TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN NGỌC TRÂM
HIỆN TƢỢNG CHUYỂN NGHĨA CỦA
NHÓM TỪ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƢỜI
TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI - 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN NGỌC TRÂM
HIỆN TƢỢNG CHUYỂN NGHĨA CỦA
NHÓM TỪ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƢỜI
TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Ngọc Trâm
Mục Lục
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài .................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề ....................................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu .........................................................................................4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .........................................................................................4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ..................................................................................4
6. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................4
7. Bố cục của khóa luận .........................................................................................5
NỘI DUNG ...............................................................................................................6
Chƣơng 1 ...................................................................................................................6
CƠ SỞ LÍ LUẬN ......................................................................................................6
1.1. Nghĩa của từ ....................................................................................................6
1.1.1. Các quan niệm về nghĩa của từ ...................................................................6
1.1.2. Các thành phần nghĩa của từ ......................................................................9
1.1.2.1. Nghĩa biểu vật ............................................................................................9
1.1.2.2. Nghĩa biểu niệm .......................................................................................10
1.1.2.3. Nghĩa biểu thái .........................................................................................11
1.2. Hiện tƣợng chuyển nghĩa của từ .................................................................12
1.2.1. Khái niệm ....................................................................................................12
1.2.2. Các phương thức chuyển nghĩa ................................................................13
1.2.2.1. Chuyển nghĩa ẩn dụ..................................................................................14
1.2.2.2. Chuyển nghĩa hoán dụ..............................................................................19
2.3.3.4. Ẩn dụ chỉ tính chất gần gũi, di truyền ......................................................46
2.3.4. Ẩn dụ trạng thái..........................................................................................46
2.3.4.1. Ẩn dụ chỉ trạng thái trôi chảy của thời gian: ...........................................46
2.3.4.2. Ẩn dụ chỉ trạng thái vất vả, cực nhọc: .....................................................46
2.3.4.3. Ẩn dụ chỉ trạng thái gắn bó mật thiết: .....................................................46
2.3. Chuyển nghĩa hoán dụ của từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời ............................48
2.3.1. Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa bộ phận- toàn thể: ...................................49
2.3.2. Hoán dụ dựa trên quan hệ cơ quan chức năng và chức năng: .................50
2.3.2.1. Hoán dụ bộ phận cơ thể biểu thị trạng thái, tâm lí của con người ............51
2.3.2.2. Hoán dụ bộ phận cơ thể biểu trưng cho suy nghĩ của con người...............52
2.3.2.3. Hoán dụ bộ phận cơ thể biểu trưng phẩm chất, ý nghĩ, tính cách con người
..................................................................................................................................53
Tiểu kết ....................................................................................................................54
Kết luận ...................................................................................................................56
A-
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................58
B – TƢ LIỆU KHẢO SÁT ....................................................................................58
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong kho tàng văn học Việt Nam, tục ngữ, ca dao tựa như những viên ngọc
quý giá. Trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ xưa đến nay, tục ngữ,
ca dao luôn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành tiếng nói của dân tộc, phản
ánh sinh hoạt của nhân dân, biểu hiện của những nhận xét những ý nghĩ của nhân
dân trong cuộc đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội, xây dựng đất nước. Tục
nghiên cứu của khóa luận.
2. Lịch sử vấn đề
Cho đến nay ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về nhóm từ
chỉ bộ phận cơ thể. Nhóm Trịnh Đức Hiển nghiên cứu chúng với tư cách là từ tố
trong các từ ghép, Bùi Khắc Việt nghiên cứu nghĩa biểu trưng của chúng. Nhóm
Nguyễn Trọng Khánh tìm hiểu sự chuyển nghĩa của chúng trong tiếng Lào. Cũng
có tác giả nghiên cứu các thành ngữ có thành tố là các từ chỉ bộ phận cơ thể, như,
Nguyễn Thị Thu khảo sát bản chất văn hoá trong thành ngữ tiếng Việt có từ chỉ tứ
chi người, còn Nguyễn Văn Trào lại xem xét các thành ngữ biểu cảm trong tiếng
Anh có chứa các từ chỉ bộ phận cơ thể người. Nhóm Nguyễn Thị Hoài Nhân thì
hạn chế ở các thành ngữ có từ “ruka”, “hand”, “tay” trong ba thứ tiếng Nga, Anh,
Việt. Một số tác giả tìm hiểu ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm các từ chỉ bộ phận cơ
thể theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận (Lê Thị Kiều Vân), Trịnh Thị Thanh
Huệ, Nguyễn Ngọc Vũ.
