TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
NGUYỄN THỊ HÀ
MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO TRẺ 4 – 5 TUỔI
THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI
THEO CHỦ ĐỀ - CHỦ ĐỀ NGHỀ NGHIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
HÀ NỘI - 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
NGUYỄN THỊ HÀ
MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO TRẺ 4 – 5 TUỔI
THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI
THEO CHỦ ĐỀ - CHỦ ĐỀ NGHỀ NGHIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
HÀ NỘI - 2018
Nguyễn Thị Hà
MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ............................................................................ 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 3
3.1. Mục đích ..................................................................................................... 3
3.2. Nhiệm vụ .................................................................................................... 3
4. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................... 3
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 3
5.1. Phương pháp quan sát ................................................................................ 3
5.2. Phương pháp trò chuyện ............................................................................ 4
5.3. Phương pháp thực nghiệm tác động........................................................... 4
5.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động .......................................... 4
6. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 4
PHẦN 2: NỘI DUNG ....................................................................................... 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN........................................... 5
1.1. Cơ sở lí luận ............................................................................................... 5
1.1.1. Từ và vấn đề mở rộng vốn từ .................................................................. 5
1.1.1.1. Từ ......................................................................................................... 5
1.1.1.2. Vốn từ ................................................................................................... 5
1.1.1.3. Vấn đề mở rộng vốn từ ........................................................................ 6
1.1.2. Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non .......................................................... 7
1.1.2.1.Vốn từ xét về mặt số lượng ................................................................... 8
1.1.2.2. Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại .......................................................... 9
1.1.2.3. Khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ mầm non .................................... 10
1.1.2.4. Sự phát triển vốn từ của trẻ ................................................................ 11
1.1.3. Đặc điểm tâm lý của trẻ 4- 5 tuổi .......................................................... 11
3.3.5. Giáo án thực nghiệm ............................................................................. 27
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................ 35
3.1. Kết luận .................................................................................................... 35
3.2. Kiến nghị .................................................................................................. 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 37
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,
đặt nền tảng đầu tiên cho việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.
Những kĩ năng mà trẻ tiếp thu được ở chương trình giáo dục mầm non sẽ là
bước đi đầu tiên, là tiền đề của trẻ trên con đường học hành cũng như trong
cuộc sống sau này. Chương trình giáo dục mầm non ở Việt Nam luôn trú
trọng phát triển toàn diện cho trẻ ở các mặt : nhận thức, thể chất, ngôn ngữ,
tình cảm – xã hội và thẩm mỹ. Trong số đó thì lĩnh vực phát triển ngôn ngữ là
một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của nghành giáo dục mầm
non. Lê- nin đã từng viết “ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất
của con người”. Thật vậy, trong cuộc sống con người, trong sự phát triển của
xã hội loài người ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tư duy, là công cụ để
biểu đạt tư tưởng, tình cảm giúp trẻ phát triển hài hòa và toàn diện.
Một trong những thành công của giáo dục mầm non là cho trẻ sử dụng
được thành thạo tiếng mẹ đẻ của mình trong đời sống hàng ngày. Bởi vậy mà
vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ rất được các nhà giáo dục quan tâm song
do điều kiện từng địa phương, từng vùng miền mà ngôn ngữ của trẻ chỉ phát
triển tương đối chứ chưa chính xác và đồng đều. Nhiều trẻ chưa phát âm rõ
câu, nói ngọng, nói không đủ câu, vốn từ nghèo nàn….dẫn đến việc diễn đạt
câu từ, thể hiện ngữ điệu của trẻ kém. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến
việc tiếp thu bài và tham gia các hoạt động khác. Do đó việc mở rộng vốn từ ,
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việc sử dụng trò chơi trong dạy học không phải là vấn đề mới được đặt
ra mà ngay từ đầu thế kỷ XX, nhà tâm lý học Thụy Sỹ J.Paget đã rất quan tâm
đến phương pháp này “thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành hoạt động
học tập”.
Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả quan tâm đến việc sử dụng phương
2
pháp này trong từng môn học cụ thể. Đó là PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết với
cuốn sách “ giáo dục mầm non những vấn đề lý luận và thực tiễn”, hay “ Tâm
lý học trẻ em lứa tuổi mầm non”,v.v.. Trong những cuốn sách này tác giả đã
đề cập đến vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với sự phát triển ngôn
ngữ của trẻ một cách khái quát. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu
cụ thể cách thức xây dựng nội dung chương trình, và phương pháp tổ chức trò
chơi đóng vai theo chủ đề qua đó phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo nói chung
và trẻ mẫu giáo nhỡ nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm giàu vốn từ cho trẻ 4- 5 tuổi và tích lũy tư liệu cho việc giảng dạy
về phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ.
3.2. Nhiệm vụ
Nghiên cứu cơ sở lý luận về từ, mở rộng vốn từ, trẻ 4- 5 tuổi và trò chơi
đóng vai theo chủ đề. Nghiên cứu thực trạng việc mở rộng vốn từ của trẻ 4- 5
tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề- chủ đề nghề nghiệp ở trường
mầm non. Từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm mở rộng vốn từ cho trẻ và
thực nghiệm tác động các biện pháp đã đề xuất vào quá trình mở rộng vốn từ
cho trẻ trẻ 4- 5 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề- chủ đề nghề
nghiệp.
6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận và kiến nghị thì phần nội dung
còn có hai chương gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Biện pháp
4
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Từ và vấn đề mở rộng vốn từ
1.1.1.1. Từ
Từ là vấn đề được nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm và tìm hiểu. Cho
đến nay, đã có khoảng 300 định nghĩa về từ. Ở đây chúng tôi dựa trên quan
điểm về từ tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu.
“Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang
những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định,
tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt”.
1.1.1.2. Vốn từ
Vốn từ của một ngôn ngữ là “tổng số và hệ thống toàn bộ từ và cụm từ
cố định của ngôn ngữ đó”. Mỗi một ngôn ngữ phát triển có một khối lượng từ
phong phú có thể lên tới hàng chục vạn từ. Vốn từ vựng của một ngôn ngữ
bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ không đồng nhất và có đặc trưng khác
nhau. Trong vốn từ vựng của bất kì ngôn ngữ nào cũng tồn tại những từ mới.
Với mỗi cá nhân, vốn từ không tỉ lệ thuận với vốn từ trong ngôn ngữ
chung của cả cộng đồng mà nó phụ thuộc vào sự phát triển trí tuệ, nhận thức,
văn hóa của mỗi cá nhân. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lí học thì
vốn từ của những người có trình độ văn hóa cao là khoảng 6000 – 9000 từ,
vốn từ, hiểu nghĩa của từ và hình thành cách sử dụng từ trong các tình huống
giao tiếp cụ thể. Trẻ chỉ lĩnh hội nghĩa của từ khi nào từ được sử dụng trong
câu, trong lời nói. Vì vậy, công tác phát triển vốn từ cần được tiến hành chặt
chẽ với việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc ở trẻ. Xem xét quá trình hình thành
và phát triển vốn từ ở trẻ, ta có thể thấy được trẻ lĩnh hội nghĩa cụ thể của từ
và nội dung khái niệm của từ, nó có liên quan đến quá trình nhận thức của trẻ;
đồng thời, trẻ còn lĩnh hội vốn từ như là một yếu tố của lời nói như cách sử
6
dụng từ, dùng từ thay thế, dùng từ có mức độ khác nhau, dùng từ trái nghĩa,
đồng nghĩa…cách sử dụng từ trong câu.
Phát triển vốn từ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện
của trẻ. Lĩnh hội vốn từ là điều kiện quan trọng để phát triển trí tuệ và để giải
quyết nhiệm vụ tích lũy và chính xác hóa biểu tượng, hình thành khái niệm,
phát triển tư duy. Vốn từ nghèo nàn ảnh hưởng đến giao tiếp của trẻ. Cùng
với việc phát triển vốn từ, chúng ta thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức và
thẩm mỹ.
