TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
LÊ THỊ NGA
PHÁT TRIỂN CÁC YẾU TỐ PHI NGÔN NGỮ CHO
TRẺ THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
HÀ NỘI, 2018
HÀ NỘI - 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
LÊ THỊ NGA
PHÁT TRIỂN CÁC YẾU TỐ PHI NGÔN NGỮ CHO
TRẺ THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. LÊ THỊ LAN ANH
HÀ NỘI, 2018
Sinh viên
Lê Thị Nga
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .................................................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................... 4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................................... 4
6. Phƣơng pháp nghiên cứu.................................................................................... 4
7. Cấu trúc khóa luận.............................................................................................. 6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄNCỦA VIỆC PHÁT
TRIỂN CÁC YẾU TỐ PHI NGÔN NGỮCHO TRẺ THÔNG QUA TRÒ
CHƠI ĐÓNG VAI ................................................................................................... 7
1.1 Cơ sở lí luận của việc phát triển các yếu tố phi ngôn ngữ cho trẻ thông qua
trò chơi đóng vai ...................................................................................................... 7
1.1.1 Một số khái niệm ............................................................................................. 7
1.1.2. Cơ sở tâm lí ................................................................................................... 10
1.1.3. Cơ sở sinh lí .................................................................................................. 11
1.1.4. Trò chơi ......................................................................................................... 13
1.2 Thực trạng việc sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ của trẻ .......................... 14
1.2.1. Mục đích khảo sát ........................................................................................ 14
1.2.2. Đối tượng và địa bàn khảo sát ..................................................................... 14
1.2.3. Nội dung khảo sát......................................................................................... 16
1.2.4. Phương pháp khảo sát ................................................................................. 16
1.2.5. Kết quả khảo sát ........................................................................................... 17
1.2.6. Nguyên nhân của thực trạng ....................................................................... 24
2.4.6. Quy trình tổ chức thực nghiệm ................................................................... 37
2.4.7. Kết quả thực nghiệm .................................................................................... 37
Kết luận chƣơng 2 ................................................................................................. 46
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 49
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết ngôn ngữ bằng lời là phương tiện giao tiếp trọng yếu
nhất của con người nhưng không phải là duy nhất. Trong nhiều hoàn cảnh giao
tiếp, đặc biệt là giao tiếp đối mặt, người ta có thể dùng các phương tiện như cử chỉ,
điệu bộ, nét mặt, hành động,.. . của cơ thể, các tín hiệu màu sắc, âm thanh, các vật
thể phụ trợ cho lời. Thậm chí các yếu tố phi ngôn ngữ này còn có khả năng dùng
độc lập để giao tiếp. Trong đó phổ biến nhất, được sử dụng thường xuyên nhất phải
kể đến các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt,… của cơ thể.
Ngôn ngữ dùng để biểu lộ suy nghĩ, ý định hoặc trạng thái của mỗi người và
cũng còn có thể che giấu đánh lạc hướng ngừơi khác. Vì ngôn ngữ gắn liền với ý
thức, nó đã được sử dụng một cách có chủ đích của ý thức trong giao tiếp.Trong đó
phương tiện giao tiếp ngoài ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng dù ít hoặc không gắn
liền với ý thức, nó có thể biểu lộ một cách tự động, máy móc mà người khác chưa
chắc đã hiểu và được thể hiện bằng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt… trong quá trình giao
tiếp và có hệ mã riêng.
Người ta đã gọi những phương tiện giao tiếp ngoài ngôn ngữ như trên bằng
nhiều thuật ngữ khác nhau như ngôn ngữ cử chỉ, ngôn ngữ cơ thể, tín hiệu kèm
ngôn ngữ, ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ, các phương tiện á ngữ học,... Sau đây tôi xin
gọi chúng là các các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ.
