Phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở hải phòng hiện nay - Pdf 50

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------------------------------

NGUYỄN THỊ THU LAN

PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ NHẬN THỨC
TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN CAO ĐẲNG,
ĐẠI HỌC Ở HẢI PHÒNG HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------------------------------

NGUYỄN THỊ THU LAN

PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ NHẬN THỨC
TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN CAO ĐẲNG,
ĐẠI HỌC Ở HẢI PHÒNG HIỆN NAY

Ngành: CNDVBC&CNDVLS
Mã số : 9 22 90 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

2.3. Những nhân tố tác động đến vai trò chủ thể nhận thức trong học tập
của sinh viên .................................................................................................... 73
2.3.1. Nhà trường ............................................................................................ 73
2.3.2. Gia đình ................................................................................................. 81


2.3.3.Bản thân.................................................................................................. 82
Chƣơng 3: VAI TRÕ CHỦ THỂ NHẬN THỨC TRONG HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở HẢI PHÕNG – THỰC
TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ................................................... 86
3.1. Khái quát chung về giáo dục đại học ở Hải Phòng .................................. 86
3.1.1. Khái lược về Hải Phòng và các trường cao đẳng, đại học ở Hải
Phòng .............................................................................................................. 86
3.1.2. Những nét đặc thù của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng chủ thể nhận thức trong học tập ...................................................................... 92
3.2. Thực trạng về vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên
đại học, cao đẳng ở Hải Phòng........................................................................ 98
3.2.1. Thực trạng vai trò chủ thể nhận thức trong học tập tiếp thu tri thức........... 98
3.2.2. Thực trạng vai trò chủ thể nhận thức trong học tập vận dụng tri thức vào
giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra, trong đó có vấn đề học tập. .......... 102
3.2.3. Thực trạng vai trò chủ thể nhận thức trong học tập góp phần hình
thành tri thức mới do kết quả vận dụng tri thức vào giải quyết những vấn
đề thực tiễn đặt ra và tham gia hoạt động tổng kết thực tiễn ........................ 108
3.3. Những vấn đề đặt ra về vai trò chủ thể nhận thức học tập của sinh
viên ở Hải Phòng ........................................................................................... 110
Chƣơng 4: GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÕ CHỦ THỂ NHẬN
THỨC TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN CAO ÐẲNG, ÐẠI
HỌC Ở HẢI PHÕNG HIỆN NAY ............................................................ 120
4.1. Đổi mới công tác giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò chủ thể nhận
thức trong học tập của sinh trên tất cả các phương diện, trong tiếp thu tri
thức, trong vận dụng và sáng tạo tri thức mới. ............................................. 120

Cao đẳng Cộng đồng (số phiếu 639) .................................................. 127


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển nền kinh tế
tri thức hiện nay, chất lượng giáo dục đại học quyết định chất lượng phát triển
bền vững của mỗi quốc gia. Bởi lẽ, giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng tạo
ra nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn vốn đặc biệt cho xã hội phát triển.
Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng chất lượng giáo dục đại học, Đại
hội IX của Đảng (4- 2001) khẳng định: "Phát triển và nâng cao chất lượng
đào tạo đại học... theo hướng đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư
duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực
nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay"
[25, tr. 203-204]. Đồng thời, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học
ghi rõ trong Luật giáo dục, năm 2005: “Phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức
tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng
tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia
nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng” [84, tr. 35].
Hải Phòng là thành phố cảng, công nghiệp, thương mại và dịch vụ du
lịch lớn ở miền Bắc nước ta, một đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống
giao thông đa dạng, gồm: đường thuỷ, đường bộ, đường sắt, hàng không nối
liền các tỉnh trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và
các tỉnh phía Bắc. Điều kiện tự nhiên đó tạo thuận lợi cho Hải Phòng phát
triển đa dạng các trường cao đẳng, đại học, cung cấp nguồn lực con người đủ
số lượng, đảm bảo chất lượng đáp ứng yêu cầu của thành phố và đất nước.
Trong thời kỳ đổi mới, cùng với cả nước, giáo dục đại học ở Hải Phòng
đạt thành tựu to lớn về quy mô, chất lượng, hiệu quả. Đến năm 2009, Hải
Phòng có 20 trường cao đẳng, đại học với gần 300.000 sinh viên. Hàng năm,

