MỞ ĐẦU
-1. Lý do chọn đề tài
Khi nói về thể loại romance, có rất nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã đưa
ra những khái niệm về thể loại này. Theo PGS,TS Nguyễn Thị Nhung,
romance là tác phẩm viết cho giọng hát có phần đệm của nhạc đàn [13,
tr125]. Nhưng theo GS.NSND Nguyễn Trung Kiên – giáo sư đầu ngành về
thanh nhạc của Việt Nam thì romance là những tác phẩm thanh nhạc
mang tính chuyên nghiệp cao trên cơ sở âm nhạc được phát triển biểu
hiện nội dung của lời thơ và phần đệm viết cho đàn piano [2,tr 29]. Thể
loại romance có vị trí quan trọng trong nghệ thuật thanh nhạc nói chung và
đào tạo thanh nhạc nói riêng. Các tác phẩm romance thường có giai điệu
đẹp với phần đệm piano hết sức đặc sắc. Tuy nhiên để thể hiện được vẻ
đẹp của các romance đòi hỏi người nghệ sỹ phải nắm bắt được những kỹ
thuật thanh nhạc, sự am hiểu về nội dung tác phẩm cũng như phong cách
của tác giả.
Hiện nay, trong chương trình giảng dạy thanh nhạc bậc Đại học, Cao đẳng
ở các trường chuyên nghiệp, romance đã trở thành tác phẩm bắt buộc cho
tất cả SV trong các học kỳ của khóa học. Song song với aria, việc luyện
tập các bản romance sẽ giúp SV hoàn thiện giọng hát, phát triển các kỹ
thuật hát liền giọng (cantilena), hát nhỏ dần (diminueldo), hát to dần
(crescendo), rung láy (trillo), … và nghệ thuật biểu diển. Chính vì vậy,
romance là một thể loại rất quan trọng không thể thiếu trong chương trình
đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp.
Nhận thấy vai trò quan trọng của romance trong đào tạo nên trong chương
trình giảng dạy thanh nhạc bậc Cao đẳng của trường ĐHHL hiện nay đã
đưa thể loại tác phẩm này vào giảng dạy cho SV. Tuy nhiên, phần lớn mới
chú trọng nhiều đến các tác phẩm romance của các nhạc sĩ nước ngoài
như: Hát ru, Mùa xuân mong ước của nhạc sĩ F.Schubert; Hát ru, Khúc hát
của cô gái digan của P.Tchaikovsky; Lời ca tung cánh, Con bướm của
F.Mendelssohn; Bài ca nàng Solveig, Bông hoa súng của E.Grieg; Giấc
mơ, Họa mi say đắm hoa hồng của S.Rachmaninov; Chim Sơn Ca, Hát
có chất lượng cao phục vụ phong trào ca hát quần chúng của tỉnh nhà. Với
mục tiêu như vậy nên việc đưa các romance của nhạc sỹ Đặng Hữu Phúc
vào chương trình giảng dạy thanh nhạc của trường ĐHHL là hết sức cần
thiết.
Với những lý do trên tôi chọn đề tài: “Đưa một số romance của nhạc sỹ
Đặng Hữu Phúc vào giảng dạy cho giọng nữ hệ Cao đẳng Thanh
nhạc trường Đại học Hạ Long” với mong muốn góp một phần nâng cao
chất lượng đào tạo thanh nhạc tại ngôi trường này.
