Học Thuyết “nhân - lễ - chính danh” của khổng tử và sự tác động
tới việc xây dựng gia đình văn hoá ở nước ta hiện nay
======================================
MỞ ĐẦU
Nghiên cứu lịch sử triết Trung Quốc, đặc biệt khi chúng ta nghiên cứu
tư tưởng triết học của Nho gia, với những triết lý hết sức sâu sắc với những
quan niệm về luân lý, đạo đức, chính trị xã hội và những triết lý của Nho gia
đã có sự tác động sâu rộng, trong đời sống, chính trị xã hội ở đất nước Trung
Quốc. Cùng với quá trình lịch sử du nhập vào Việt nam, tư tưởng của Triết
học Nho gia đã tác động sâu sắc đến đời sống, luân lý, đạo đức, chính trị xã
hội ở Việt nam. Đại biểu suất sắc của triết học Nho gia mà chúng ta đề cập
tới là Khổng Tử.
Khổng Tử sinh năm 551, mất 479 trước công nguyên, tên là Khổng
Khâu, tự là Trọng Ni; ông là người nước Lỗ- nơi bảo tồn được nhiều di sản
văn hoá cũ của nhà Chu. Thời đại của ông là thời đại “vương đạo suy vi, bá
đạo trị vì”, lễ nhạc của nhà Chu bị đảo lộn. Với hoài bão chính trị của
mình, ông đã xây dựng học thuyết “Nhân – lễ – chính danh” nhằm góp
phần lập lại kỷ cương, lễ nhạc của nhà Chu, giải quyết những vấn đề xã hội
– những vấn đề cấp bách đặt ra trong thời đại ông đang sống. Do sự chi
phối mang tính quyết định của điều kiện xã hội lịch sử, sự hạn chế của bản
thân Khổng Tử, bên cạnh những cống hiến to lớn còn tồn tại một số hạn
chế nhất định của học thuyết này, những hạn chế ấy đã bộc lộ ngay cả khi
được áp dụng vào trong xã hội của thời đại Khổng Tử, cũng như trong thời
đại ngày nay. Bởi vậy, chúng ta cần biết bóc tách, kế thừa và lọc bỏ những
gì trong học thuyết này để nghiên cứu, vận dụng vào xây dựng gia đình văn
hoá mới ở nước ta hiện nay.
2
ấy vẫn rất cần thiết, thậm chí còn là vấn đề bức thiết khi trong xã hội đã có
không ít người trà đạp lên nhân phẩm, coi thường tính mạng người khác, đối
xử với nhau trên cơ sở giá trị của đồng tiền, trong nhiều mối quan hệ xã hội
hiện nay đã và đang có xu hướng “tiền hoá”, thậm chí ngay cả trong quan hệ
huyết thống, gia đình, dòng họ... Có lẽ vì thế mà ngay từ xa xưa Khổng Tử đã
nhận thức được mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, nên ông đã cho rằng ái
nhân là phải biết lấy “hiếu lễ” làm gốc, muốn có quan hệ xã hội tốt thì phải có
các quan hệ huyết thống tốt. Tư tưởng ái nhân của Khổng Tử được xuất phát
từ nguyện vọng điều chỉnh có tinh phổ biến của quan hệ giữa con người với
con người, của quan hệ đạo đức có tính chất giai tầng. Để có ái nhân tốt thì
không được phân biệt đẳng cấp, sang hèn mà phải luôn yêu thương lẫn nhau
“ái hữu sai đẳng”, phải có “ôn, cung, nhượng, khoan, tín, mẫn, huệ…” nghĩa
là phải ôn hoà, cung kính, nhường nhịn, khoan dung, tín cẩn, cần cù và ra
ơn…Nhưng, trong tư tưởng về nhân của Khổng Tử lại chứa đựng sự phân biệt
giai cấp, điều này vừa làm hạn chế tư tưởng ái nhân, vừa làm “bó hẹp” phạm
vi phát triển của nhân, ông cho rằng chỉ có người quân tử (tức giai cấp thống
trị) mới có thể đạt được đức nhân, còn kẻ tiểu nhân (tức nhân dân lao động)
không thể có đức nhân, ông nói, “Quân tử nhi bất nhân giả hữu hỹ, vị hữu tiểu
nhân nhi nhân giả dã” (đạo nhân chỉ là đạo của người quân tử, của giai cấp
thống trị, bậc tiểu nhân không có đạo nhân).