Tiêu biểu là Nguyễn Đức Tồn với “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân
tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt (Trong sự so sánh với các dân tộc khác)”.
Trong công trình này tác giả đã nghien cứu đặc điểm của quá trình chuyển nghĩa
của từ chỉ động vật, thực vật, bộ phận cơ thể người (có so sánh giữa tiếng Việt và
2
tiếng Nga). Nhà nghiên cứu đã thống kê số lượng chuyển nghĩa, các phương thức
chuyển nghĩa và đưa ra những kết luận quan trọng như: (1) Xu hướng chuyển
nghĩa chiếm ưu thế trong cả hai ngôn ngữ Nga – Việt là ẩn dụ. Nhưng khuynh
hướng sử dụng ẩn dụ trong các trường từ vựng tiếng Nga mạnh hơn so với các
trường từ vựng Tiếng Việt. Còn xu hướng sử dụng hoán dụ trong các trường từ
vựng tiếng Việt lại mạnh hơn. Điều đó cho phép kết luận, người Nga định hướng
vào tư duy “phạm trù”, người Việt thiên về tư duy hình tượng, cảm giác, hành
động – trực quan; (2) Do chuyển nghĩa ẩn dụ về nguyên tắc có tính biểu cảm hơn
so với chuyển nghĩa hoán dụ cho nên các trường từ vựng ngữ nghĩa tiếng Nga
Cung cấp tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy văn
-
học và tiếng Việt trong dạy và học Văn trong nhà trường phổ thông.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đưa ra hệ thống lí thuyết có liên quan đến đề tài về hiện tượng chuyển
-
nghĩa, các phương thức chuyển nghĩa của từ.
- Khảo sát, thống kê số lượng và tần suất xuất hiện các từ chỉ bộ phận cơ
thể người, chuyển nghĩa ẩn dụ, chuyển nghĩa hoán dụ của các từ chỉ bộ
phận cơ thể người trong ca dao, tục ngữ Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Sử dụng một số phương pháp như khảo cứu tư liệu; phương pháp phân tích
nghĩa tố; phương pháp miêu tả, phân tích, tổng hợp; các thủ pháp kê, phân loại; thủ
pháp so sánh, đối chiếu…
6. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
6.1.
Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hiện tượng chuyển nghĩa của các từ
chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao, tục ngữ Việt Nam.
4
6.2.
của từ nói chung, sự chuyển nghĩa của từ nói riêng là một trong những vấn đề
trung tâm cơ bản của nghiên cứu ngôn ngữ. Cho đến nay, đã có rất nhiều công
trình đề cập đến nội dung này theo các góc độ khác nhau.
1.1.
Nghĩa của từ
1.1.1. Các quan niệm về nghĩa của từ
Nghĩa của từ được các nhà ngôn ngữ học, triết học, tâm lí học,… nghiên
cứu rất sớm. Tuy nhiên, để xác định được nghĩa là gì và cơ sở nào để xác định
nghĩa là một việc không đơn giản. Chính vì thế, từ trước tới nay cả trong và ngoài
nước đã có một số quan điểm khác nhau về nghĩa. Để xác định nghĩa của từ, trước
tiên phải hiểu được từ là gì? Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng không thể tìm
được một định nghĩa từ có tính chất phổ quát cho các ngôn ngữ khác nhau về loại
hình, thậm chí cho các ngôn ngữ cùng một nhóm, đồng thời cũng nhấn mạnh tính
nhiều mặt của từ trong mỗi ngôn ngữ riêng biệt. Vì vậy, không thể có sự thống
nhất trong cách định nghĩa và miêu tả từ. Do đó, hiện có tới trên 300 định nghĩa
khác nhau về từ. Từ sự phân tích các mặt của từ trong tiếng Việt, tác giả đã đưa ra
định nghĩa về từ tiếng Việt : “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý
nghĩa dùng để tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền, ”
[6, 69].
6
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã nhận định về nghĩa của từ: “ Nghĩa của từ là
một đối tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố đơn giản hơn” như “nghĩa sở
chỉ”, “nghĩa sở biểu”, “nghĩa kết cấu” [5, 122-125].
