Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số dòng lúa lai trở lại có nguồn gốc từ cặp bố mẹ khang dân 18 và đs1 tại trường đại học nông lâm thái nguyên - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯU VIẾT HUỲNH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DÒNG LAI TRỞ LẠI CÓ
NGUỒN GỐC TỪ CẶP BỐ MẸ KHANG DÂN 18 VÀ ĐS1
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN, 2013


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯU VIẾT HUỲNH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DÒNG LAI TRỞ LẠI CÓ
NGUỒN GỐC TỪ CẶP BỐ MẸ KHANG DÂN 18 VÀ ĐS1
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Nguyễn Hữu Hồng

để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả

Lưu Viết Huỳnh


iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN............................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT .............................................................. v
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................ vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ........................................................................................vii
MỞ ĐẦU........................................................................................................................ 1
1. Đặt vấn đề ................................................................................................................... 1
2. Mục tiêu của đề tài ..................................................................................................... 2
3. Yêu cầu của đề tài ...................................................................................................... 2
4. Ý nghĩa của đề tài ...................................................................................................... 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................... 3
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu .................................................................... 3
1.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất giống lúa trên Thế giới và Việt Nam .......... 5
1.2.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên Thế giới ......................................... 5
1.2.1.1. Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới............................................................... 5
1.2.1.2. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống lúa trên Thế giới ............................... 8
1.2.1.3. Tình hình nghiên cứu giống lúa thuộc loài phụ Japonica trên Thế giới.... 20
1.2.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa ở trong nước ....................................... 21
1.2.2.1. Tình hình sản xuất ở trong nước ................................................................... 21

3.6. Khả năng chống đổ của các dòng lúa tham gia thí nghiệm .............................. 71
3.7. Khả năng chống rét của các dòng lúa tham gia thí nghiệm .............................. 74
3.8. Khả năng chống chịu sâu, bệnh của các dòng lúa tham gia thí nghiệm .......... 76
3.9. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất ..................................................... 78
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ...................................................................................... 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 88
PHỤ LỤC .................................................................................................................... 91


v

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

TT

Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ
Tổ chức Nông lương thế giới

1

FAO

2

IRRI

3



Các Quốc gia sản xuất lúa gạo nhiều nhất trên Thế giới
năm 2010 ................................................................................... 5

Bảng 1.2.

Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam trong
mấy thập kỷ gần đây ............................................................... 25

Bảng 2.1:

Các dòng, giống lúa tham gia thí nghiệm ............................... 37

Bảng 2.2:

Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây lúa ...................... 44

Bảng 3.1:

Chất lượng mạ của các dòng lúa tham gia thí nghiệm trong
vụ Mùa 2012 ........................................................................... 54

Bảng 3.2:

Chất lượng mạ của các dòng lúa tham gia thí nghiệm trong
vụ Xuân 2013 .......................................................................... 55

Bảng 3.3:

Thời gian sinh trưởng của các dòng lúa tham gia thí

Bảng 3.10:

Mức độ sâu, bệnh hại của các dòng lúa tham gia thí nghiệm...... 77

Bảng 3.11 - a: Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng lúa tham gia
thí nghiệm ............................................................................... 80
Bảng 3.11 - b: Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng lúa tham gia
thí nghiệm ............................................................................... 83


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ thí nghiệm ..............................................................................39


1

MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Lúa là cây trồng thân thiết, lâu đời nhất của nhân dân ta và nhiều dân tộc
khác trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc ở Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc,
Việt Nam…). Lúa gạo là lương thực chính của người dân Châu Á, giống như
bắp của người dân Nam Mỹ, hạt kê của người dân Châu Phi hoặc lúa mì của
người dân Châu Âu và Bắc Mỹ. Tuy nhiên có thể nói, trên khắp thế giới ở đâu
cũng dùng đến lúa gạo hoặc các sản phẩm từ lúa gạo. Khoảng 40% dân số thế
giới lấy lúa gạo làm nguồn lương thực chính. Trên thế giới có hơn 110 quốc gia
có sản xuất và tiêu thụ gạo với các mức độ khác nhau.
Cây lúa cũng giống như bất cứ cây trồng nào khác sống trong vùng khí
hậu nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới rất mẫm cảm với điều kiện nhiệt độ từ 15 20oC (Yoshida et al 1996; Nakagahara et al. 1997). Sống trong điều kiện nhiệt

