CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ
ĐỐI NGOẠI Ở VIỆT NAM
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra rất nhiều cơ hội đối với cả Nhà nước,
Doanh nghiệp và người tiêu dùng. Điều này đang thu hút sự quan tâm ngày
càng lớn của các nhà hoạch định chính sách, các nhà phân tích kinh tế cũng
như của tất cả mọi doanh nghiệp. Đồng thời, đi cùng với cơ hội là những
thách thức- làm sao để tận dụng được những cơ hội đó? Đối với nền kinh tế
Việt Nam cũng vậy, tham gia vào tiến trình hội nhập với nền kinh tế toàn cầu
đang mở ra những cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển, đồng thời tiến
trình này cũng đang đặt ra những thách thức không nhỏ cần được nhận thức
rõ để từ đó đề ra các giải pháp, hướng đi đúng đắn nhằm tận dụng được đến
mức tối đa những cơ hội do hội nhập mang lại và giảm đến mức tối thiểu
những khó khăn, bất lợi có thể có trên con đường phát triển của mình.
1. Những cơ hội
Trong việc phát triển kinh tế đối ngoại ở Việt Nam, những thành tựu
to lớn và rất quan trọng của 25 năm đổi mới vừa qua đã làm cho thế và lực
của nước ta lớn mạnh lên rất nhiều. Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế
được tăng cường đáng kể. Đất nước còn nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên,
lao động. Nhân dân ta có truyền thống tốt đẹp, cần cù, thông minh và sáng
tạo trong lao động. Tình hình chính trị, xã hội ổn định. Môi trường hoà bình,
sự hợp tác liên kết, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển
tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh
thủ ngoại lực nguồn vốn công nghệ mới, kinh nghiệm quản lý mở rộng thị
trường, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hơn nữa,
Việt Nam là một nước đi sau có điều kiện tiếp thu kinh nghiệm về buôn bán,
quản lý sản xuất kinh doanh và điều hành nền kinh tế.
1
thời gian gặp chấn động chúng sẽ tự rút chạy. Sự tháo chạy của các dòng
vốn ra khỏi một số nước châu Á là một ví dụ.
Cùng với việc thu hút đầu tư nước ngoài vào nước ta là công nghệ
mới. Việc tiếp nhận công nghệ mới này góp phần quan trọng nâng cao hiệu
quả sản xuất và sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam.
Đi theo dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) vào nước ta là các công nghệ
mới. Các công nghệ này có thể là cũ và không có hiệu quả ở Mỹ, Nhật Bản
và ở các nước Tây Âu nhưng lại là mới và có hiệu quả ở Việt nam. Nếu nước
ta không hội nhập quốc tế, nước ta vẫn có thể vay vốn nhập công nghệ mới
cho sản xuất hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Tuy nhiên, do khả năng tiếp cận thị trường bên ngoài của Việt Nam
còn hạn chế, việc vay vốn và nhập khẩu công nghệ mới cũng không dễ dàng.
Đặc biệt khả năng quản lý kinh doanh của ta lại kém, nên mô hình này tuy
đã thành công ở Hàn Quốc, Đài Loan nhưng không dễ thành công ở nước ta.
Con đường thích hợp với Việt Nam trong điều kiện hiện nay vẫn là
chủ động hội nhập quốc tế để khai thông thị trường trong nước với khu vực
và thế giới, tạo ra môi trường đầu tư có hiệu quả và có sức hấp dẫn. Do vậy
các công nghệ mới có thể du nhập vào nước ta và được sử dụng một cách có
hiệu quả nhất.
Trong các dòng vốn du nhập vào nước ta, dòng vốn FDI có khả năng
đem theo các công nghệ mới vào nước ta và sử dụng chúng có hiệu quả hơn
cả. Điều này là hiển nhiên, vì không ai bỏ tiền ra lại không có mục đích sinh
lời. Đặc biệt là nó hoàn toàn đúng với những chủ đầu tư nước ngoài. Lý do
là các công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp vào Việt Nam hiện đang nắm giữ
tới 90% công nghệ thế giới và có mạng lưới chi nhánh trên khắp thế giới.