-2. Lịch sử đề tài
Là một ngành ra đời rất sớm tại Việt Nam, ngành thanh nhạc luôn chiếm vị
trí hàng đầu về số lượng giảng viên, HSSV tại các cơ sở đào tạo âm nhạc
trên cả nước nên đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà sư phạm
hàng đầu, nhiều luận văn cao học đã đề cập đến lĩnh vực biểu diễn và đào
tạo thanh nhạc, trong đó có giảng dạy romance như:
GS.NSND Nguyễn Trung Kiên (2001),”Phương pháp sư phạm thanh
nhạc”, NXB Âm nhạc – Hà Nội (tái bản lần 2 – năm 2014). Trong công
trình này, GS.NSND Nguyễn Trung Kiên đã trình bày một cách hệ thống
phương pháp học hát, bao gồm lý thuyết và thực hành; giải thích một cách
khoa học các vấn đề về kỹ thuật thanh nhạc, trường phái thanh nhạc cũng
như phương pháp áp dụng trong giáng dạy và học tập thanh nhạc ở Việt
Nam. Đồng thời, tác giả đề cập đến romance, vai trò của romance trong
đào tạo thanh nhạc (Tr 29) và luyện tập các kỹ thuật hát (Tr 104 – Tr 110)
Nguyễn Thanh Duyên – Luận văn Cao học (2016)“Giảng dạy các tác
phẩm romance cho giọng nữ cao trường Đại học Sư phạm và Nghệ thuật
Trung ương”. Luận văn đánh giá một số thực trạng trong giảng dạy
romance giọng nữ cao tại trường Đại học Sư phạm và Nghệ thuật Trung
ương. Trên cơ sở những tồn tại hạn chế, tác giả đã đề xuất một số
phương pháp nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng dạy và học romance
-4. Mục tiêu nghiên cứu
- Đưa một số romance của nhạc sỹ Đặng Hữu Phúc vào chương trình đào
tạo thanh nhạc.
- Đề xuất phương pháp giảng dạy các romance của nhạc sỹ Đặng Hữu
Phúc cho SV thanh nhạc trường ĐHHL.
-5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Sưu tầm, hệ thống, phân loại, phân
tích tư liệu để từ đó đề xuất các giải pháp mà mục tiêu nghiên cứu đưa ra.
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: tiến hành dạy thực nghiệm một
số romance của Đặng Hữu Phúc nhằm kiểm chứng các đề xuất đã được
đề xuất trong luận văn.
-6. Những đóng góp của đề tài
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về việc“Đưa một số romance của
Đặng Hữu Phúc vào giảng dạy cho giọng nữ hệ Cao đẳng thanh nhạc tại
trường Đại học Hạ Long”, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần:
- Bổ sung các romance của Đặng Hữu Phúc vào chương trình đào tạo
thanh nhạc hệ Cao đẳng. Trên cơ sở đó thống nhất được phương pháp
giảng dạy và học tập romance trong tổ bộ môn.
- Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy romance cho giọng nữ đồng
thời nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập thanh nhạc tại khoa Nghệ
thuật, trường ĐHHL.
- Là cơ sở để bổ sung, hoàn thiện chương trình giáo trình giảng dạy thanh
nhạc phù hợp với thực tiễn và yêu cầu của trường địa phương.
- Bổ sung nguồn tài liệu tham khảo cho giảng viên và SV tổ Thanh nhạc
trong quá trình dạy và học romance.
- Là tư liệu tham khảo cho giảng viên và sinh viên trường ĐHHL và các cơ
- Âm vực: được ghi sẵn tầm cữ ở đầu mỗi tác phẩm
- Phần đệm: nhiều bài gần với giai điệu
- Hơi thở: rất linh hoạt và đa dạng
- Kỹ thuật hát: gọn tiếng và mềm mại
- Phát âm nhả chữ: rõ lời, mềm mại theo ngôn ngữ Việt Nam
1.2. Thực trạng giảng dạy romance cho giọng nữ
1.2.1. Đôi nét về khoa Nghệ thuật và tổ Thanh nhạc trường ĐHHL
1.2.1.1. Trường Đại học Hạ Long, khoa Nghệ thuật
- Được thành lập năm 2005, theo Quyết định số 1869/QĐ-TTg ngày
13/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ.