đảm dân chủ, thống nhất, chất lượng; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội
của các cơ sở giáo dục, đào tạo. Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục; đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động và sử dụng hiệu quả

2


mọi nguồn lực đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo. Phấn đấu đến năm
2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.” [31, tr.77].
Đảng bộ thành phố Hải Phòng chủ trương “Đổi mới mạnh mẽ, phát triển toàn
diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…” [95, tr. 18].
Đối với giáo dục đại học, các trường cao đẳng, đại học Hải Phòng dần chuyển
đổi hình thức đào tạo niên chế sang tín chỉ. Đào tạo theo hình thức tín chỉ khi
thời lượng giảng dạy trên lớp rút ngắn, thời gian tự học của sinh viên tăng lên
đòi hỏi người dạy phải có cách thức đào tạo phù hợp với cấu trúc chương trình
và hình thức đào tạo mới, chuyển mạnh từ chủ yếu truyền thụ kiến thức một
chiều sang phát huy năng lực và phẩm chất người học. Đặc biệt, đối với sinh
viên phải có cách học, cách nghiên cứu khoa học theo hướng chủ động, tích
cực, sáng tạo để nắm bắt tri thức của các môn học, vận dụng kiến thức vào
cuộc sống, nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn.
Trước những đòi hỏi cấp thiết trong thực tiễn chất lượng giáo dục đại học
Hải Phòng, lại được sinh ra và lớn lên ở Hải Phòng, hàng ngày trực tiếp giảng dạy,
công tác trong ngành giáo dục đã thôi thúc tác giả chọn đề tài “Phát huy vai trò
chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng
hiện nay” làm luận án tiến sĩ triết học, chuyên ngành triết học duy vật biện chứng.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và đánh giá đúng thực trạng
vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở
thành phố Hải Phòng trên ba phương diện: tiếp thu tri thức, vận dụng tri thức

của sinh viên cao đẳng, đại học ở thành phố Hải Phòng, từ đó đề xuất giải
pháp phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng,
đại học trong tiếp thu tri thức, trong vận dụng tri thức và trong góp phần sáng
tạo tri thức mới
- Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu vai trò chủ thể nhận thức
trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng
- Phạm vi về thời gian: Luận án nghiên cứu vấn đề nâng cao vai trò chủ
thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng từ
năm 2011 đến nay (Từ Đại hội Đảng XI đến nay)

4


4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
giáo dục, giáo dục đại học, về vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên trong
học tập.
Luận án cũng kế thừa kết quả nghiên cứu có giá trị của các nhà khoa
học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp lôgíc - lịch sử.
Phương pháp lôgíc - lịch sử giúp khai thác các dữ kiện, hoàn cảnh thông
tin khoa học, tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Nhờ đó, có thể tổng
quan lịch sử vấn đề nghiên cứu, khái quát quy luật chủ thể nhận thức trong
học tập của sinh viên, phát hiện những vấn đề đặt ra và các giải pháp giải
quyết những vấn đề đó. Phương pháp lôgíc - lịch sử đặt ra yêu cầu nghiên cứu

trong học tập, trên cơ sở đó góp phần thiết thực về cải tiến và đổi mới phương
pháp giảng dạy và học tập ở các trường cao đẳng, đại học ở nước ta hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể phục vụ cho học tập, đào tạo và
nghiên cứu về vai trò của sinh viên với tư cách là chủ thể nhận thức trong học
tập tiếp thu tri thức, vận dụng và sáng tạo tri thức mới.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận án
gồm 4 chương, 14 tiết.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về vai trò chủ thể nhận thức trong học
tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng
Chương 3: Vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao
đẳng, đại học ở Hải Phòng - thực trạng và vấn đề đặt ra
Chương 4: Giải pháp phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập
của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng trong những năm tới