Thực tế khi trẻ bắt đầu giao tiếp bằng ngôn ngữ chúng bắt đầu nhìn biểu cảm
khuôn mặt, âm điệu của giọng nói và những yếu tố phi ngôn ngữ một cách vô thức
hơn và càng lớn thì trẻ sử dụng càng nhiều các yếu tố phi ngôn ngữ khi giao tiếp.
giống như chúng?” và “Tại sao chúng ta chun mũi khi cảm thấy chán ghét và nhe
răng khi chúng ta tức giận?” Darwin cho rằng những nét mặt này là những thói
quen từ xa xưa, từ sớm đã là những hành vi mang những chức năng đặc trưng và
trực tiếp trong lịch sử tiến hóa của chúng ta[15]. Ví dụ như, một loài dùng cách cắn
để tấn công, thì việc nhe nanh là một hành động quan bắt buộc trước mỗi cuộc tấn
công và nhăn mũi là giảm các mùi hôi bị hít phải[ 7, tr.134 ]. Điều đó lý giải cho
câu hỏi tại sao những nét mặt ấy vẫn tồn tại ngày cả khi chúng không còn phục vụ
cho mục đích ban đầu, những tiền bối của Darwin đã phát triển một lời giải thích
rất có giá trị. Theo Darwin, con người tiếp tục tạo ra những nét mặt ấy vì chúng đã
trở thành giá trị giao tiếp trong suốt lịch sử tiến hóa [15].
2
Mặc dù giao tiếp phi ngôn ngữ hay các yếu tố phi ngôn ngữ đã được biết đến
từ những năm 1800, nhưng sự xuất hiện của thuyết tương đối hành vi vào năm
1920 khiến những nghiên cứu chuyên sâu về giao tiếp phi ngôn ngữ bị chững lại.
Thuyết tương đối hành vi được xem như học thuyết nghiên cứu mô tả hành vi của
con người thông qua những điều kiện. Những nhà nghiên cứu hành vi như B.F.
Skinner huấn luyện chim bồ câu tham gia và nhiều hành vi để chứng minh bằng
cách nào động vật tham gia vào hành vi khi có phần thưởng [10].
Trong khi đa số nhà tâm lý học đang khám phá thuyết tương đối hành vi,
nghiên cứu về giao tiếp phi ngôn ngữ được bắt đầu năm 1955 bởi Adam Kendon,
Albert Scheflen và Ray Birdwhistell. Họ phân tích một bộ phim bằng cách sử dụng
một phương pháp phân tích được gọi là phân tích bối cảnh. Phân tích bối cảnh là
phương pháp sao chép hành vi quan sát được vào một bảng mã hóa [4]. Phương
pháp này sau đó được sử dụng trong nghiên cứu trình tự và cấu trúc trong sự chào
hỏi của con người, những hành vi xã giao trong các buổi tiệc và chức năng của tư
thế con người trong khi tương tác giữa các cá nhân. Birdwhistell là người đi tiên
phong trong việc nghiên cứu giao tiếp phi ngôn ngữ, và ban đầu được ông gọi là ý
nghĩa cử chỉ. Ông ước tính rằng con người có thể tạo ra và nhận dạng được khoảng
vai ở lứa tuổi 5-6 tuổi.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Quá trình giáo dục mầm non
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Việc phát triển các yếu tố phi ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường
mầm non Tân Hưng – huyện Lạng Giang – tỉnh Bắc Giang.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển các yếu tố phi ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động đóng vai.
- Đề xuất các biện pháp phát triển các yếu tố phi ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
lớn thông qua hoạt động đóng vai.
- Thử nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
4
- Đề tài sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài
liệu lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu.
6.2. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm
- Quan sát hoạt động tổ chức dạy trẻ mẫu giáo lớn đóng vai theo chủ đề ở
một số trường mầm non.
- Quan sát sự tư duy, hứng thú của trẻ trong các giờ đóng vai theo chủ đề và
cách sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ của trẻ.
- Quan sát hoạt động của giáo viên khi tổ chức cho trẻ để phát hiện những
ưu nhược điểm từ đó đề xuất những biện pháp dạy trẻ sử dụng các yếu tố phi ngôn
ngữ một cách có hiệu quả và tốt nhất.
6.2.2. Phương pháp đàm thoại
VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC YẾU TỐ PHI NGÔN NGỮ CHO TRẺ
THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI
1.1 Cơ sở lí luận của việc phát triển các yếu tố phi ngôn ngữ cho trẻ thông qua
trò chơi đóng vai
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm giao tiếp
- Giao tiếp là quá trình trao đổi và tiếp xúc giữa con người với môi trường
của mình, trong đó nó sử dụng tất cả các phương thức cảm giác, đa kênh truyền.