Do đó, công tác phát triển vốn từ là hoạt động giáo dục có chủ định, có
kế hoạch nhằm giúp trẻ lĩnh hội vốn từ hiệu quả.
1.1.2. Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, học tập và vui chơi. Ngôn ngữ giữ vai
trò quyết định sự phát triển của tâm lý trẻ em. Bên cạnh đó ngôn ngữ còn là
phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát triển về đạo
đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hóa. Trong đó vốn từ là
nền móng để phát triển ngôn ngữ, mà ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong
sự phát triển về trí tuê của trẻ. Vốn từ được sử dụng trong lời nói được coi là
một phương tiện tác động rất tinh tế trong hệ thống xây dựng môi trường sư
phạm có định hướng, bởi trong ngôn ngữ nói không chỉ chứa thông tin mà
chiếm ưu thế, còn tính từ và các loại từ khác còn ít sử dụng. Trẻ 5 tuổi có thể
sử dụng được từ 2500 từ đến 2600 từ, còn trẻ 6 tuổi có khoảng 3000 từ đến
4000 từ, trong đó tính từ và các loại từ khác đã chiếm một tỉ lệ cao hơn.
Theo thống kê của Đinh Hồng Thái, ở năm thứ 3 trẻ đã sử dụng được
trên 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ, tính từ và các từ loại khác rất ít danh
từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các con vật gần gũi như: mèo, chó,
chim,..động từ chỉ hoạt động gần gũi của trẻ và những người xung quanh
như: ăn, uống, ngủ,…Trẻ 4 tuổi có thể nắm được xấp xỉ 700 từ. Ưu thế vẫn
thuộc về danh từ và động từ. Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của
8
trẻ. Từ 5- 6 tuổi vốn từ của trẻ tăng bình quân đến 1033 từ, tính từ và các loại
từ khác chiếm một tỉ lệ cao hơn.
Số lượng vốn từ của trẻ do các nhà khoa học nghiên cứu là khác nhau,
tuy nhiên đó là sự chênh lệch không lớn: bởi vì vốn từ của trẻ còn phụ thuộc
vào các yếu tố khác nhau như sự tiếp xúc với những người xung quanh, trình
độ của bố mẹ…
1.1.2.2. Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại
Cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ là một tiêu chí để đánh giá chất
lượng vốn từ. Số lượng từ loại càng nhiều bao nhiêu thì càng tạo điều kiện
cho trẻ diễn đạt thuận lợi bấy nhiêu. Các loại từ xuất hiện dần dần trong vốn
từ của trẻ. Ban đầu chủ yếu là danh từ, sau đó động từ và tính từ và các loại từ
khác xuất hiện muộn hơn.
Theo nhà nghiên cứu Lưu Thị Lan:
Lứa tuổi
Từ loại/ tỉ lệ(%)
Danh từ
đủ các loại từ. Tuy nhiên tỉ lệ danh từ và tính từ cao hơn nhiều so với các loại
từ khác: Danh từ chiếm 38%; động từ chiếm 3%; còn lại là tính từ 6,8%; Đại
từ 3,1%; phó từ 7,8%; tình thái từ 4,7%; quan hệ từ và số từ còn ít xuất hiện
(số từ 2,5%; quan hệ từ 1,7%).
Giai đoạn 5- 6 tuổi cũng là giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ
loại trong vốn từ của trẻ. Tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi nhường chỗ cho tính
9
từ và các loại từ khác tăng lên: Tính từ đạt tới 15%; quan hệ từ tăng lên đến
5,7%; còn lại là các loại khác.
1.1.2.3. Khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ mầm non
Khả năng hiểu nghĩa của từ là một quá trình đi từ hình ảnh cảm giác
đến sự khái quát ý nghĩa.