6


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ÐẾN
ÐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Nhóm công trình nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò chủ thể
nhận thức trong học tập của sinh viên các trƣờng cao đẳng, đại học
Trong hoạt động giáo dục, ở mọi thời đại, ở mức độ khác nhau, song vai
trò chủ thể nhận thức của người học luôn được quan tâm. Ý tưởng dạy coi
trọng người học, chú ý đến chủ thể nhận thức của người học có từ thời cổ đại,
đã phát triển trở thành quan điểm trong giáo dục hiện đại ngày nay.
Ở Phương Tây cổ đại, các nhà triết học nổi tiếng có những quan điểm
tiến bộ về giáo dục như: Hêraclitus (Hy Lạp, 535- 475 trước Công nguyên),

không thể có kết quả [82].
Ở phương Đông, Khổng Tử (551- 479 TCN) dành một cuộc đời 50 năm
dạy học, gắn bó với học trò và có nhiều quan niệm sâu sắc về giáo dục. Thừa
nhận có mệnh trời (Thiên mệnh), thiên mệnh chi phối cuộc sống của người và
vạn vật, song theo Khổng Tử, con người có giáo dục, tự giáo dục có thể cải
thiện được mệnh trời. Trong giáo dục, Khổng Tử sử dụng hệ thống các
phương pháp phong phú, linh hoạt, sinh động, trong đó ông dùng phương
pháp gợi mở, kích thích suy nghĩ của người học, đối thoại giữa thầy và trò
nhằm phát huy năng lực tư duy độc lập, sáng tạo của người học. Ông không
đặt ra câu hỏi cho học trò trước mà đòi hỏi học trò phải chủ động đặt câu hỏi
trước: “nếu học trò không tự đặt câu hỏi trước, Khổng Tử sẽ không dạy”[82,
tr.58]. Phương châm dạy học của Khổng Tử là: “Biết mà học không bằng
thích mà học, thích mà học không bằng vui mà học” [82, tr.59]. Điều này rất
phù hợp với phương pháp tạo động cơ trong học tập, gây hứng thú cho người
học trong dạy học hiện đại.
Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm, coi trọng chủ thể nhận
thức người học của Commeski được các nhà giáo dục như: Jean Jacques
Rousseau (1712- 1778) , Pestalozi (1746-1827), Disterver (1790-1886),

8


Usinski (1824-1890), J. Dewey (1859-1952)… kế thừa, phát triển thành tư
tưởng lớn về giáo dục “giáo dục tự do”. Trong tư tưởng về giáo dục tự do có học
thuyết “lấy đứa trẻ làm trung tâm” với ý tưởng “đừng cho trẻ em khoa học, mà
phải để trẻ tự phát minh”[82, tr.19]. Các nhà giáo dục này đều hướng việc phát
huy những tiềm năng trong cá nhân con người, nhấn mạnh phương pháp học tích
cực: tự học, tìm tòi, khám phá, nỗ lực của bản thân để dành lấy tri thức.
Bàn về chủ thể nhận thức trong học tập, tác giả I.F. Kharlamop viết cuốn:
Phát huy tính tính cực học tập của học sinh như thế nào (1978), tập I, II, NXB