thể hệ tiếp theo.
3. Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu đánh giá khả năng của sinh trưởng, phát triển của các
dòng lai trở lại.
- Nghiên cứu đánh giá một số tính trạng đặc trưng của các dòng lai trở lại.
- Đánh giá một số đặc điểm nông sinh học của của các dòng lai trở lại.
- So sánh một số đặc điểm của các dòng lai trở lại Khang Dân 18 và ĐS1.
4. Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa khoa học
- Chọn ra các dòng lúa tốt làm cơ sở phục vụ cho công tác chọn tạo
giống và nghiên cứu về sau.
- Là tài liệu tham khảo cho sinh viên và những người quan tâm.
* Ý nghĩa thực tiễn
- Giới thiệu một số dòng lúa có triển vọng làm nguồn nguyên liệu mới
phục vụ cho công tác chọn, tạo giống.


3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu
Trong mỗi điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng cần có những giống
cây trồng tốt phù hợp với điều kiện canh tác. Vì vậy một trong những biện
pháp kinh tế kỹ thuật nhằm tận dụng các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội là
bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với một vùng hay một đơn vị sản xuất nông
nghiệp. Muốn xác định giống cây trồng hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao, đất
đai là một trong những căn cứ quan trọng sau điều kiện khí hậu, cho nên cần
phải nắm vững mối quan hệ giữa một nhóm cây trồng với đặc điểm đất đai thì
mới xác định được cơ cấu cây trồng hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao. Giống là
tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, cũng như đất

thực tiễn, cải tiến để đưa giống lúa có năng suất khá, chất lượng tốt vào sản
xuất phù hợp với điều kiện của nông dân và vùng sinh thái.
Cần phải thí nghiệm các giống lúa triển vọng, tạo ra sản phẩm hàng hoá
có giá trị kinh tế cao đáp ứng nhu cầu thị trường, sử dụng hợp lý phân bón,
thuốc trừ sâu, giống mới có triển vọng song vẫn đảm bảo có năng suất khá, sử
dụng nước tưới và các biện pháp kỹ thuật không khác nhiều so với tập quán
canh tác của địa phương.
Đối với lúa trong sản xuất hiện nay khi đưa giống mới vào sản xuất
người ta thường quan tâm đến thị hiếu người tiêu dùng và việc tiêu thụ sản
phẩm đó ra sao.
Trong thực tế sản xuất thì mỗi giống lúa đều có ưu, nhược điểm song
sự chuyển dịch cơ cấu giống lúa như thế nào để giải quyết được nhu cầu cấp
bách của người dân nghèo mà vẫn có lợi về mặt tài chính, đem lại hiệu quả
kinh tế cao và phù hợp với đặc điểm của vùng sản xuất, của một không gian,
thời gian nhất định và được người nông dân chấp nhận và mở rộng.
Cơ cấu các giống lúa đang được gieo trồng được chọn dựa trên lợi ích
cho đa số người dân, cơ cấu các giống lúa triển vọng phải được bố trí hợp lý,


5

có độ an toàn, xác suất gặp rủi ro thấp nhất, phù hợp với tập quán canh tác của
địa phương, đảm bảo an toàn hệ sinh thái trong vùng.
1.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất giống lúa trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên Thế giới
1.2.1.1. Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới
Vùng phân bố của cây lúa là khá rộng từ vĩ độ 530B đến vĩ độ 350N.
Trong đó vùng phân bố chủ yếu từ 300B đến 100N, với khoảng trên 100 nước
trồng lúa, năng suất trung bình đạt 43,68 tạ/ha/năm.
Bảng 1.1. Các Quốc gia sản xuất lúa gạo nhiều nhất trên Thế giới năm 2010