Nhân trong triết học của Khổng Tử còn được thể hiện ở tư tưởng (tôn trọng
người hiền tài), đã là người hiền tài thì ta phải kính trọng, phải nhường nhịn, nếu
không nhường tức là “ăn cắp địa vị”, ông cho rằng “học tập lễ nhạc trước, rồi mới
làm quan, chính là những kẻ dã nhân (tức dân thường), làm quan trước rồi mới
học lễ nhạc chính là người quân tử (con cháu quý tộc); nếu dùng người thì ta chọn
những người học tập lễ nhạc trước”. Tư tưởng “thượng hiền” của Khổng Tử được
nhiều triết gia, nhiều nhà nghiên cứu về chính trị xã hội sau này tiếp tục phát triển,
5
Cùng với những tư tưởng tiến bộ về nhân, Khổng Tử còn đưa ra tư
tưởng về lễ, theo ông lễ là toàn bộ những nghi lễ, nghi thức, phong tục tập
quán, chuẩn mực, quy tắc, quy chế, kỷ cương, thể chế pháp luật của nhà nước,
tôn ti, trật tự của cuộc sống, cũng như trong quan hệ giữa con người với con
người, ai ở phận nào (danh) thì được dùng lễ ở phận ấy, tuỳ vào tính chất công
việc khác nhau mà dùng những lễ khác nhau. Nội dung lễ mà Khổng Tử
muốn nói đến là những quy phạm đạo đức thời Tây Chu; lễ được hiểu như là
cơ sở của một xã hội có tổ chức, đảm bảo cho sự phân định trên dưới rõ ràng,
như là một đức bên trong ngũ thường, là sự thực hành đúng giáo huấn kỷ
cương theo tư tưởng của Nho giáo. Đã là một con người thì bất cứ ai cũng
phải học lễ, biết lễ và có lễ, nếu không thì sẽ là phi lễ, mà đã phạm phi lễ thì
không được nhìn, không được nghe, không được nói, không được làm; đồng
thời khi đã phi lễ, mất lễ thì cùng không thể đạt được đức nhân, vì theo Khổng
Tử người biết sửa mình, hành động theo điều lễ mời là người có đức nhân
“khắc kỷ phục lễ vi nhân” và ông luôn khuyên mọi người nên làm đúng theo
lễ. Lễ trong tư tưởng của Khổng Tử luôn hoà quyện với nhân, trong mối quan
hệ biện chứng này lễ bao giờ cũng được coi là hình thức biểu hiện ra bên
ngoài của nhân, còn nhân luôn là nội dung sâu sắc, phong phú ẩn chứa trong
lễ.
Tư tưởng về lễ của Khổng Tử còn được phát triển, mở rộng bởi những
nội dung mới; quá trình áp dụng tư tưởng về lễ trong xã hội thời nhà Chu đã
được ông phát triển từ lễ thuần tuý là hình thức thể hiện của hành vi và ý thức
tôn giáo có tính chất tín điều lên thành lễ với tư cách là một phạm trù có ý
nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc. Ông khẳng định, lễ là một nội dung thuộc
về phạm trù văn hoá, lễ phải là cái có sau bản tính tự nhiên của con người (ở
đây ông chưa thấy được sự ảnh hưởng to lớn của điều kiện kinh tế-xã hội đến
lễ), ông ví lễ như “bức tranh vẽ trên nền trắng”(Hội sự hậu tố – Luận ngữ, Bát
7
cho ngay thẳng, trong xã hội mỗi người đều có địa vị, bổn phận (danh) nhất
định, nên người có chính danh phải là người luôn làm tròn bổn phận, nghĩa
vụ, công việc của mình; từ trên xuống dưới, từ vua đến tôi, từ cha đến con, từ
chồng đến vợ…phải phân minh rõ ràng, mỗi người sống làm sao phải cho
xứng với từng cương vị ấy, “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” nghĩa là
vua phải xứng cho đạo làm vua, cha phải xứng là người làm cha, con phải
xứng đúng đạo làm con, nếu không làm được như vậy thì cũng không thể đạt
được đức nhân. Chúng ta đều thấy điều quan trọng trong cuộc sống không
phải là hữu danh vô thực, mà phải là từ cái thực ấy làm nổi lên cái danh, đó
mới là cái đáng quý, đó mới là người sống đúng chính danh. Trong xã hội ta
hiện nay đang không ít kẻ hữu danh vô thực, có người dựa vào chỗ này, chỗ
kia để cố tạo ra cái danh cho mình, còn thực chất trình độ, năng lực và phẩm
chất rất yếu kém. Những con người đó chúng ta cần phải lên án, đấu tranh để
cho những người có tài, có đức thực sự được đứng vào vị trí ấy, hàng ngũ ấy
để họ cống hiến nhiều hơn cho xã hội và cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ văn minh ở nước ta được tốt hơn. Khổng Tử cũng