Theo Fedorenko (Nga), ở trẻ em có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của
từ:
- Mức độ zêro( không): Cuối tuổi lên một, đầu tuổi lên hai, trẻ tương
ứng tên gọi với một người cụ thể (Bà, Hùng, bàn, bát…) để chỉ một vật cụ
thể, riêng biệt (nghĩa biểu danh).
- Mức độ thứ nhất của sự khái quát: Cuối tuổi lên hai, trẻ nắm được
mức độ thứ nhất của sự khái quát, tức là tên gọi chung của đối tượng cùng
loại (đồ vật, hành động, tính chất): “ Bóng” chỉ một quả bóng bất kì, “Búp bê”
chỉ một con búp bê bất kì nào ( nghĩa biểu niệm ở mức độ thấp).
- Mức độ thứ hai của sự khái quát: Trẻ nắm được mức độ thứ hai của sự
khái quát, tức là tên gọi chung của những sự vật không cùng loại: “Quả” có
thể chỉ bất kì loại quả nào đó ( quả cam, đu đủ, táo..); “Xe” có thể chỉ bất kì
loại xe nào (xe ô tô, xe đạp…). Cam, đu đủ, chuối: mức độ thứ nhất của sự
khái quát; Qủa: mức độ thứ hai của sự khái quát.
- Mức độ thứ ba của sự khái quát: Trẻ khoảng năm, sáu tuổi có thể nắm
60
72
Số từ trung
515
724
890
1023
bình
Theo nghiên cứu của Casouy (1977), Dollaghan (1985) trẻ 18 tháng
mới biết được khoảng 50 từ nhưng đến khi 3- 6 tuổi đã có thể tích lũy được
8000- 14000 từ, trung bình 5- 8 từ/ngày.
Điều đó cho thấy nếu trẻ em ở nước ta được đến trường sớm và được
các cô giáo có trình độ đạt chuẩn chăm sóc và giáo dục thì chắc chắn ngôn
ngữ sẽ tạo điều kiện căn bản cho trẻ vào lớp một.
1.1.3. Đặc điểm tâm lý của trẻ 4- 5 tuổi
Để xử lý tình huống xảy ra trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ là cả
một nghệ thuật, nhất là khi trẻ em còn ở độ tuổi thơ dại. Chính vì vậy để vận
11
1.2. Cơ sở thực tiễn
* Thực trạng việc dạy và học ở trường mầm non Hùng Vương trong việc
mở rộng vốn từ cho trẻ 4- 5 tuổi.
Kết quả điều tra về vốn từ của trẻ mẫu giáo nhỡ được thể hiện qua bảng 1.
Bảng 1: Tóm tắt kết quả khảo sát các từ loại trong lời nói của trẻ 4- 5
tuổi
Số lượng từ
Tỉ lệ(%)/109 trẻ
Danh từ
231
30%
Động từ
209
26%
Tính từ
55
6,2%
Đại từ
nói: Anh đền em đi).
Trẻ thường nhầm lẫn các màu sắc:
Màu xanh có cháu nói là màu vàng.
Màu đỏ có cháu nói màu hồng.
Màu nâu có cháu gọi là màu đen.
Qua hai tháng thực tập, tuy không nhiều nhưng được trực tiếp giảng
dạy và quan sát giờ tổ chức hoạt động chơi trò chơi đóng vai theo chủ đề ở
trường mầm non Hùng Vương em đã thấy được thực trạng việc mở rộng vốn
từ cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là ở trẻ 4- 5 tuổi. Dưới đây em xin đưa ra những
khó khăn và thuận lợi ảnh hưởng đến việc thực hiện mở rộng vốn từ thông
qua trò chơi đóng vai theo chủ đề.
* Những thuận lợi:
Những điều kiện bên ngoài tác động không nhỏ đến sự thành công
trong tổ chức hoạt động chơi của trẻ tại trường mầm non.
Thứ nhất, đội ngũ giáo viên có thời gian giảng dạy lâu năm, có kinh
nghiệm và có tinh thần trách nhiệm cao, yêu thương chỉ bảo tận tình cho trẻ.