143.963.000

3

Inđônêxia

13.253.500

50,15

66.469.400

4

Bangladesh

11.700.000

42,79

50.061.200

5

Việt Nam

7.513.700

53,22


15.771.700

9

Brazil

2.722.460

41,27

11.236.000

10

Pakistan

2.365.000

30,59

7.235.000

Thế giới

159.416.542

43,68

696.324.394

đáng kể nhờ việc mở rộng diện tích đất trồng lúa, cùng với việc đầu tư thâm
canh, sử dụng các giống lúa mới có tiềm năng năng suất cao, xây dựng đường
giao thông, hệ thống thuỷ lợi tưới tiêu, hoàn chỉnh các biện pháp kỹ thuật.
Hiện tại, nhu cầu về phẩm chất lúa gạo rất khác nhau tùy từng vùng và
tập quán ăn uống. Các nước Nhật, Triều Tiên, Trung Quốc, Âu Mỹ thích gạo
mềm, ướt, hơi dẻo (giống japonica). Ngược lại Ấn Độ, Pakixtan, Việt Nam lại
thích gạo nở, cơm khô. Trên thị trường gạo Thế giới, chiều dài hạt, phẩm chất


7

gạo rất được quan tâm. Về chiều dài hạt, Viện IRRI chia ra làm 4 cấp: hạt rất
dài (trên 7,5 mm), hạt dài (6,6 - 7,5 mm), hạt trung bình (5,5 - 6,5 mm) và hạt
ngắn (dưới 5,5 mm). Về màu sắc gạo, phổ biến nhất là màu trắng ngà, song
cũng có màu đỏ hoặc hơi đen. Về hướng phát triển gạo của các nước cũng rất
khác nhau, tùy vào thị trường tiêu thụ của mình mà các nước xuất khẩu gạo
lớn hiện nay tập trung phát triển các loại gạo có chất lượng khác nhau: Thái
Lan tập trung sản xuất phát triển các giống lúa có kiểu hạt dài, chất lượng cao;
tại Mỹ phát triển các giống có kiểu hạt tròn và hạt dài nhưng có chất lượng
cao; trong khi đó Ấn Độ lại phát triển các giống có năng suất cao để ăn và
xuất khẩu sang các nước nghèo (các nước ở Châu Phi).
Việc nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn,
năng suất, chất lượng cao đang được các tổ chức nghiên cứu trên Thế giới quan
tâm. Một số giống lúa có chất lượng đã được công bố như: Khao Dawk Mali;
đây là giống lúa của Thái Lan, phản ứng với ánh sáng thích hợp với đất phèn
nhẹ, đất nhiễm mặn vào mùa khô, có đặc điểm gạo mềm, hạt dài, có mùi thơm,
năng suất đạt 3 - 4 tấn/ha.
Tại Mỹ các nhà khoa học đã chọn lọc ra được giống Jasmine 85 có thời
gian sinh trưởng 100 - 105 ngày, cho năng suất khá (5 - 6 tấn/ha), có chất
lượng cao và có mùi thơm như hoa nhài.

Rice Research Institute (IRRI) ở Los Banos, Philippines đã bắt đầu chương
trình thu thập, bảo tồn và đánh giá các giống cổ truyền và các cây lúa dại từ
năm 1962. Từ khi thành lập IRRI đã tiến hành thu thập nguồn gen cây lúa,
năm 1977 chính thức khai trương ngân hàng gen, tại đây đã thu thập tập đoàn
cây lúa từ 110 Quốc gia trên Thế giới trong bộ sưu tập có hơn 80 nghìn mẫu,
trong đó các giống lúa trồng ở châu Á (O. sativa) chiếm đến 95% [24].
Khoảng 90.000 giống lúa trồng trên khắp Thế giới đã được tồn trữ ở IRRI và
cùng một số lượng giống lúa này được IRRI gửi bảo quản ở Phòng Khảo
nghiệm tồn trữ hạt giống Quốc gia Mỹ (US. National Seed Storage Laboratory)
tại Fort Collins thuộc Bộ Nông nghiệp bang Colorado - Mỹ và ở Viện Quốc
gia Tài nguyên Nông sinh (National Institute of Agrobiological Resources) ở
Nhật Bản. Nhưng sự bảo quản tại các phòng lạnh hiện nay có thể làm ngăn trở