Chúng có khả năng di chuyển công nghệ từ nước kém lợi thế cạnh tranh hơn
3
trạng phá sản các công ty dẫn tới thất nghiệp gia tăng, gây bất ổn định xã hội
là điều khó tránh khỏi. Thứ hai, sức ép của thị trường toàn cầu sẽ tác động
đến thể chế kinh tế, xã hội của các quốc gia, buộc các thể chế này phải thích
ứng với thể chế thị trường toàn cầu. Đây cũng là một cơ hội để các quốc gia
có thể hoàn thiện thể chế thị trường của mình. Nhưng đồng thời cũng là một
thách thức vì nếu các thể chế quốc gia không hoàn thiện thích ứng với cơ
chế thị trường toàn cầu, thì môi trường kinh doanh sẽ bị giảm lợi thế so
sánh, kém hiệu quả, gây thua thiệt cho các nhà kinh doanh.
Hai là, Khắc phục được tình trạng bị phân biệt đối xử trong thương
mại quốc tế.
+ Khắc phục được tình trạng phân biệt đối xử tạo dựng được thế và
lực trong thương mại quốc tế.
Nhìn chung, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực sẽ khắc
phục được tình trạng bị các cường quốc lớn phân biệt đối xử, nâng cao vị thế
của ta trên trường quốc tế. Đặc biệt tiến trình này sẽ tạo cơ hội cho các nước
nhỏ, nước chậm phát triển có cơ hội đối thoại chính sách với các nước phát
triển hơn, hoặc phối hợp quan điểm với các nước khác trên các diễn đàn
quốc tế nhằm giải tỏa các rào cản thương mại hạn chế tác động của chính
sách phân biệt đối xử của một số nước.
+ Được thừa hưởng những ưu đãi thương mại, mở đường cho thương
mại phát triển
Tham gia các khu vực mậu dịch tự do và thực hiện tự do hóa thương
mại trong khuôn khổ theo WTO là điều kiện cần để các nước tranh thủ
những ưu đãi về thương mại đầu tư và các lĩnh vực khác được áp dụng trong
nội bộ mỗi tổ chức, góp phần mở rộng thị trường và phát triển sản xuất trong
nước. Đặc biệt trong WTO cũng như đại đa số các tổ chức khu vực khác đều
có các chính sách ưu đãi đối với các nước đang phát triển và các nước trong
5
Việt Nam là một nước đang phát triển, trình độ kinh tế còn rất thấp so
với nhiều nước trên thế giới và khu vực, các yếu tố của nền kinh tế chưa
phát triển, chưa được tạo lập đồng bộ, và còn nhiều khiếm khuyết. Để hội
nhập vào nền kinh tế thế giới, tham gia vào luật chơi chung cùng với các
nước trong phạm vi WTO với thương mại đa biên đã trải qua hơn 60 năm
phát triển mà trong đó hầu hết các nước thành viên đã có 20-30 năm kinh
nghiệm xây dựng hệ thống pháp lý, chính sách thương mại của mình cho
phù hợp với các điều luật quốc tế thì Việt Nam sẽ phải vượt qua những thách
thức vô cùng to lớn. Hội nhập sẽ đem lại những cơ hội và có kinh nghiệm để
giải quyết những vấn đề trên đây.
Ngoài ra thông qua Hội nhập quốc tế, chúng ta có điều kiện tăng
cường thu hút vốn đầu tư, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài.
Đây sẽ là cơ hội rất tốt cho các doanh nghiệp, người lao động trong nước
tiếp thu học hỏi kinh nghiệm của họ, từng bước nâng cao năng lực quản lý,
sản xuất cho chính mình.
2. Những thách thức
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khảng định, trong tình hình thế giới hiện nay đất nước ta phải đối mặt với
nhiều thời cơ và thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từng nêu lên (tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII) đối với sự phát triển của đất nước là:
tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới,
chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, “diễn biến
hoà bình” do các thế lực thù địch gây ra. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX Đảng vẫn tiếp tục khẳng định, đến nay cả bốn nguy cơ ấy vẫn còn tồn
tại và diễn biến phức tạp, đan xen tác động lẫn nhau và không thể xem nhẹ
một nguy cơ nào. Đại hội lần thứ X của Đảng, Đảng tiếp tục chỉ ra nước ta
đang đứng trước những thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng CSVN lần thứ X, NXB CTQG, H. 2006, tr. 22.
8
Thứ hai, ở thị trường trong nước khả năng tăng trưởng là khó đạt do
những yếu tố thuận lợi thì ít mà khó khăn thì nhiều.