- Giao tiếp là một nghệ thuật. Giống như bất kì năng lực nghệ thuật khác, nó
đòi hỏi huấn luyện và kỷ luật.
1.1.1.2. Khái niệm giao tiếp ngôn ngữ
- Giao tiếp ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người, bằng
ngôn ngữ con người con người có thể truyền đi bất cứ một loại thông tin nào, như
diễn tả tình cảm, ám chỉ, miêu tả sự vật biểu lộ suy nghĩ, ý định hoặc trạng thái của
mỗi người và cũng còn có thể che giấu, đánh lạc hướng người khác. Vì ngôn ngữ
gắn liền với ý thức, nó được sử dụng một cách có chủ định của ý thức.
1.1.1.3. Khái niệm giao tiếp phi ngôn ngữ
- Theo K.Neil Foster đã định nghĩa: Giao tiếp phi ngôn ngữ là sự truyền đạt
thông tin từ cá thể này đến cá thể khác mà không sử dụng hình thức diễn đạt bằng
lời nói. Từ đó việc “hiểu” sẽ được những cá thể nào trao đổi với nhau mà không
cần đến sự chính xác của ngôn ngữ dưới bất kì hình thức nào. Có thể nói rằng
những nhân tố tồn tại trong giao tiếp thông thường như những từ ngữ( viết hoặc
nói không tồn tại trong giao tiếp phi ngôn ngữ.
- Phân loại: G.W. Porter chia giao tiếp phi ngôn ngữ thành 4 loại:
+ Thể chất: Đây là hình thức giao tiếp mang tính chất cá nhân của giao tiếp
bao gồm sự biểu cảm trên khuôn mặt, âm điệu, cảm giác, mùi vị và sự vận động
của cơ thể.
7
Hữa thanh
Giao tiếp phi ngôn ngữ
Vô thanh
Giọng nói( chất giọng, âm Điệu bộ, dáng vẻ, trang
lượng, độ cao,..) tiếng kêu phục, nét mặt, ánh mắt,
Ngôn ngữ
la, thở dài…
di chuyển, mùi…
Từ nói
Từ viết
1.1.1.4.2. Chức năng
- Các yếu tố phi ngôn ngữ thay thế giao tiếp ngôn ngữ.
- Các yếu tố phi ngôn ngữ mâu thuẫn với giao tiếp ngôn ngữ.
- Các yếu tố phi ngôn ngữ hỗ trợ giao tiếp ngôn ngữ.
-Để khẳng định các yếu tố phi ngôn ngữ có bao nhiêu chức năng là vấn đề
đang còn bỏ dở và là đề tài tranh cãi của nhiều nhà khoa học.
- Nhưng nhìn chung một trong những chức năng quan trọng nhất là kết hợp
và hỗ trợ giao tiếp bằng lời nói. Trong quá trình giao tiếp, những thông điệp phi
ngôn ngữ có sự tác động, ảnh hưởng qua lại với những thông điệp bằng lời nói qua
8
9
ngừng rút ra rồi lại đẩy vào chiếc nhẫn cưới, Freud không hề ngạc nhiên biết rằng,
ít lâu sau cuộc hôn nhân mạo xưng là rất hạnh phúc ấy bắt đầu rạn vỡ.
4. Chức năng thay thế: những hành vi phi ngôn ngữ đôi khi được sử dụng
như một kênh thông tin hoạt động đơn lẻ trong giao tiếp. Con người học cách nhận
biết những sự biểu cảm trên khuôn mặt, vị trí hay sự chuyển động của cơ thể tương
ứng với những mục đích và xúc cảm cụ thể. Những tín hiệu phi ngôn ngữ có thể
được sử dụng một cách độc lập, không đi cùng với lời nói để truyền tải thông tin.
5. Chức năng điều chỉnh: những hành vi phi ngôn ngữ cũng có thể điều
chỉnh các cuộc trò chuyện, đàm thoại của con người. Ví dụ, khi bạn chạm vào cánh
tay của một người đang nói chuyện thì điều đó truyền tải thông điệp bạn muốn
được là người nói chuyện tiếp theo hoặc cắt ngang cuộc đàm thoại đó.