nhấn mạnh muốn trị nước trước tiên phải sửa mình cho chính danh, vì nếu
“danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc không
thành, việc không thành thì lễ nhạc không hưng thịnh, lễ nhạc không hưng
thịnh thì hình phạt không đúng, hình phạt không đúng thì dân không biết đặt
tay làm, đặt chân đứng vào đâu”. Để đạt được chính danh, ông đã đề cao tư
tưởng nhân trị, ông mong muốn vừa bằng giáo hoá, vừa bằng sự nỗ lực của
bản thân mỗi cá nhân mà con người có thể đạt được điều nhân, có thể tự sửa
mình cho hợp với lễ, và như vậy cũng tự bản thân họ ắt sẽ đạt được chính
danh. Đây là một mong ước chính đáng, tốt đẹp, một tư tưởng nhân từ, “trọng
hiền” của ông, nhưng chỉ tiếc rằng trong xã hội loạn lạc ấy không thể dùng lễ
chung, quan niệm của Khổng Tử nói riêng. Đây cũng chính là những gì
9
mà Khổng Tử và phái Nho gia đã cố gắng làm trong những năm trước
của thời kỳ cổ đại ở Trung Quốc.
Nhìn chung, tư tưởng của Khổng Tử về nhân – lễ – chính danh có nhiều
điểm hợp lý, có nhiều đóng góp cho tư tưởng triết học về chính trị xã hội của
nhân loại, nhiều nội dung mang giá trị nhân văn, vĩnh hẵng như:Tư tưởng “ái
nhân”, “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”…Trong thời đại ngày nay, khi cách mạng
khoa học kỹ thuật và công nghệ đang ngày càng đi sâu vào mọi lĩnh vực của
cuộc sống, thúc đẩy xã hội phát triển mạnh về mọi mặt, thì nó cũng đang làm
cho tình người khô khan hơn, một số tổ chức phản động, lưu vong ra sức tìm
cách chia rẽ tình đoàn kết dân tộc, tình cảm giữa con người với con người…tư
tưởng nhân – lễ – chính danh của Khổng Tử càng tỏ rõ vai trò to lớn của mình
trong quá trình giáo dục nhân cách của con người, trong tiến trình phát triển
chung của toàn xã hội.
Tuy nhiên, trong tư tưởng của học thuyết này vẫn còn một số hạn chế
nhất định, như tư tưởng nhân của ông còn mang tính giai cấp, ông quả
quyết rằng người quân tử mà phạm vào điều bất nhân còn có thể có, chứ
chưa từng thấy kẻ tiểu nhân mà làm được điều nhân (Luận ngữ, hiến văn),
nghĩa là chỉ người quân tử mới có thể làm được và trở thành đức nhân, còn
kẻ tiểu nhân thì không bao giờ có được đức nhân. Do bị ước thúc bởi lễ để
quy về chính danh, nên trên thực tế nhân không vượt ra khỏi được lễ. Tư
tưởng về lễ còn một số nội dung mang tính chất hà khắc, áp đặt, bảo thủ.
Tư tưởng về chính danh chưa dám nói lên sự vận động, phát triển của nó
trong quần chúng nhân dân, nhất là giai cấp nông dân, những người dân lao
động. Từ đây đặt ra cho những người nghiên cứu phải biết “gạn đục khơi
trong”, biết chắt lọc và kế thừa những tư tưởng tiến bộ, phù hợp để vận
ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… nước ta,
trong đó có sự ảnh hưởng không nhỏ của tư tưởng Nho giáo, đặc biệt là tư
tưởng về nhân – lễ – chính danh của Khổng Tử.
11
Khái niệm gia đình văn hoá do Bộ văn hoá kết hợp với Trung ương Hội
liên hiệp phụ nữ Việt Nam nêu ra ngày 12-5-1975, được hiểu như là một mục
tiêu để phấn đấu xây dựng gia đình ở nước ta. Gia đình văn hoá cũng được coi
là một kiểu gia đình mới khác với kiểu gia đình truyền thống, khác với kiểu
gia đình cũ trong các chế độ xã hội phong kiến, thực dân; bởi vì trong gia
đình hiện nay ngoài những yếu tố truyền thống đã được chọn lọc, kế thừa và
phát huy còn có những yếu tố mới của thời đại mới, nhất là những yếu tố mới
nảy sinh từ trong công cuộc đổi mới của chúng ta hiện nay.Trong một gia đình
hiện nay phần lớn là kiểu gia đình hai hoặc ba thế hệ, trong đó thường có ông
bà, cha mẹ và con cháu; kiểu gia đình này khá phổ biến ở vùng nông thôn Việt
Nam. Vì vậy, quá trình xây dựng gia đình văn hoá chúng ta cần chú ý đặc
điểm gia đình ở các vùng miền, cũng như sự ảnh hưởng của điều kiện bên
ngoài đến từng kiểu gia đình ấy.