9

sự tiến hóa của các giống lúa này với môi trường. Vì vậy, bảo quản các giống
lúa ngoài ruộng rất cần thiết nhưng tốn kém.
Trong hơn 40 năm tồn tại và phát triển IRRI đã lai tạo, chọn lọc hàng
trăm giống lúa tốt phổ biến khắp Thế giới, tiêu biểu như các giống IR, Jasmin.
IR8 mở đầu cho cuộc cách mạng xanh ở các nước Nam Á và Đông Nam Á.
Tiếp theo là sự ra đời của các giống lúa, mà sự ra đời của các giống này đã tạo
ra sự nhảy vọt về năng suất, phẩm chất lúa như: IR5, IR6, IR20, IR22, IR26,
IR36,... Những năm 80 (thế kỷ XX) giống IR8 được trồng phổ biến ở Việt Nam
đã đưa năng suất lúa tăng cao đáng kể. Cuộc “Cách mạng xanh” từ giữa thập
niên 60 (thế kỷ XX) đã có ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của châu Á.
Nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được tạo ra để nâng cao năng suất và sản lượng lúa
gạo. Các nhà nghiên cứu của viện lúa Quốc tế đã nhận thức rằng các giống lúa
mới thấp cây, lá đứng, tiềm năng năng suất cao cũng chỉ có thể giải quyết vấn
đề lương thực trong phạm vi hạn chế. Hiện nay Viện IRRI đang tập trung vào

Năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp lai có
ưu thế lai cao, đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ "3
dòng" được hoàn thiện và đưa vào sản xuất năm 1975. Năm 1996, Trung
Quốc lại thành công với quy trình sản xuất lúa lai "2 dòng" và đẩy mạnh
nghiên cứu lúa lai 1 dòng và lúa lai siêu cao sản nhằm tăng năng suất và sản
lượng lúa gạo của đất nước [26]. Cụ thể như sau: năm 1973 Shiming Song
phát hiện ra được dòng bất dục mẫn cảm với ánh sáng ngày ngắn (PGMS) từ
giống Nongken 58. Nhiều kết quả nghiên cứu khác về lúa lai hai dòng cũng
đã được công bố. Năm 1991 các nhà khoa học Nhật Bản đã áp dụng phương
pháp gây đột biến nhân tạo để tạo ra dòng bất dục đực mẫn cảm với nhiệt độ
[22]. Chương trình phát triển lúa lai giữa các loài phụ indica và japonica được
bắt đầu từ năm 1987 nhờ sự phát hiện và sử dụng gen tương hợp rộng, mở ra
tiềm năng về năng suất cao cho các giống lúa lai hai dòng [25]. Những tổ hợp
giữa các loài phụ như: Chen 232/26 Zhazao; 3037/02428 và 6154S/vaylava
đưa ra ở Trung Quốc nhưng không được sử dụng trong sản xuất đại trà, vì cây
F1 quá to, bông quá lớn, số dảnh ít, dạng lá rộng. Bởi thế, Yang Z và CS
(1997) [28] đã đề xuất một lý thuyết chọn giống năng suất siêu cao thông qua
việc kết hợp hình dạng lý tưởng và ưu thế lai thích hợp.