Chẳng hạn, về mặt thuận lợi, điều đáng kể nhất là sự nỗ lực rất lớn
của Chính phủ trong việc tăng lương tối thiểu từ 180.000 lên 210.000,
290.000, 350.000, 450.000, 650.000 rồi lên 730.000 đồng cho một đội ngũ
đông đảo những người hưởng lương và hưởng sinh hoạt phí, cán bộ hưu trí...
Việc nâng lương tối thiểu qua các đợt như vậy đã có thể tăng thêm sức mua
khoảng từ 5.000 - 10.000 tỷ đồng là tối đa, nhưng điều đó chủ yếu vẫn diễn
ra ở khu vực thành thị.
Yếu tố thuận lợi thứ hai là sự phát triển mạnh của lĩnh vực công nghệ
và sự phục hồi khá nhanh của lĩnh vực dịch vụ làm tăng thu nhập và sức
mua, nhưng yếu tố này vẫn tập trung ở khu đô thị với số dân chỉ chiếm
khoảng 1/4 dân số cả nước và đa phần là lao động công nghiệp, dịch vụ và
công chức.
Tuy vậy, ở khu vực nông thôn, nhìn chung mức sống của người dân
vẫn đang thấp, sức mua yếu, người nông dân còn phải chịu nhiều thiệt thòi
do giá cánh kéo công nghiệp, dịch vụ và nông sản cách xa nhau. Trong khi
đó dân số nước ta chủ yếu là nông dân lại chiếm tới khoảng 70% dân số như
vậy việc kích cầu sẽ rất khó. Còn 3/4 cư dân làm nông nghiệp thì lợi ích đạt
được rất ít, cho nên khó tạo ra sự phát triển mang tính đột biến trong sức
mua của xã hội.
Trong khi đó, những yếu tố cản trở là rất lớn. Trước hết, đó là việc cư
dân của khu vực nông thôn vẫn chiếm trên 3/4 dân số cả nước, chẳng những
phải gánh chịu những thua thiệt do rủi ro, thiên tai, mà bản thân ngành nông
nghiệp vẫn luôn có năng suất lao động thấp hơn các ngành nghề khác.
là rất thấp ( do giá thành cao, chất lượng thấp và mẫu mã đơn điệu). Do đó,
Việt Nam buộc phải thực hiện chiến lược phát triển mà không mâu thuẫn với
10
những cam kết của họ để mở rông nội địa đồng thời tránh được các cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ.
Từ ngày 1/7/2003 Việt Nam đã giảm thuế suất nhập khẩu cho danh
mục trên 760 mặt hàng theo lịch trình gia nhập khu vực mậu dịch tự do
AFTA. Kết quả thực tế cho thấy giá cả thị trường trong nước không có biến
động lớn, điều đó chứng tỏ bước đi ban đầu của tiến trình hội nhập khu vực
đã thu được thành công, tạo đà cho các bước tiếp theo. Hiệp định thương
mại tự do ASEAN - Hàn Quốc có hiệu lực từ đầu tháng 6/2007. Theo đó
nước này sẽ miễn thuế cho gần 8.000 dòng thuế từ Đông Nam á. ASEAN
cũng sẽ giảm thuế còn 0-5% cho 45% danh mục hàng hóa có xuất xứ từ Hàn
Quốc. Việt Nam cũng cắt giảm thuế suất của 200 dòng hàng giao thương với
Hàn Quốc. Theo cam kết cắt giảm thuế quan AKFTA, thuế suất của không
dưới 90% tổng dòng thuế trong biểu nhập khẩu mỗi nước ASEAN sẽ phải
giảm dần và loại bỏ hoàn toàn vào 2010, một số dòng thuế linh hoạt đến
2012.
Vào năm 2015, Việt Nam sẽ cắt giảm hầu hết danh mục thuế quan
AKFTA xuống còn 0-5%. Một năm sau sẽ miễn thuế hoàn toàn, trừ vài dòng
thuế linh hoạt.
Sau những vòng đàm phán URUGOAY vào cuối thập kỷ 90 của thế
kỷ XX, việc gia nhập WTO của Việt Nam đòi hỏi phải chấp nhận những
điều kiện khắt nghiệt hơn so với các nước đang phát triển đã gia nhập trước
đây. WTO đòi hỏi các thành viên phải thi hành tất cả các hiệp định của vòng
Urugoay, không trừ một điều khoản nào. Chúng ta phải chấp nhận thi hành
mọi quy định của WTO. Tuy về lâu dài nền kinh tế nước ta sẽ từng bước
thích nghi. Nhưng trước mắt chúng ta phải tiếp tục xây dựng, điều chỉnh luật
ý tiên lượng kỹ càng những thiệt hại do rủi ro xẩy ra trong quá trình luân
12
chuyển chuyển thương mại nhanh nhạy và năng động từ đối tượng, khu vực
này sang đối tượng khu vực khác.