Còn Lê Quang Thiêm cho rằng “ nghĩa là một thực thể tinh thần trừu tượng
tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ để ngôn ngữ thực hiện chức năng
hiện tượng do con người nhận thức được trong đời sống thực tiễn tự nhiên và xã
hội. Tuy nhiên, nó có thể chưa phải là kết quả của nhận thức đã tiệm cận đến chân
lí khoa học. Vì thế, sự vật, hiện tượng nào mà càng ít được nghiênc cứu, phám phá
thì nhận thức về nó được phản ánh trong nghĩa của từ gọi tên nó càng xa với khái
niệm khoa học.
Bên cạnh đó, ta thấy rằng, không phải từ nào cũng phản ánh khái niệm (các
thán từ và các từ công cụ ngữ pháp chẳng hạn) và trong nghĩa của từ còn có thể
hàm chứa cả sự đánh giá về mặt này hay mặt khác, có thể chứa cả cảm xúc và thái
độ của con người,...
Để tiện so sánh, chúng ta phân tích từ nước của tiếng Việt. Khái niệm khoa
học về nước là: Hợp chất của ôxi và hiđrô mà trong thành phần của mỗi phân tử
nước có hai nguyên tử hiđrô và mọt nguyên tử ôxi.
Nghĩa "nôm" của từ nước có thể được miêu tả dưới dạng từ điển ngắn gọn
là: Chất lỏng không màu, không mùi và hầu như không vị, có sẵn trong ao hồ, sông
suối,...
Miêu tả như thế thật ra là chưa đủ. Rất nhiều thứ, loại (biểu vật) được
người Việt quy về loại nước mà chả cần chúng đảm bảo thuộc tính lỏng, còn có
nước nhiều hay ít, mùi vị thế nào, thậm chí có nước hay không,... điều đó không
quan trọng. Chẳng hạn: nước biển, nước mắm, nước xốt, nước dứa, nước ép hoa
quả,...
phở nước
(đối lập với phở xào)
8
mỡ nước
(đối lập với mỡ khô)
9
+ Bộ phận nhọn nhô ra phía trước của một số vật thường dùng hàng ngày: mũi kim,
mũi kéo, mũi dao,..
+ Bộ phận nhọn nhô ra phía trước của một số vật dùng vận tải trên nước như tàu,
thuyền: mũi tàu, mũi thuyền
+ Bộ phận có đầu nhọn nhô ra phía trước của một số loại vũ khí như: mũi tên, mũi
giáo, mũi kiếm,…
+ Doi đất nhọn nhô ra khỏi bờ sông, trên biển: mũi Né (Bình Thuận), mũi Cà
Mau…
Từ mỗi nghĩa biểu vật nêu trên, trong quá trình sử dụng, từ “mũi” có thể tham gia
vào nhiều kết hợp khác nhau, với các ý nghĩa khác nhau. Nếu không hiểu được
ranh giới giữa các nghĩa biểu vật sẽ không thể hiểu chính xác nghĩa của từ “mũi”
trong từng trường hợp.
Ví dụ 2: Nghĩa biểu vật của từ “hoa”
+ Các loại hoa: hoa hồng, hoa lan, hoa mai,…
+ Các bộ phận của hoa: đài, cánh, nhụy,…
+ Tính chất, trạng thái của hoa: đẹp, xấu, nở, tàn, tươi, héo,…
+ Màu sắc của hoa: đỏ, vàng, hồng,…
+ Mùi của hoa: thơm ngát, ngào ngạt,…
+ Hình dáng, kích thước của hoa: to, nhỏ, …
1.1.2.2.
Nghĩa biểu niệm
Nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái
quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định. Giữa các nét nghĩa có những
quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ.
phương diện khác nhau của cái thể thống nhất đó. Sự hiểu biết đày đủ về ý nghĩa
của từ phải là sự hiểu biết thấu đáo từng mặt một nhưng cũng phải là sự hiểu biết
tổng quát về những mối liên hệ quy định lẫn nhau giữa chúng.