11

Nhờ ưu thế hơn hẳn về năng suất nên diện tích trồng lúa lai của Trung
Quốc không ngừng được mở rộng. Năm 1992 diện tích gieo trồng lúa lai của
Trung Quốc là 15.000 ha với năng suất 9-10 tấn/ha, năng suất cao nhất đạt 17
tấn/ha [3]. Năm 1997 đã có 640.000 ha, năng suất trung bình cao hơn lúa lai 3
giống từ 5 - 15% [28]. Đến năm 2001 diện tích lúa lai 2 dòng đạt 2,5 triệu ha.
Một số tổ hợp lai hai giống điển hình có năng suất đạt hơn 10,5 tấn/ha ở điểm
trình diễn và năng suất trung bình trên diện rộng là 9,1 tấn/ha. Đã có những tổ
hợp lúa lai 2 dòng đều mới đạt 12 - 14 tấn/ha trong ô thí nghiệm [27]. Hầu hết

tiếng trên Thế giới cũng chỉ có giá trị 460 Đô la Mỹ /tấn [8].
Mặt khác, Ấn Độ cũng là nước nghiên cứu lúa lai khá sớm và đã đạt
được một số thành công nhất định, một số tổ hợp lai tốt được sử dụng ở Ấn
Độ như; IR58025A/IR9716, IR62829A/IR46, PMS8A/IR46, ORI 161, ORI
136, 2RI 158, 3RI 160, 3RI 086, PA- 103... Một trong những giống lúa chất
lượng cao do các nhà khoa học chọn tạo thành công được nhập về Việt Nam
là giống BTE-1, giống này đã được Bộ Nông nghiệp & PTNT Việt Nam công
nhận năm 2007 [8].
Thái Lan là nước xuất khẩu lúa gạo đứng đầu Thế giới. Với những ưu
đãi của thiên nhiên Thái Lan có vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, mặc dù
năng suất và sản lượng lúa gạo của Thái Lan không cao song họ chú trọng
đến việc chọn tạo giống có chất lượng gạo cao. Các trung tâm nghiên cứu lúa
của Thái Lan được thành lập ở nhiều tỉnh và các khu vực. Các trung tâm này
có nhiệm vụ tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo, nhân giống phục vụ cho
nhu cầu sản xuất của người dân với mục tiêu phục vụ nhu cầu trong nước và
xuất khẩu. Các đặc điểm nổi bật của các giống lúa mà các nhà khoa học tập
trung nghiên cứu và lai tạo đó là hạt gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay sát,
có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất, điều này cho chúng ta
thấy rằng giá lúa gạo xuất khẩu của Thái Lan bao giờ cũng cao hơn của Việt
Nam. Một số giống lúa chất lượng cao nổi tiếng Thế giới của Thái Lan là:
Khaodomali, Jasmin (Hương nhài).
Đối với Nhật Bản, công tác giống lúa cũng được đặc biệt chú trọng về
giống chất lượng cao vì người Nhật giàu có, nên nhu cầu đòi hỏi lúa gạo chất
lượng cao. Để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, các Viện và các Trạm nghiên


13

cứu giống lúa được thành lập ở hầu hết các tỉnh thành của Nhật Bản, trong đó
có các trung tâm quan trọng nhất đặt ở Sendai, Niigata, Nagoya, Fukuoka,