- Đội ngũ giảng viên: trên 30 cán bộ, giảng viên
- Cơ cấu tổ chức: 7 phòng, 9 khoa, 7 trung tâm trực thuộc
*Khoa Nghệ thuật
- Tổng số GV: 40 giảng viên
- Cơ cấu tổ chức: 6 tổ bộ môn
- Tổng số HSSV: 220 HSSV
§1.2.1.2. Tổ Thanh nhạc
- Tổng số HSSV GV: 5 GV
- Tổng số HSSV: 35 (20 SV hệ Cao đẳng)
o1.2.2. Chương trình và tài liệu học tập
§1.2.2.1. Chương trình Cao đẳng Thanh nhạc và chương trình chi tiết
* Ưu điểm: thể hiện rõ mục tiêu, nhiệm vụ cũng như thời gian học tập
của một chương trình đào tạo ngành Thanh nhạc bậc Cao đẳng chính quy.
Nội dung chi tiết của các học phần đã quy định rõ các số lượng ĐVHT mà
SV cần tích lũy, đáp ứng đủ mỗi kỳ cho mỗi năm học.
* Hạn chế: tỉ lệ các khối kiến thức trên ta thấy khối kiến thức giáo dục
Đại cương chiếm tỉ lệ tương đối cao trong khi kiến thức chuyên ngành lại
chiếm tỉ lệ thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo chuyên sâu đối với
được trang bị.
* Hạn chế:
- Chọn bài chưa thực sự phù hợp với giọng hát của SV
+ Lựa chọn các mẫu luyện thanh chưa phù hợp với kỹ thuật có trong
tác phẩm
- Phối hợp chưa hiệu quả các phương pháp dạy học:
+ Việc giảng dạy romance Việt Nam hiện nay của các GV thanh nhạc
còn mang tính tự phát, chưa có sự thống nhất về phương pháp giảng dạy.
+ Các GV còn nghiêng nhiều về phương pháp thị phạm, ít thuyết trình,
ít sư dụng phương pháp trực quan để kểm tra, uốn nắn, sửa chữa kịp thời
khi SV thực hiện chưa đúng.
- Thực hiện phần đệm: các GV thanh nhạc và các GV đệm hát đều
không đệm đúng phần đệm của tác giả đã viết nên đã ảnh hưởng đến cảm
xúc khi thể hiện tác phẩm của SV.
1.2.3.2. Tình hình học tập romance của sinh viên
* Ưu điểm: Đa số các em luôn ý thức được tầm quan trọng của việc
học romance Việt Nam nên các em rất chăm chỉ luyện tập, tiếp thu bài tốt.
+ Việc được học các romance Việt Nam, là ngôn ngữ của giao tiếp
hàng ngày nên SV tiếp thu bài nhanh hơn so với những tác phẩm nước
ngoài.
*Hạn chế: việc vận dụng các kỹ thuật trong thanh nhạc như: hơi thở,
kỹ thuật hát, phát âm nhả chữ, xử lý tình cảm sắc thái, phối hợp với phần
đệm và kỹ thuật biểu diễn,…còn nhiều hạn chế.
+ Chưa chăm học, còn ỉ lại GV và các phương tiện nghe nhìn, chưa
có ý thức tự rèn luyện tư duy sáng tạo để thể hiện tác phẩm.
+ Hạn chế về ngôn ngữ, tính tư duy, cảm xúc âm nhạc và phong cách
biểu diễn.
-Tiểu kết chương 1
- Phù hợp với đặc điểm giọng hát của sinh viên
2.1.1.Những tác phẩm romance cho năm thứ nhất
Trong năm thứ nhất, SV được học các kỹ thuật cơ bản về hơi thở,
khẩu hình, vị trí âm thanh, tập hát chuyển giọng, dần từng bước thống
nhất vị trí âm thanh, âm sắc với các nguyên âm ở các âm khu trung và
trầm qua kỹ thuật Canilena và Staccato.
Các romance được bổ sung: Tôi vẫn hát, Ru con mùa Đông và Trăng
chiều.
Gợi ý: Trăng chiều, Ru con mùa đông phù hợp hơn với giọng trữ tình
nhẹ.