Những thách thức về tiếp nhận đầu tư nước ngoài: FDI tạo ra một
luồng vốn chảy ra ngoài như lợi nhuận và các khoản thanh toán khác, điều
này ảnh hưởng đến lực lượng ngoại hối của nước nhận đầu tư. Đầu tư nước
ngoài đôi khi biệt lập với các ngành sản xuất trong nước do đó không có
hiệu ứng lan truyền có lợi về mặt phổ biến công nghệ sản xuất, quản lý và
tiếp nhận FDI nhất là các công ty xuyên quốc gia có thể đẩy các nhà sản
xuất trong nước vào cuộc cạnh tranh quá sớm, không cân sức. Tuy nhiên,
với xuất phát điểm thấp của một nền kinh tế vẫn dựa chủ yếu vào nông
nghiệp, mở cửa và hội nhập vào các tổ chức thương mại và kinh tế thế giới,
khu vực, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong khi nền
kinh tế của mình còn yếu kém, khả năng cạnh tranh và hiệu quả thấp.
Thách thức về năng lực cạnh tranh
Việc giảm thuế và phi thuế, thông thoáng chính sách quản lý đối với
các lĩnh vực đầu tư, dịch vụ... trong quá trình hội nhập sẽ tạo sức ép lớn, đòi
hỏi nền kinh tế và các doanh nghiệp phải có đầy đủ năng lực cạnh tranh mới
có thể trụ vững và khai thác được lợi thế của hội nhập. Năng lực cạnh trạnh
được thể hiện trên ba cấp độ khác nhau: Năng lực cạnh tranh của nền kinh
tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản
phẩm.
Về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, chúng ta có lợi thế
về lao động và một số nguồn tài nguyên nông, lâm, khoáng sản. Song các
yếu tố khác như công nghệ, trình độ quản lý, cơ sở hạ tầng, độ ổn định về
chính sách và hệ thống tài chính ngân hàng còn nhiều hạn chế nên xét về
75/133
thứ
Nguồn: Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF). Xếp hạng năng lực cạnh
tranh hàng năm
Về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Theo đánh giá chung của
dư luận và nhiều nghiên cứu gần đây thì năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp Việt Nam còn tương đối thấp, thể hiện ở các điểm sau:- Năng suất
lao động chưa cao
- Chất lượng và tính độc đáo của sản phẩm còn thấp- Trình độ công
nghệ khả năng tiếp cận với công nghệ mới còn hạn chế
- Chi phí đầu vào còn cao và chưa hợp lý, dẫn đến nhiều trường hợp
giá cả hàng hóa còn chưa cạnh tranh được với hàng nhập khẩu
- Thị trường đầu ra cho sản phẩm chưa ổn định và bền vững
Thực trạng về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hiện nay đòi hỏi
Nhà nước phải có chính sách bảo hộ hợp lý trong quá trình hội nhập và mở
cửa thị trường. Tuy nhiên, yêu cầu của các tổ chức khu vực và quốc tế không
cho phép chúng ta bảo hộ vô thời hạn, bảo hộ tràn lan tất cả các ngành kinh
tế. Ngoài ra nguyên tắc tương hỗ của các tổ chức này đòi hỏi chúng ta cũng
phải có những hoạt động mở cửa thị trường nhất định mới có thể hưởng
những ưu đãi thị trường từ các nước khác.
Về năng lực cạnh tranh của sản phẩm thì những tiêu chí đánh giá
chính đó là:
- Chi phí đầu vào của sản xuất.