sinh viên, đồng chủ biên Hoàng Anh và Đỗ Thị Châu về chủ thể nghiên cứu,
học tập của sinh viên. Theo các tác giả cuốn sách: Quá trình dạy học thành
công của giáo viên có quan hệ biện chứng với quá trình tự học của sinh viên.
Vì vậy, thước đo hiệu quả của phương pháp dạy học là kết quả của tự học
“cốt lõi của học tự học và khi xem xét đến mối quan hệ giữa dạy và học thì
dạy chỉ là ngoại lực, còn tự học là nhân tố quyết định đến bản thân người học
- nội lực” [1, tr. 99]. Nhưng quá trình dạy cũng có ý nghĩa rất lớn và ảnh
hưởng trực tiếp đến quá trình học. Do vậy, trò là chủ thể, trung tâm, tự mình
chiếm lĩnh tri thức, chân lý bằng hành động của mình, tự phát triển bên trong.
Thầy là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học. Người thầy
giỏi là người dạy cho trò nâng cao năng lực tự nhận thức tự học. Người trò
giỏi là người từ năng lực được nhận thức biết tự học sáng tạo suốt đời.
Công trình Tự học như thế nào của tác giả N.A.Rubakin, NXB Thanh
niên, 2004 - khẳng định vai trò tự học góp phần nâng cao tính tích cực hoạt
động trí tuệ, chủ động trong việc lập kế hoạch ngay từ đầu cho cả chương
trình học tập. Từ cách đặt vấn đề: thế nào là người có học thức, tác giả phân
tích rõ mối liên hệ giữa việc tự học và đặc tính riêng của từng người. Theo tác
giả, tự học tốt nhất là đọc sách, nhưng đọc sách phải như thế nào, chọn sách
ra sao. Đó là những câu hỏi, mà cũng là câu trả lời mà qua đó tác giả giúp
người đọc những kinh nghiệm để tự học hiệu quả. Tác giả cho rằng: Quá trình
nắm kiến thức mới không thể tiến hành bằng việc học thụ động, học thuộc các

10


quy tắc, các kết luận và khái quát hóa. Nó được xây dựng trên cơ sở đổi mới
phương pháp học tập của người học xuất phát từ yêu cầu, điều kiện học tập
tích cực để xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập. Tác giả kết luận: chỉ bằng
con đường tự học và phát huy tính tích cực của người học, tăng cường nghiên
cứu, làm việc với tài liệu, dạy học nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, cải tiến

tập bậc giáo dục phổ thông vừa là sự khởi đầu cho một giai đoạn mới - nghiên
cứu chuyên sâu vào một lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp nhất định. Hoạt
động học tập của sinh viên không thể tách rời hoạt động nhận thức để khám
phá tri thức, chiếm lĩnh tri thức và sáng tạo tri thức, qua đó phát triển các
năng lực. Ngay trong quá trình học tập ở phổ thông, học sinh vừa là khách thể
của quá trình giảng dạy nhưng lại là chủ thể của hoạt động học tập thì trong
môi trường giáo dục đại học, sinh viên lại càng phải thể hiện rõ nét hơn vai
trò chủ thể nhận thức trong học tập và nghiên cứu. Mức độ thể hiện vai trò
chủ thể trong học tập phản ánh tính tích cực học tập của sinh viên. Nói cách
khác, tính tích cực học tập của sinh viên thể hiện vai trò chủ thể nhận thức
trong hoạt động học tập [57].
Nguyễn Cảnh Toàn, tác giả của công trình Quá trình dạy - tự học, NXB
Giáo dục, Hà Nội, 1997 phân tích đặc điểm của quá trình dạy học, về phương
pháp tự học với những luận giải sâu sắc. Nội dung cuốn sách đề cập hai quá
trình là dạy của giáo viên và học của sinh viên thực chất là kinh nghiệm, trải
nghiệm cả cuộc đời miệt mài phấn đấu tự học và dạy học của chính tác giả.
Theo tác giả, tự học là quá trình tự mình động não, tự mình sử dụng các năng
lực trí tuệ và có khi cả năng lực cơ bắp cùng các phẩm chất cá nhân của mình,
rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một
lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến nó thành sở hữu của mình. Theo tác giả:
“Tự học thường được hiểu là học với sách, không có thầy bên cạnh. Nhưng
hiểu như vậy là hạn hẹp. Ngay cả khi có thầy bên cạnh, thì thầy cũng chỉ
giảng giải, uốn nắn, chứ thầy đâu có học hộ trò. Dạy, dù sao cũng chỉ là ngoại
lực tác động đến trò. Ngoại lực đó phải có sự cộng hưởng của nội lực cố gắng
của học trò. Sự cố gắng này mới đúng là tự học. Như vậy, tự học có thể xảy ra
khi có thầy, có sách, cả khi không có thầy, có sách” [107, tr.21].