2.1.2.Những tác phẩm romance cho năm thứ hai
Ở năm thứ hai, SV tiếp tục học tập và phát triển kỹ thuật theo hướng
của năm thứ nhất. Tập trung mở rộng âm vực, rèn sự linh hoạt cho giọng
hát, rèn hơi thở sâu, nén chắc, điều tiết đều đặn, khẩu hình linh hoạt, âm
thanh tròn, sáng, có độ vang nhất định qua kỹ thuật passage, phối hợp
giữa cantilena với staccato. Đây là giai đoạn thích hợp để GV xác định và
đào tạo SV theo các dòng nhạc.
Các romance đượcbổ sung: Lá Thu, cơn mua sang đò và Lời ru cao
nguyên
Gợi ý: Lởi ru cao nguyên phù hợp phong cách nhạc nhẹ, Cơn mưa
sang đò phong cách Dân gian.
2.1.3.Những tác phẩm romance cho năm thứ ba
Giải quyết các nhiệm vụ kỹ thuật cơ bản để trở thành thói quen đúng
như hơi thở, khẩu hình, âm thanh và các kỹ thuật hát cantilena, staccato,
passage và kỹ thuật hát diminueldo-crescendo,…phát triển âm vực tối đa
có thể, giọng nữ cao phải đạt các tiêu chí đúng khi hát ở âm khu cao. Đi
sâu vào đào tạo theo từng dòng nhạc, đi sâu vào thể hiện tư tưởng nghệ
thuật, phong cách của tác giả và phát triển năng lực biểu diễn cho SV
Các romance được bổ sung năm thứ ba: Ru con trong mưa mùa
Sự mềm mại của tiếng hát: là sự nhẹ nhàng, êm ái, bay bổng của
tiếng hát. Để tạo được sự mềm mại cho giọng hát, GV hướng dẫn SV
luyện tập và vận dụng có hiệu quả các kỹ thuật hát: liền tiếng (cantilena),
hát sắc thái to dần, nhỏ dần (diminueldo-crescendo), hát luyến, láy, rung
và thể hiện bài
Ngoài ra, cần phối hợp nhịp nhàng giữa hơi thở đều đặn, khẩu hình
linh hoạt, phát âm nhả chữ rõ lời trong quá trình hát để tiếng hát được gọn
tiếng và mềm mại.
- Phương pháp giảng dạy: thuyết trình thị phạm, trực quan..
o2.2.3. Sắc thái tình cảm.
Để SV thể hiện được sắc thái tình cảm các romance của Đặng Hữu
Phúc được tốt, GV cần tập trung vào phân tích, thị phạn và hướng dẫn SV
một số vấn đề sau:
- Hiểu biết tác giả, tác phẩm
+ Giảng viên hướng dẫn hoặc cung cấp những thông tin cần thiết về
tác giả.
+ GV hướng dẫn SV tìm hiểu nội dung tác phẩm qua lời ca, qua xuất
xứ của bài.
- Kết nối cảm xúc với tác phẩm: dẫn dắt các em tạo được hình ảnh
thực trong tâm trí sao cho thật giống với ngữ cảnh của bài hát, biết cảm
nhận, làm sống động các hình ảnh đó.
- Hướng dẫn SV vận dụng các kỹ thuật thanh nhạc vào thể hiện sắc
thái tình cảm tác phẩm.
Ngoài ra: cần đa dạng hóa các hình thức dạy học để gây hứng thú
cho SV đối với tác phẩm; cho SV nghe các romance của Đặng Hữu Phúc
do nhiều ca sỹ khác thể hiện; khơi gợi cảm xúc, để SV không những biết
lồng cảm xúc vào giọng hát của mình, mà còn biết thể hiện cảm xúc đó
thể hiện những tác phẩm có tiết tấu nhanh, diễn tả sự nhanh nhẹn, hoạt
bát của tác phẩm, kỹ thuật này cũng có trong romance Lời ru cao
nguyêncủa Đặng Hữu Phúc .