6. Chức năng nhấn mạnh hoặc giảm nhẹ: những tín hiệu phi ngôn ngữ cũng
được sử dụng để làm thay đổi ý nghĩa của những thông điệp bằng lời nói. Sự động
chạm, giọng điệu, cử chỉ là một vài cách thức mà con người sử dụng nhằm làm
tăng mạnh hay giảm nhẹ những thông điệp được gửi đi. Ví dụ để biểu lộ sự tức
giận, một người có thể nâng cao giọng nói, mắt mở to...
1.1.2. Cơ sở tâm lí
- Để xử lí tình huống xảy ra trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ là cả một
nghệ thuật, nhất là khi trẻ còn ở độ tuổi thơ dại. Chính vì vậy, để vận dụng khả
năng sư phạm của mình vào trong việc giải quyết tốt các tình huống xảy ra giáo
viên ở các trường mẫu giáo ngoài tình yêu nghề, yêu trẻ, tinh thần trách nhiệm cao,
sự cần mẫn, kiên trì còn cần có sự hiểu biết nhất định về đặc điểm tâm lí của trẻ.
Đối với trẻ mẫu giáo lớn, đặc điểm đầu tiên là hoàn thiện các cấu trúc tâm lí
người. Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi “mầm
non” – tức là lứa tuổi trước khi đến trường phổ thông. Ở giai đoạn này, những cấu
trúc tâm lí đặc trưng của con người được hình thành trước đây, đặc biệt là trong độ
tuổi mẫu giáo vẫn phát triển mạnh. Với sự giáo dục của người lớn, những chức
năng vận động của cơ thể tăng cao, các khớp xương cũng linh hoạt hơn rất nhiều.
Cũng nhờ vậy mà trẻ dễ dàng hơn trong việc tham gia các hoạt động học tập, vui
chơi và biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa lời nói và các yếu tố phi ngôn ngữ.
11
Hoạt động thần kinh của trẻ mẫu giáo lớn có cường độ và tính linh hoạt tang
lên giúp cho sự phối hợp giữa các hoạt động của trẻ được tốt hơn. Đồng thời các tế
bào thần kinh của trẻ dễ bị mệt mỏi, bộ não dễ hưng phấn khiến cho trẻ rất hiếu
động, trẻ dễ hứng thú cũng nhanh chán. Vì vậy, khi dạy trẻ cách sử dụng các yếu tố
phi ngôn ngữ giáo viên cần gây được hưng thú ban đầu để kích thích tinh thần học
tập của trẻ và thời gian học thì không quá dài dẫn tới sự nhàm chán cho trẻ.
Với sự phát triển của hệ thần kinh trung ương và sự hoạt động của não bộ
tương đối ổn định, bền vững nên khả năng ghi nhớ của trẻ tương đối tốt.
Những thành tựu đạt được trong giải phẫu sinh lí người đã giúp chúng ta thấy được
sự ảnh hưởng quan trọng của các vùng trên não bộ tới khả năng ghi nhớ, nghe,
hiểu và phát âm. Các nhà sinh học đã phát hiện ra rằng có hai vùng trên đại não
liên quan đến việc phát triển lời nói là vùng Broca và vùng Wernicke. Vùng Broca
thuộc vùng 44, 55 của thùy trán, đây là vùng chi phối vận động của các cơ quan
tham gia vào động tác phát âm như thanh quản, môi, lưỡi,… Khi vùng này bị tổn
thương sẽ dẫn đến chứng câm nhưng vẫn hiểu lời nói, hiểu chữ viết,, những người
có thể nghe và đọc vẫn hiểu nhưng không thể diễn đạt được ý nghĩ của mình bằng
lời nói, họ chỉ có thể diễn đạt thông qua chữ viết và diễn tả bằng các yếu tố phi
ngôn ngữ. Vùng Wernicke nằm ở thùy thái dương, đây là vùng rất quan trọng trong
việc hình thành tiếng nói và tư duy, còn được gọi là vùng hiểu ngôn ngữ và hiểu
biết. Đây là vùng không chỉ chi phối lời nói mà còn giúp chúng ta hiểu lời, hiểu
nghĩa,… Nếu vùng Wernicke bị tổn thương sẽ dẫn đến chứng câm và không hiểu
lời nói, chữ viết,...