14
- Chất lượng.
với chúng ta. Nước ta đi lên từ một nước nông nghiệp, lại phải chịu sự tàn
phá của hai cuộc chiến tranh kéo dài suốt một thế kỷ. Chính vì vậy, việc phát
triển khoa học kỹ thuật không được chú trọng. Trong suốt thời kỳ bao cấp,
chúng ta chủ yếu sử dụng máy móc công nghệ đã cũ của Liên Xô và các
nước Đông Âu. Đến nay, khoảng cách về trình độ khoa học kĩ thuật, công
nghệ của nước ta so với các nước phát triển là khá xa. So với các nước đang
phát triển trong khu vực như Thái Lan, Inđônêxia, Philippin chúng ta bị tụt
hậu hàng chục năm. Do vậy, khi hội nhập chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn
để có thể bắt kịp sự phát triển về kỹ thuật của thế giới. Yếu tố con người vừa
là ưu điểm, vừa là nhược điểm. Bên cạnh sự dồi dào, tinh thần cần cù và
sáng tạo, lao động nước ta chủ yếu sống ở nông thôn, chưa được đào tạo,
chưa tiếp xúc nhiều với khoa học kỹ thuật hiện đại. Chịu sự ảnh hưởng của
cơ chế bao cấp tồn tại hàng chục năm, đội ngũ cán bộ chưa phát huy được
tính sáng tạo, chưa có sự thích ứng cần thiết với cơ chế thị trường. Những lý
do này đã làm cho năng suất lao động của nước ta thuộc vào hàng thấp nhất
thế giới. Như chúng ta đã biết, năng suất lao động là một trong các yếu tố
quan trọng để đánh giá sự phát triển của một nền kinh tế.
Do nghèo và lạc hậu nên chúng ta chưa có được sự đầu tư đúng mức
đối với cơ sở hạ tầng. Chính vì vậy, cơ sở hạ tầng nước ta hiện nay đang
trong tình trạng xuống cấp, chắp vá. Đây là một yếu tố không nhỏ gây cản
trở sự phát triển kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. D.Ricardo, nhà
kinh tế lỗi lạc đã từng nhận định: nếu có hệ thống giao thông tốt thì sẽ nhanh
chóng biến vùng xa xôi hẻo lánh thành vùng ngoại ô. Hiện nay, hệ thống
đường giao thông của nước ta mới chỉ đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu
của các khu đô thị, hầu hết các tỉnh miền núi giao thông còn rất kém, không
phát huy được tiềm năng kinh tế. ở các khu đô thị, hệ thống cấp thoát nước,
16
xử lý rác thải… chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư. Bên cạnh
càng tồi tệ và đi đến đóng cửa, phá sản...
Do xuất phát điểm rất thấp về chất lượng hoạt động của các NHTM
Việt Nam, nên có thể có nguy cơ sức ép cạnh tranh quá lớn từ phía các ngân
hàng nước ngoài làm cho các ngân hàng trong nước không có cơ hội phát
triển. Vì vậy không có bước hội nhập thích hợp thì các ngân hàng trong
nước sẽ gặp nhiều khó khăn, và có thể bị hẫng hụt. Hơn nữa, hệ thống ngân
hàng Việt Nam qua nhiều năm hoạt động còn chứa đựng nhiều yếu tố bao
cấp, hành chính. Sức ỳ của cơ chế hành chính, bao cấp này vẫn còn đè nặng
lên hệ thống NHTM. Để thoát ra khỏi cơ chế này, đòi hỏi một quá trình cải
cách, đổi mới kiên quyết và mạnh mẽ của toàn xã hội và sự nỗ lực của toàn
ngành ngân hàng. Rõ ràng cần một thời gian để đổi mới căn bản cơ chế, hệ
thống quản lý ngân hàng theo hướng chấp nhận cạnh tranh ngày càng cao xu
thế tất yếu của hội nhập và phát triển.
Thách thức trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa vấn đề bảo hộ thị
trường và yêu cầu của Hội nhập
Hội nhập quốc tế gắn liền với tự do hoá thương mại, mà tự do hoá
thương mại lại vấp phải yêu cầu bảo hộ sản xuất trong nước.
Chính sách tự do thương mại bị cản trở bởi yêu cầu bảo hộ từ các Bộ
chuyên ngành và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các Bộ
chuyên ngành, do sức ép của các doanh nghiệp thuộc quyền quản lý với một
thực trạng công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém, khả năng cạnh tranh
của sản phẩm thấp nên ra sức kêu gọi bảo hộ nghiêm ngặt để duy trì việc sản
xuất của họ. Còn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lợi dụng sự
lỏng lẻo và non kém trong việc quản lý của Việt Nam muốn giữ thế độc
quyền trong sản xuất với chi phí sản xuất cao so với sản phẩm cùng loại
nhập khẩu cũng tích cực đề nghị chính phủ Việt Nam áp dụng các biện pháp
18
bảo hộ nghiêm ngặt. Do áp dụng các biện pháp bảo hộ trong đó có thuế