Theo ông Jagadish Mittur - giám đốc Trung tâm nghiên cứu Monsanto
ở Bangalore (Ấn Độ), bộ gen của giống lúa mới được ghép thêm gen của cây
thủy tiên hoa vàng hoặc cây ngô. Giống lúa đang được nghiên cứu và phát
triển ở sáu nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Vì giống lúa mới là sản phẩm
của công nghệ biến đổi gen, các nhà khoa học đang nghiên cứu để xác định
độ an toàn thực phẩm và an toàn môi trường của giống lúa này, trước khi đưa
vào gieo trồng đại trà mang tính thương mại trong vòng 3-4 năm tới [16].
Ngoài châu Á, thì ở Mỹ, năm 1926, J.W Jones đã bắt đầu nêu vấn đề ưu
thế lai của lúa khi khảo sát lúa ở Đài Loan. Có 2 người tham gia vào đề xuất
vấn đề sản xuất lúa lai thương phẩm là Stansent và Craiglules. Trong thời
gian gần đây các nhà khoa học Mỹ không chỉ quan tâm đến việc chọn lọc, lai
tạo và đưa ra những giống lúa có năng suất cao, ưa thâm canh và ổn định, mà
còn nghiên cứu tỷ lệ protein trong gạo, phù hợp với thị trường hiện nay.
Ngoài ra, trên Thế giới còn rất nhiều nhà khoa học đã và đang nghiên cứu các
giống lúa nhằm mục đích đưa ra những giống lúa có năng suất cao, phẩm chất
tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh, thâm canh.
* Sơ lược lịch sử chọn tạo giống lúa trên thế giới
Theo Gurdev S. Khush trong bài khai mạc hội thảo “Lúa lai và sự
thay đổi trong hệ thống nông trang” do hiệp hội các nhà khoa học trẻ có triển
vọng tổ chức tại Đại học Kyushu, Nhật Bản từ 22 - 24/11/2008 cho biết lịch
sử chọn tạo giống lúa trên thế giới chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn chọn lọc: 1901 - 1949
Cây lúa xuất hiện sớm nhất ở khu vực châu Á. Xuất hiện đầu tiên ở
Maligaya (Philippines) vào năm 1902, Nishigahara (Japan) vào năm 1903,
Bogor (Indonesia) năm 1905, Mandalay (Burma) năm 1907…. Đây là khu
vực được coi là cái nôi của nghề trồng lúa nước, là nơi tập trung rất đa dạng
nguồn gen cây lúa. Tuy nhiên ở giai đoạn này chủ yếu là các giống lúa thuần
có năng suất thấp.


giết cỏ như giống lúa có tên là Oryza Nivara, kháng côn trùng với gen Bt,


16

chịu ngập như FR13A, chịu hạn hán, và giống lúa C-4 có khả năng tổng hợp
ánh sáng cao.
* Những thành tựu đạt trong công tác chọn tạo giống lúa mới trên
thế giới
Châu Á là vùng trồng nhiều lúa nhất trong đó có các trung tâm nghiên
cứu hàng đầu về lúa đặt tại đây. Phải kể đến đầu tiên là Viện Khảo cứu Lúa
gạo quốc tế International Rice Research Institute (IRRI) ở Los Banos,
Philippines đã bắt đầu chương trình thu thập, bảo tồn và đánh giá các giống
cổ truyền và các cây lúa dại từ năm 1962. Từ khi thành lập đến nay IRRI đã
lai tạo, chọn lọc hàng trăm giống lúa tốt phổ biến khắp thế giới, tiêu biểu như
các dòng IR, Jasmi. Hiện nay Viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn
tạo ra các giống lúa cao sản (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/ha/vụ, đồng thời phát
huy kết quả chọn tạo 2 giống là IR64 và Jasmin là giống có phẩm chất gạo tốt,
được trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới. Trên cơ sở một số giống lúa chất
lượng cao Viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa
có hàm lượng Vitamin và Protein cao, có mùi thơm, cơm dẻo...) vừa để giải
quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày
càng cao của người tiêu dùng.
Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới sử dụng lúa lai trong sản xuất
đại trà. Năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp
lai có ưu thế lai cao, đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ
"3 dòng" được hoàn thiện và đưa vào sản xuất năm 1975. Năm 1976, diện tích
gieo cấy lúa lai ở Trung Quốc mới là 13,3 nghìn ha cho đến nay lúa lai đã phổ
biến rộng rãi trong cả nước. Năm 1983, bộ Nông nghiệp, Chăn nuôi và nghề
cá của Trung Quốc đã coi lúa lai là hạng mục trọng điểm về tiến bộ kỹ thuật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status