-Mẫu luyện kỹ thuật passage
-Kỹ thuật hát sắc thái to dần và nhỏ dần(diminueldo – crescendo): là
cách hát to dần hoặc nhỏ dần trên một ca từ hoặc một câu hát một cách
đều đặn, liên tục không bị gãy âm thanh, không bị ngắt quãng. Kỹ thuật
này có trong rất nhiều romance của Đặng Hữu Phúc như Ru con trong
mưa mùa xuân, Ru con mùa đông, Bên dòng sông năm tháng, Trăng
chiều, Tôi vẫn hát (mẫu luyện)
-Kỹ thuật luyến láy: có trong rất nhiều tác phẩm, nhất là những tác
phẩm mang phong cách dân gian để tạo sự mềm mại tinh tế cho giai điệu
như Cơn mưa sang đò.
-Mẫu luyện kỹ thuật hát luyến
-Mẫu luyện kỹ thuật hát láy
-Mẫu luyện thanh rèn cách hát ngắt hơi thở
Sự biểu cảm trong các romance của Đặng Hữu Phúc là rất phong phú
với những câu hát dài ngắn khác nhau nên đòi hỏi hơi thở cũng cần mềm
dẻo và linh hoạt hơn. Cách hát ngắt hơi này có trong romance Lá thu,
Trăng chiều, Bên dòng sông năm tháng.
o2.3.3. Sự kết nối giữa phần hát với phần đệm
Đặc điểm nổi bật trong romance của Đặng Hữu Phúc đó là rất giàu
cảm xúc, những cảm xúc đó được thể hiện ở sắc thái từng câu, từng chữ,
từng đoạn của bài, bởi vậy rất cần có sự kết hợp ăn ý giữa người đệm và
người hát ở những chỗ chuyển sắc thái và chuyển cảm xúc.
Khi thể hiện romance của Đặng Hữu Phúc, phần đệm phải gắn kết
được với giọng hát, người đệm và người hát phải có sự luyện tập nhuần
nhuyễn với nhau trong từng câu, từng đoạn của bài nhát là những chỗ
như sau:
Bước 1: Luyện tập hơi thở (từ 5 - 7 phút/buồi học)
Bước 2 Luyện thanh (10 phút/buổi học)
Bước 3: Giới thiệu nội dung romance Ru con trong mưa mùa xuân
Bước 4: Hướng dẫn SV xướng âm trước khi hát
Bước 5: Xử lý hơi thở
Bước 6: Luyện tập hát gọn tiếng và mềm mại
Bước 7: Xử lý tình cảm sắc thái tác phẩm
Bước 8: Hướng dẫn sinh viên tự học
Bước 9: Hướng dẫn SV hát với phần đệm.
*Thực nghiệm 2: Ở tổ bộ môn với 12 SV ở các năm khác nhau vào học
kỳ 2 năm 2017 – 208).
2.4.2. Kết quả dạy thực nghiệm
Qua một học kỳ áp dụng phương pháp pháp dạy mới cho 2 SV nữ
cho thấy các em đã có tiến bộ rõ rệt trong cách hát. SV đã vận dụng khá
tốt các kỹ thuật thanh nhạc vào thể hiện tác phẩm, xử lý sắc thái tình cảm
có chiều sâu của nội tâm và tinh tế hơn.
Với phương pháp giảng mới này khi áp dụng cho 12 SV ở các năm,
chúng tôi thấy các em SV học tập sôi nổi hơn, tiếp thu bài tốt hơn. Chúng
tôi cũng đã nhận được sự ủng hộ của tất các các GV trong tổ Thanh nhạc.
Qua bảng tổng hợp kết quả điều tra cho thấy: Số SV hứng thú khi
được học romance của Đặng Hữu Phúc là: tỉ lệ rất thích: 67%, tỉ lệ thích:
16.5%, tỉ lệ bình thường: 16.6%, tỉ lệ không thích: 0%. Kết quả này chững
minh rằng tất cả SV đều thích học romance của đặng Hữu Phúc.