Thứ hai, trẻ là con em thành phố nên có khả năng nhận thức nhanh, trẻ
năng động, sáng tạo.
Thứ ba, cơ sở vật chất của trường có nhiều thuận lợi như: phòng học
khép kín, có đàn, tranh ảnh, đồ dùng, đồ chơi đầy đủ,.v.v..
Hơn nữa, Ban giám hiệu nhà trường sát sao trong việc quản lý, kiểm tra
chuyên môn giáo viên. Với những thuận lợi đó cùng với những nỗ lực của các
giáo viên và của trẻ đã đưa trường mầm non Hùng Vương- Phúc Yên- Vĩnh
14
Phúc lên vị trí xứng đáng là trường chuẩn quốc gia.
Bên cạnh những thuận lợi trên, giáo viên ở trường mầm non Hùng
Vương gặp phải những khó khăn như
nội dung và các mối quan hệ ( quan hệ thực và quan hệ chơi ), có hoàn cảnh
tưởng tượng. Tất cả các thành tố này liên quan mật thiết với nhau, bổ sung
cho nhau. Nếu thiếu một trong hai thành tố kể trên thì lúc ấy không còn là trò
chơi đóng vai theo chủ đề nữa.
Trò chơi đóng vai theo chủ đề mang tính tự nguyện, tính sáng tạo, tính
tự lập cao hơn so với một số trò chơi khác.
2.1.3. Vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với trẻ mẫu giáo
Những phẩm chất tâm lý và những đặc diểm nhân cách của trẻ mẫu
giáo được phát triển mạnh mẽ nhất là trong hoạt động vui chơi.
a. Hoạt động vui chơi ảnh hưởng mạnh tới sự hình thành tính chủ định
của quá trình tâm lý. Nếu đứa trẻ không chú ý và nhớ những điều kiện của trò
16
chơi thì nó sẽ hành động tự do dẫn đến nguy cơ bị các bạn cùng chơi không
chơi cùng. Để trò chơi được thành công buộc đứa trẻ phải tập trung chú ý và
ghi nhớ một cách chủ định.
b. Sự phát triển tư duy
Trong hoạt động vui chơi, đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ
phải nhập vai và thực hiện các vai chơi với vật thay thế, trong khi hành động
với vật thay thế trẻ suy nghĩ về đồ vật thực. Trẻ phải dựa vào các hình ảnh đã
biết để thực hiện vai chơi của mình.
Ví dụ: Cô giáo thường có các hoạt động như: dạy trẻ đọc thơ, dạy hát,
múa…Từ đó hành động của trẻ bắt đầu rút gọn và mang tính khái quát và
chuyển dần vào trong đầu. Trẻ bắt chước những việc làm của cô giáo.
c. Sự phát triển tưởng tượng
Tưởng tượng là một quá trình nhận thức, xây dựng hình ảnh mới dựa
vào những hình ảnh đã biết.
Trong quá trình chơi trò chơi đóng vai theo chủ đề trẻ phải thực hiện
những chủ đề thu hút đông trẻ tham gia chơi và trong khi chơi trẻ hòa mình
vào các vai chơi một cách rất tự nhiên, phản ánh các mối quan hệ trong xã hội
một cách chính xác và sống động.
Vai chơi là một yếu tố quan trọng tạo nên trò chơi. Trẻ đóng vai có
nghĩa là tái tạo lại hành động của người lớn với các đồ vật trong những mối
quan hệ nhất định với những người xung quanh.Trong vui chơi, trẻ nhận làm
một chức năng xã hội của một người nào đó, thường là chức năng nghề
nghiệp.
Ví dụ: Trẻ đóng vai làm bác sĩ, làm cô giáo, làm người bán hàng,..
Đóng vai là con đường giúp trẻ thâm nhập vào cuộc sống của người
xung quanh. Trong chủ đề nghề nghiệp, muốn đóng một vai nào đó trẻ phải
biết thực hiện hành động của vai. Những hành động này xuất phát từ hành
18