Do điều kiện lịch sử xã hội từng thời kỳ khác nhau, nên việc xây dựng
gia đình văn hoá ở mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể cũng không giống nhau, tiêu
chí xây dựng khác nhau, sự ảnh hưởng của các yếu tố đến quá trình xây
dựng cũng khác nhau, nhưng trong giai đoạn hiện nay nói đến xây dựng gia
đình văn hoá là phải nói đến gia đình có đời sống kinh tế, vật chất ổn định,
phát triển; có đời sống văn hoá, tinh thần phong phú, lành mạnh; có các
thành viên trong gia đình luôn hoà thuận, dân chủ, vợ chồng bình đẳng, con
cháu yêu quý và kính trọng ông bà, cha mẹ, còn cha mẹ, ông bà phải yêu
thương và có trách nhiệm với con cháu, biết kính trên nhường dưới, trong
gia đình luôn có tôn ti trật tự, có kỷ cương nề nếp; mọi thành viên trong gia
gần đây, tình hình kinh tế ổn định và phát triển, thu nhập của đại đa số nhân
dân được nâng lên, đời sống ngày một khá hơn, nên không ít các gia đình đã và
đang thể hiện lòng thành tín, nhớ tới cội nguồn bằng việc tu sửa nhà thờ, xây
cất mồ mả.v.v. Nếu lọc bỏ những hạn chế (lãng phí, ganh đua…của các gia
13
đình) trong lĩnh vực này chúng ta sẽ thấy giá trị văn hoá của đời sống gia đình
ở trong đó.
Hiếu vốn là nội dung của đạo đức gia đình truyền thống, được hình thành
từ rất xa xưa và gắn liền với phong tục, tín ngưỡng, thờ cúng tổ tiên, từ khi có
ảnh hưởng tư tưởng nhân – lễ – chính danh của Khổng Tử đã phát triển lên với
nhiều nét mới đặc sắc, thậm chí nó còn phát triển vượt ra ngoài phạm vi gia đình
trở thành luân lý xã hội. Việc kính trọng người cao tuổi, kính trọng ông bà, cha
mẹ, anh em, những người có công sinh thành và dưỡng dục là nét đẹp của đạo
hiếu dân tộc ta. Do đó, quá trình xây dựng gia đình văn hoá mới ở nước ta hiện
nay cần phát huy, phát triển nội dung này. Tư tưởng hiếu lễ của Khổng Tử vừa
như một tiêu chí, vừa như những lời nhắc nhở mọi người trong gia đình không
bao giờ được lãng quên hay xem nhẹ. Hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau
đã và đang dẫn đến tình trạng một số gia đình có con, cháu ăn chơi, đua đòi, bất
nghĩa, bất hiếu, chẳng những không phụng dưỡng được ông bà, cha mẹ mà còn
lăng mạ, bỏ rơi hoặc anh em, con cháu chia nhau chăm sóc theo kiểu bị bắt buộc
phải nuôi. Để đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hoá ở nước ta hiện
nay, chúng ta cần tích cực đấu tranh, lên án những hành vi bất hiếu ấy, tăng
cường công tác giáo dục của mọi gia đình và toàn xã hội.
Tư tưởng về nhân – lễ – chính danh của Khổng Tử cho chúng ta thấy các
thành viên trong mỗi gia đình phải luôn có trách nhiệm với nhau, người trên
phải làm gương, dạy dỗ chỉ bảo cho người dưới. Con cái nếu có lỗi thì cha mẹ
phải trách cứ, em có lỗi thì anh chị phải chỉ bảo nghiêm khắc trên nền tảng
vươn lên và thành đạt trong cuộc sống. Nhưng cũng cần phải lên án khi ở trong
xã hội ta hiện nay còn một số gia đình quá coi nặng về vật chất, làm phai nhạt,
thậm chí đánh mất đi tình cảm yêu thương đó, mọi người trong gia đình đòi phân
chia tài sản, khi bố mẹ về già cần sự chăm sóc của các con thì con cái cũng lại
“chia ra” phần trách nhiệm, hoặc gia đình nào bố mẹ có nguồn thu cao thì lại
15
tranh giành nhau “chăm sóc” để lấy của “hồi môn”.v.v. Những hành vi đó đã và
đang làm kìm hãm phong trào xây dựng gia đình văn hoá của nước ta hiện nay.