Việc hưởng ứng khi đưa các romance của Đặng Hữu phúc vào
chương trình đào tạo cũng đạt kết quả rất khả quan với tỉ lệ lên tới 83%
hưởng ứng, 16.7% là hưởng ứng và có ý kiến xây dựng, không có phiếu
nào là không hưởng ứng. Bên cạnh đó, SV đã thấy được tầm quan trọng
chuyên nghiệp của trường ĐHHL.
Chính vì những bất cập đã nêu trong luận văn, chúng tôi muốn góp
một phần nhỏ trong việc đổi mới và nâng cao phương pháp giảng dạy
thanh nhạc tại trường ĐHHL với đề tài “Đưa một số romance của nhạc sỹ
Đặng Hữu Phúc vào giảng dạy cho giọng nữ hệ Cao đẳng trường Đại học
Hạ Long”
Luận văn gồm 2 chương.
Ở chương thứ nhất, chúng tôi đã tìm hiểu 60 bản romance và ca
khúc của nhạc sỹ Đặng Hữu Phúc, chúng tôi thấy đây là những tác phẩm
thanh nhạc có tính ứng dụng cao trong đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp
cũng như trong nghệ thuật biểu diễn. Trong đó, đặc điểm nổi bật của các
romance này là những tác phẩm thanh nhạc mang tính chuyên nghiệp cao
trên cơ sở được phát triển nội dung của lời thơ và phần nhạc đệm được
viết cho đàn piano. Chúng tôi cũng nghiên cứu và đưa ra một số đặc điểm
cần lưu ý khi hát các romance này.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm hiểu chương trình, giáo trình giảng
dạy cho thấy các romance của Việt Nam con quá ít. Vì vậy, việc đưa một
số romance của Đặng Hữu Phúc vào giảng dạy làm phong phú thêm
chương trình, phù hợp với thực tế đào tạo thanh nhạc tại ĐHHL là rất cần
thiết. Chúng tôi cũng đã tìm hiểu phương pháp giảng dạy của các GV
thanh nhạc cho thấy, chưa có sự thống nhất trong giảng dạy, chưa có tiêu
chí chọn bài cho từng năm, phối hợp chưa tốt các phương pháp dạy học,
chưa thực hiện đúng với phần đệm của tác giả,…
Ở chương thứ hai, chúng tôi đã lựa chọn và đưa vào chương trình 9
romance của Đặng Hữu Phúc. Chúng tôi cũng đưa ra một số phương
pháp giảng dạy riêng cho romance của Đặng Hữu Phúc. Chúng tôi cũng
đã đưa ra một số giải pháp khác như: chọn mẫu luyện thanh phù hợp với
tác phẩm, xướng âm trước khi hát, hát với phần đệm,..Chúng tôi đã tiến
hành dạy thử nghiệm cho 2 SV trong một học kỳ học theo mẫu thực
nghiệm ở chương hai, chúng tôi thấy 2 SV này có sự tiến bộ rõ rệt trong
thanh nhạc, các đoàn nghệ thuật trên toàn Quốc.
Phía trường Đại học Hạ Long
Tập trung tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình cho các chuyên
ngành đang đào tạo, đặc biệt là ngành Thanh nhạc.
Hàng năm, tổ chức tập huấn, mời các chuyên gia đầu ngành về đào tạo
để trao đổi phương pháp giảng dạy, tổ chức các hội thảo về chuyên đề sư
phạm thanh nhạc.
Tổ chức chương trình biểu diễn định kỳ, các buổi sinh hoạt âm nhạc theo
chủ đề nhằm trau dồi kỹ năng biểu diễn của GV và SV đồng thời qua đó
củng cố kiến thức âm nhạc cho SV.
Tăng cường GV đệm đàn piano cho bộ môn thanh nhạc và bồi
dưỡng piano đối với đội ngũ GV Thanh nhạc.