Không chỉ chịu ảnh hưởng của các vùng trên bán cầu đại não, sự hoạt động
- Khi trẻ lên ba tuổi trẻ bắt đầu có ý thức về bản thân mình, biết phân biệt
mình với người khác trong cộng đồng nhỏ. Mối quan hệ giữa trẻ với người lớn
mang tính chất mới (hoạt động cùng nhau được thay thế bằng việc thực hiện những
nhiệm vụ độc lập theo lời chỉ dẫn của người lớn). Trẻ bắt đầu để ý và bắt chước
người lớn về mọi mặt. Trẻ muốn tự khẳng định mình bằng cách tập làm người lớn.
Mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là nhu cầu một bên là khả năng của trẻ ba tuổi.
- Trò chơi đóng vai theo chủ đề ra đời thay thế hoạt động với đồ vật ở lứa
tuổi trẻ nhà trẻ giúp trẻ giải quyết mâu thuẫn này. Trò chơi giúp trẻ tái tạo lại đời
13
sống lao động của người lớn cùng với những mối quan hệ xã hội, làm thỏa mãn
khát vọng được sống như người lớn.
- Trò chơi giúp trẻ được phân những vai khác nhau như: Bác sĩ, bệnh nhân,
cô giáo - học sinh, người bán hàng - người mua hàng,...
1.1.4.3.3. Đặc điểm trò chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ mẫu giáo
- Trẻ thỏa mãn nhu cầu xã hội cơ bản của mình thông qua hoạt động vui
chơi cụ thể là trò chơi đóng vai theo chủ đề. Đó là khát vọng vươn tới cuộc sống
chung với người lớn – một cuộc sống không thể thỏa mãn trên hiện thực. Trẻ tự
cho mình hợp nhất lại thành các nhóm trẻ và tổ chức trong các nhóm đó một cuộc
sống vui chơi đặc biệt. Trong cuộc sống đó mỗi đứa trẻ tự nhận cho mình một vai
trò. Trò chơi phân vai với tư cách là một hình thức đặc biệt của cuộc sống chung
giữa trẻ em với người lớn, xuất hiện địa vị đặc biệt của trẻ em trong xã hội do sự
phức tạp hóa nền sản xuất và quan hệ sản xuất.
- Trong vai trò chơi phân vai, sự tái tạo các hành động có đối tượng lùi
xuống hàng thứ yếu, nổi lên hàng đầu là sự tái tạo các mối quan hệ xã hội và chức
năng lao động.
1.2 Thực trạng việc sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ của trẻ
1.2.1. Mục đích khảo sát
- Khảo sát thực trạng việc rèn khả năng sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ cho
một môi trường khá đầy đủ, thân thiện và được đảm bảo phát triển về mọi mặt.
1.2.2.2.2. Trường Mầm non Yên Mỹ
Trường Mầm non Yên Mỹ là trường mầm non tư thục mới được thành lập từ
tháng 8/2012, là trường mầm non chất lượng cao thuộc khu vực Huyện Lạng
Giang. Trường được trang bị đầy đủ đồ dùng, phương tiện dạy học với phòng ốc
rộng rãi, khang trang. Hiện nay trường có 25 cán bộ công nhân viên trong trường,
trong đó có 2 cán bộ quản lí, 20 giáo viên và 3 nhân viên.
Hầu hết các giáo viên trong trường đều ở trình độ Cao đẳng Sư phạm trở lên.
Trường đạt 100% trẻ ăn bán trú tại trường. Tính đến thời điểm hiện nay trường có
tổng số 266 trẻ được chia thành 10 nhóm lớp, trong đó:
- Nhóm trẻ 24 - 36 tháng tuổi: 2 nhóm lớp
- Nhóm lớp Mẫu giáo bé: 3 lớp
- Nhóm lớp Mẫu giáo nhỡ: 2 lớp
15
- Nhóm lớp Mẫu giáo lớn: 3 lớp
Trường mầm non Yên Mỹ phần lớn là con em của cán bộ giảng viên, nhân
viên các công ty, ngân hàng trong huyện Lạng Giang. Phụ huynh đều có hiểu biết,
quan tâm và giáo dục trẻ ở trường mầm non. Trẻ khỏe mạnh, tâm sinh lí phát triển
bình thường.
1.2.3. Nội dung khảo sát
Đề tài tiến hành khảo sát về:
- Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc rèn khả năng diễn đạt các yếu
tố phi ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai.
- Thực trạng mức độ sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi ở
trường mầm non.
