó một cách
công phu, cụ thể. Các tác giả đã đưa ra những tiêu chí về thái độ học tập tích
cực: 1/trên lớp chú ý nghe giảng; 2/học bài và làm bài đầy đủ; 3/cố gắng vươn
lên học được nhiều; 4/không vội vàng phản ứng tiêu cực nếu có chỗ nào chưa
16
hiểu hoặc không nhất trí với bài giảng; 5/đảm bảo kỷ luật để học tốt; 6/cố
gắng đạt thành tích học tập tốt và nâng cao thành tích học tập của mình một
cách trung thực; 7/thích độc lập thực hiện nhiệm vụ học tập; 8/hăng hái nhiệt
tình trong giờ thảo luận và chữa bài tập; 9/hoàn thành nhiệm vụ học tập một
cách nghiêm túc;10/giữ gìn tài liệu học tập cẩn thận [43].
Tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc trong công trình “Cơ sở lý
luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông”, năm
1996 khi nghiên cứu thực trạng thái độ học tập của học sinh cũng đã nêu ra
các chỉ số như chú ý hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học
tập, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, đọc thêm và làm các bài tập khác,
vận dụng hay chuyển tải những gì đã học vào thực tế, hình thành và phát triển
các quan hệ với thầy, với bạn nhằm mục đích giúp bản thân học tập tốt hơn.
Có thể nói các tác giả đã thành công trong quá trình nghiên cứu thái độ học
giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh là quy luật cơ
bản, xuyên suốt quá trình dạy học, phản ánh mối liên hệ tất yếu chủ yếu và
bền vững giữa hai nhân tố trung tâm, đặc trưng cho tính chất hai mặt của quá
trình dạy học. Tác giả kết luận, để giáo dục đạt hiệu quả như mong muốn hoạt
động dạy và học phải phù hợp với quy luật hoạt động trí óc, tức là lựa chọn
theo quy luật cho phù hợp [68].
Bàn về tự học của sinh viên sư phạm, trên cơ sở hiểu được yếu tố tâm lý
tác động đến hoạt động tự học của sinh viên, tác giả Trần Minh Hằng viết
cuốn Tự học và yếu tố tâm lý cơ bản trong tự học của sinh viên sư phạm,
NXB Giáo dục Hà Nội, năm 2011. Trong cuốn sách, một số quan niệm về tự
học, những yếu tố tâm lý tác động đến hoạt động tự học của sinh viên đã được
tác giả bàn kỹ; đồng thời, trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng hoạt động tự
học của sinh viên sư phạm, đặc biệt là những hạn chế, tác giả đề xuất một số
giải pháp phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên sư phạm đáp ứng với yêu
cầu xã hội. Cuốn sách là sự lựa chọn tốt cho các giáo viên, sinh viên đang học
tại các trường sư phạm [41].
18
Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 1, năm 1994 đăng bài viết của tác giả
Đặng Vũ Hoạt nhan đề: Một số nét về thực trạng, phương pháp dạy học đại
học. Tác giả bài báo nhận định, phần lớn giảng viên các trường đại học hiện
nay nhận thức đúng tầm quan trọng về đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng
phương pháp dạy học tích cực vào quá trình soạn bài và lên lớp; sử dụng các
phương tiện dạy học mới (máy vi tính, projecto, bảng ghim, tài liệu phát
tay…) nhằm nâng cao chất lượng cho bài giảng…Tuy nhiên, thực trạng
phương pháp giảng dạy ở bậc đại học còn nhiều hạn chế: Một bộ phận giảng
viên chưa thấy được sự cần thiết của việc áp dụng phương pháp dạy- học tích;
ở khá nhiều cơ sở đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của dạy- học tích cực
Tạp chí Giáo dục số 53, năm 2003 đăng bài viết của nhóm tác giả Trần
Sinh Thành và Đặng Quang Khoa nhan đề: Phương pháp tự học là cầu nối giữa
học tập và nghiên cứu khoa học. Theo các tác giả, cùng với quá trình học tập,
nghiên cứu khoa học là hoạt động rất quan trọng ở bậc đại học. Tham gia nghiên
cứu khoa học không những giúp sinh viên phát triển tư duy đa chiều, sáng tạo
mà còn rèn luyện các kỹ năng viết, lập luận, giải quyết vấn đề… Một yếu tố
quan trọng bảo đảm thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học là khả
năng phát hiện đúng và giải quyết hợp lý những vấn đề đặt ra. Tuy nhiên, để
học tập và nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả cao, các tác giả cho rằng, sinh viên
phải thành công trong quá trình tự học, phải chủ động phát biểu, trao đổi, góp ý
và có cơ hội đưa ra chính kiến của mình; bộc lộ quan điểm, tranh luận, bảo vệ
cho quan điểm của bản thân… Từ thành công trong tự học, sinh viên sẽ có kiến
thức và phương pháp nghiên cứu khoa học. học tốt, nghiên cứu khoa học tốt sẽ
tạo cho sinh viên có thái độ tích cực trong học tập, tiềm năng nội lực học tập
của sinh viên sẽ được khơi dạy và phát huy và khi đó, sinh viên có vơ hội vận
dụng kiến thực vào thực tiễn sản xuất [99, tr.15-16].
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo theo hướng giáo dục mở,
Nguyễn Thị Bình có bài Sứ mạng giáo dục đào tạo trước yêu cầu đẩy mạnh
công nghiệp h a, hiện đại h a đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu
rộng, Tạp chí Cộng sản (787), năm 2008. Bài viết đã chỉ ra thực trạng giáo
20