12



13


Tiếp tục chủ đề này, năm 2003, Phạm Mạnh Hà có bài Đổi mới phương
pháp dạy học ở bậc đại học, Tạp chí Giáo dục (17) [39, tr.5]. Bài viết chỉ ra
sự cần thiết phải thay đổi phương pháp giảng dạy truyền thống đang phổ biến
hiện nay, đồng thời làm nổi bật những ưu điểm của phương pháp giảng dạy
mới – tạm gọi là các phương pháp giảng dạy tích cực. Để trở thành một
phương pháp mà yếu tố tích cực trở thành nét đặc trưng thì phải thực sự xem
người học là trung tâm, là chủ thể của hoạt động “học”. Sinh viên được
khuyến khích tư duy độc lập và sáng tạo, được chú trọng phát triển kỹ năng
và xây dựng thái độ làm việc tích cực, tích cực tham gia vào các hoạt động,
chủ động tìm kiếm kiến thức, rèn luyện kỹ năng cũng như điều chỉnh thái độ
trong quá trình làm việc với nhau
Tác giả Nguyễn Kỳ trong bài: Biến quá trình dạy học thành quá trình tự
học (2006), Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 2 - nghiên cứu một trong những
phương pháp giáo dục quan trọng ở bậc đại học là dạy phương pháp tự học.
Theo quan điểm của tác giả: “Học là quá trình nghiền ngẫm, đọc đi đọc lại,
nhắc đi nhắc lại để ghi nhớ, để bắt chước, để hiểu, để làm” hoặc “Học, cốt lõi
là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ yếu là tự thể hiện và biến
đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lý và
biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong của con người mình” [58,
tr.24-27]. Tuy nhiên, học để có hiệu quả, phương pháp dạy phải biến quá trình
dạy học thành quá trình tự học, lấy sinh viên làm trung tâm. Trong quá trình dạy
này, sinh viên được nói, được tìm hiểu, khám phá tri thức, hay được hoạt động,
được làm, tức là học trong hoạt động và bằng hoạt động.
Năm 2009, Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội đăng bài viết của
tác giả Phan Bích Ngọc với nhan đề: Tổ chức tốt việc tự học cho sinh viên
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Đại học theo hình thức tín
chỉ hiện nay [78, tr.160-164]. Theo tác giả bài báo, bản chất tự học của sinh

Hình thành kỹ năng tự học cho sinh viên – nhu cầu thiết yếu trong đào tạo
ngành sư phạm, Tạp chí Khoa học số 3, năm 2016. Bài viết khá thành công
trong việc chỉ ra những vấn đề lý luận về tự học, tự bồi dưỡng kỹ năng tự học.