1.2.4. Phương pháp khảo sát
- Chúng tôi tiến hành điều tra dựa trên những phương pháp sau: Thu thập tài
liệu, nghiên cứu, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát và hệ thống hóa các vấn
trọng của việc cách sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ mạch cho trẻ 5 - 6 tuổi thông
qua trò chơi đóng vai. Có 85% ý kiến giáo viên trường mầm non Tân Hưng và
90% ý kiến giáo viên trường mầm non Yên Mỹ cho rằng rất cần thiết. Còn lại 15
% giáo viên trường mầm non Tân Hưng và 10% giáo viên trường mầm non Yên
Mỹ cho là cần thiết. Đặc biệt không có ý kiến nào phủ nhận sự cần thiết của việc
rèn khả năng sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi
đóng vai. Họ giải thích rằng tổ chức trò chơi đóng vai cho trẻ giúp trẻ phát triển
các yếu tố phi ngôn ngữ rất tốt, trẻ nói trôi chảy, lưu loát, biểu cảm nét mặt và các
cử chỉ điệu bộ… từ đó khả năng diễn đạt của trẻ trở nên rõ ràng, mạch lạc hơn nên
trẻ giao tiếp tự tin hơn, tạo tiền đề tốt để trẻ học tập có hiệu quả ở trường phổ
thông sau này cũng như trong cuộc sống. Như vậy, 100% giáo viên đã nhận thức
được vai trò của việc tổ chức trò chơi đóng vai nhằm phát triển các yếu tố phi ngôn
ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi.
17
1.2.5.1.2. Nhận thức của giáo viên về vai trò của việc rèn khả năng sử dụng các
yếu tố kèm ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai
Bảng 1.1 Nhận thức của giáo viên về vai trò của việc rèn khả năng sử dụng
các yếu tố phi ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai
Các trò chơi
STT
Số lƣợng
Tỉ lệ %
1
5
Trò chơi khác
0
0
Theo kết quả trên, có 50% số ý kiến GV được hỏi cho rằng trong các trò
chơi ở trường mầm non thì trò chơi đóng vai theo chủ đề đem lại hiệu quả cao
trong việc rèn khả năng sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ cho trẻ. Họ giải thích
rằng, thông qua các vai chơi của trò chơi đóng vai theo chủ đề như bán hàng, cô
giáo, bác sỹ… trẻ phải sử dụng vốn kinh nghiệm tích lũy từ cuộc sống hằng ngày
thông qua lời nói đến cử chỉ, điệu bộ của mình, của bạn để hoàn thành được vai
chơi của mình. Bên cạnh đó thì trò chơi đóng vai theo chủ đề không giới hạn nội
dung mà trẻ muốn nói từ đó vốn từ, biểu cảm, nét mặt và các cử chỉ điệu bộ của trẻ
phát triển. Do đó, trò chơi đóng vai theo chủ đề là môi trường thích hợp giúp trẻ
phát triển ngôn ngữ nói chung và các yếu tố phi ngôn ngữ nói riêng. Chẳng hạn,
trong trò chơi “bán hàng”, cô giáo là người tổ chức, hướng dẫn trẻ phân vai chơi từ
đó trẻ chơi một cách vui vẻ thoải mái, tái hiện lại những gì chúng nghe, chúng thấy
trong thực tế ví dụ “Cô bán cho cháu quả bí ạ” kèm theo cử chỉ “chỉ vào quả bí”,
“đắt thế ạ” kèm theo cử chỉ”ngạc nhiên mắt mở to hơn”, “bí của cô ngon lắm
đó”… đi cùng những câu nói đó là sắc thái biểu cảm của nét mặt, điệu bộ phù hợp.
Như vậy, giáo viên mầm non chủ yếu khai thác trò chơi này nhằm phát triển các
yếu tố kèm ngôn ngữ cho trẻ. Qua đây, chúng ta có thể thấy rằng, về cơ bản giáo
viên đã nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn khả năng sử dụng các yếu tố
phi ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai, tuy nhiên vẫn ở mức
độ chưa cao.
18
25
62.5
3
Khả năng giao tiếp mạnh dạn, tự tin
29
72.5
4
Biết ngừng nghỉ, ngắt giọng phù hợp
22
55
5
Nói truyền cảm, lôi quấn
14
35
6