Tư tưởng nhân – lễ – chính danh của Khổng Tử còn toát lên đức tính cần
cù, siêng năng, chịu khó của con người; đức tính này không chỉ cần cho xã
hội, mà còn rất cần cho mỗi gia đình, sự kết hợp tốt đức tính này với các
phẩm chất khác của mỗi người sẽ làm tăng thêm của cải vật chất cho gia đình
và xã hội. Người phụ nữ nhất thiết phải thực hiện được “công, dung, ngôn,
hạnh”, phải luôn biết lấy chữ công làm đầu. Đấng nam nhi phải làm được và
giám làm những công việc nặng nhọc, khó khăn. Vợ chồng, con cái hoà thuận
cùng tích cực làm ăn, cùng nhau chăm lo xây dựng, phát triển kinh tế gia
đình, tích cực tham gia vào phong trào xoá đói giảm nghèo, xây dựng gia đình
có ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo. Đặc biệt, những gia đình có
thu nhập thấp, đời sống còn nhiều khó khăn, nếu ngại việc, lười biếng, sợ khó,
ngại khổ, thích ăn ngon, mặc đẹp, thích nhà cao cửa rộng mà không chịu tìm
việc làm thì chẳng những ước muốn ấy không bao giờ đạt được, mà còn ngày
càng nghèo đi, khó khăn càng khó khăn thêm, không khí trong gia đình ắt sẽ
nặng nề, tình cảm con người trong đó cũng dễ bị sứt mẻ và như vậy sẽ không
thể xây dựng được gia đình văn hoá.
Xã hội muốn bình yên, thịnh trị thì phải có (lễ) các quy định, chuẩn mực
hay luật pháp, gia đình muốn hiền hoà phát triển thì phải có tôn ti trật tự, phải
có những quy định riêng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình. Mọi
hóa, ngoại lai; cách cư xử với người xung quanh, lối sống đua đòi, trụy lạc,
thực dụng, mất nhân tính…đang có xu hướng làm mất dần những nét đẹp
truyền thống của dân tộc bốn ngàn năm văn hiến. Cảnh chia ly của những
người thân, cảnh tù tội của những thành viên trong gia đình do không giữ
được đức nhân, vi phạm vào lễ nhạc, không thực hiện được chính danh, mà
phạm vào nhiều tội lỗi như tham nhũng, đánh, giết nhau, đua xe trái
phép.v.v. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần tăng cường hơn nữa công tác giáo
17
dục, tuyên truyền vận động thực hiện nếp sống văn hoá, lối sống có văn hoá
tới mọi người, mọi tổ chức, mọi cơ quan, đơn vị, tạo ra môi trường văn hoá
lành mạnh ở mọi lúc, mọi nơi.
Qua quá trình học tập, nghiên cứu tư tưởng triết học Nho gia về nhân – lễ
– chính danh của Khổng Tử chúng ta không chỉ thấy rõ những giá trị sâu sắc
của Triết học Nho gia trong xã hội Trung Quốc cổ đại trước đây, mà còn thấy
rõ vai trò không nhỏ của triết học Nho gia trong quá trình xây dựng xã hội
mới, xây dựng gia đình văn hoá ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.Nếu chúng
ta biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng của Triết học Nho gia vào quá
trình xây dựng gia đình văn hoá, thì sẽ đạt được những kết quả to lớn và góp
phần không nhỏ vào việc thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hoá Việt nam
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn hội nhập, đổi mới, xây dựng
đất nước hiện nay.
KẾT LUẬN
Học thuyết về nhân – lễ – chính danh của Khổng Tử có nội dung vừa
sâu sắc, phong phú, vừa linh hoạt; mục đích của học thuyết là nhằm góp phần
xây dựng một xã hội nhân ái, nhân văn, êm đềm, nên đều có thể vận dụng vào
6. Nguyễn Hữu Vui, lịch sử triết học , Nxb CTQG, H. 1995.
7. Nguyễn Tài Thư, ảnh hưởng của các hệ tư tưởng tôn giáo đối với con
người Việt Nam hiện nay, Nxb CTQG, H.1997.