15


Tự học là quá trình con người tự giác, tích cực tiếp thu hệ thống tri thức,
những kinh nghiệm từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ, nhằm
hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày
càng hoàn thiện. Theo quan niệm này, người thầy được xem như là chuyên gia
của việc học, có nghĩa là người thầy phải biết rèn luyện khả năng tự học cho sinh
viên. Để làm được điều đó, trước tiên chính bản thân người thầy giáo phải có kỹ
năng tự học. Vì vậy bồi dưỡng kỹ năng tự học cho sinh viên sư phạm là một việc
cần thiết và có ý nghĩa to lớn trong đào tạo [103, tr.10-16].
Đề tài: Quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức với việc phát huy
vai trò chủ thể trong học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay, luận án tiến sĩ
chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của
Nguyễn Tiến Thủ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm
2001. Trên cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách thể
nhận thức của triết học Mác- Lênin, luận án nghiên cứu tính đặc thù của quan
hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức trong học tập của sinh viên nhằm
“hiểu rõ những đặc điểm thực tiễn, thực trạng quan hệ chủ thể và khách thể
nhận thức nhằm nâng cao vai trò tích cực, chủ động sáng tạo của sinh viên
trong học tập” [101, tr. 117]. Qua đó, luận án đề xuất một số giải pháp chủ
yếu nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của sinh
viên Việt Nam hiện nay.
1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu thực trạng và những vấn đề
đặt ra về vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên các
trƣờng đại học, cao đẳng ở Hải Phòng

đất nước. Theo Thủ tướng, một trong những nội dung quan trọng để nâng cao
chất lượng giáo dục đại học là phải phát huy tính tích cực học tập của sinh
viên thể hiện tính tích cực của cá nhân trong hoạt động nhận thức. Việc phát
huy tính tích cực của sinh viên liên quan mật thiết đến các yếu tố của bản thân
người học như: ý thức về mục tiêu học tập; nhu cầu, hứng thú nhận thức trong
quá trình học tập; phong cách học tập và một số yếu tố khác bên ngoài tác
động đến hoạt động học tập của sinh viên [34].

17


Dạy và học hợp quy luật hoạt động trí c là công trình của tác giả
Nguyễn Hữu Lượng, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002, tập trung bàn
về quy trình dạy và học, chỉ ra đặc thù của nghề dạy học và những yếu tố cần
thiết thúc đẩy quá trình dạy và học hiệu quả hơn. Theo tác giả, dạy và học là
một quá trình vận động và phát triển không ngừng theo những qui luật riêng.
Đó là, qui luật tính qui định của xã hội với các thành tố của quá trình dạy học;
quy luật thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động
học của học sinh; quy luật thống nhất biện chứng giữa dạy học và sự phát
triển trí tuệ của học sinh; quy luật thống nhất dạy học và giáo dục nhân cách
và quy luật thống nhất giữa mục đích, nội dung, phương pháp và cách thức tổ
chức dạy học. Trong các quy luật nêu trên, quy luật thống nhất biện chứng
giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh là quy luật cơ
bản, xuyên suốt quá trình dạy học, phản ánh mối liên hệ tất yếu chủ yếu và
bền vững giữa hai nhân tố trung tâm, đặc trưng cho tính chất hai mặt của quá
trình dạy học. Tác giả kết luận, để giáo dục đạt hiệu quả như mong muốn hoạt
động dạy và học phải phù hợp với quy luật hoạt động trí óc, tức là lựa chọn
theo quy luật cho phù hợp [68].
Bàn về tự học của sinh viên sư phạm, trên cơ sở hiểu được yếu tố tâm lý
tác động đến hoạt động tự học của sinh viên, tác giả Trần Minh Hằng viết

Qua thực tế nghiên cứu cho thấy các em học sinh phổ thông cần dành nhiều
thời gian để tự học, tự nghiên cứu nhằm nâng cao kiến thức nhưng lại gặp rất
nhiều khó khăn trong việc lựa chọn, phân loại sách để học vì nguồn tài liệu
phong phú. Nhiều học sinh không biết phải tự học như thế nào để đạt được
hiệu quả học tập cao. Tác giả bài báo kết luận, phải tăng cường năng lực tự
học sáng tạo cho học sinh là một yếu tố quan trọng góp phần vào việc nâng
cao chất lượng giáo dục phổ thông [18, tr.56-57].
Tiếp tục chủ đề dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhưng hướng tới bồi
dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tác giả Lê Công Triêm có bài: Bồi
dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên đại học, Tạp chí Giáo dục

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status