11
Thuộc phạm vi ý nghĩa biểu thái của từ bao gồm những nhân tố đánh giá
(như: to – nhỏ, mạnh – yếu,…), nhân tố cảm xúc (như: dễ chịu, sợ hãi, khó
chịu,…), nhân tố thái độ (như: trọng, yêu, khinh, ghét,…) mà từ gợi ra cho người
nói và người nghe.
Đối với các nhân tố cảm xúc, thái độ, có những từ khi phát âm lên gợi cho
chúng ta cảm xúc sợ hãi: ma quái, chém giết, tàn sát,… hoặc gợi ra sự ghê tởm:
đờm dãi, mửa, đĩ thõa,… Và có những từ gợi ra cảm giác khoan khoái dễ chịu:
thanh thoát, êm ái, quê hương,… Có những từ giúp chúng ta bộc lộ sự khinh bỉ: đê
tiện, hèn hạ, thô bỉ, lì lợm, ton hót, bợ đỡ,… Lại có những từ giúp ta bày tỏ lòng
tôn trọng: cao quý, ca ngợi, đàng hoàng, thẳng thắn,…hay sự thiết tha: khẩn thiết,
da diết, ân cần, vồn vã, đắm say,…
1.2.
Hiện tƣợng chuyển nghĩa của từ
1.2.1. Khái niệm
Chuyển nghĩa từ vựng là một trong những nội dung cơ bản của ngôn ngữ
học truyền thống.
Lúc mới xuất hiện các từ đều chỉ có một nghĩa biểu vật. Sau một thời gian sử
dụng, nó có thể thêm những nghĩa biểu vật mới. Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện
ngày càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng có khả năng biến đổi.
Trong sự chuyển biến ý nghĩa, có khi nghĩa biểu vật đầu tiên không còn nữa,
chúng ta quên đi. Nhưng thường thì cả nghĩa đầu tiên và các nghĩa mới đều cùng
tồn tại, cùng hoạt động, khiến khó nhận biết hay khó khẳng định nghĩa nào là nghĩa
1.2.2. Các phương thức chuyển nghĩa
“Chuyển nghĩa từ vựng là cách định danh thứ cấp trong ngôn ngữ với hai
phương thức chủ yếu là ẩn dụ và hoán dụ. Đây là hiện tượng vừa mang tính nhân
loại vừa mang tính dân tộc”. [7]
13
Để xây dựng và phát triển thêm nghĩa của từ, trong ngôn ngữ có nhiều cách.
Trong đó, phương thức chuyển nghĩa phổ biến nhất trong ngôn ngữ là chuyển
nghĩa ẩn dụ và chuyển nghĩa hoán dụ.
Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, tác giả Đỗ Hữu Châu, sự phát triển nghĩa
của từ chủ yếu dựa vào hai quy luật chuyển nghĩa ẩn dụ và chuyển nghĩa hoán dụ.
1.2.2.1. Chuyển nghĩa ẩn dụ
Theo các nhà ngôn ngữ học, ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa phổ biến
trong tất cả các ngôn ngữ. Đó là phép sử dụng từ ngữ được chuyển nghĩa dựa trên
cơ sở tương đồng giữa một thuộc tính nào đó của cái dùng để nói và cái muốn nói.
Nói cách khác, ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi giữa hai sự vật có mối quan hệ tương
đồng. Ẩn dụ không chỉ là biện pháp làm giàu từ vựng mà còn làm cho nghĩa của từ
ngày càng đa dạng, tinh tế không chỉ trong hệ thống ngôn ngữ, trong văn chương
và trong cả lời ăn tiếng nói hàng ngày của chúng ta.
Phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ: Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên
gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị y), nếu như x và y giống nhau. Các sự vật được
gọi tên, tức x và y, không có liên hệ khách quan, chúng thuộc những phạm trù hoàn
toàn khác nhau. Sự chuyển tên gọi này diễn ra tùy thuộc vào nhận thức có tính
chất chủ quan của con người về sự giống nhau giữa chúng [10, 154-155].
Ví dụ: Từ “mũi” có nghĩa gốc chỉ bộ phận người hay cơ thể động vật, có
hình dạng nhọn, được chuyển sang để chỉ các bộ phận khác có hình dáng và vị trí
tương đồng: mũi thuyền, mũi tàu, mũi dao, mũi tên, đứng mũi chịu sào,…
Tác giả Nguyễn Thiên Giáp trong “Từ vựng học tiếng Việt” [5] đã phân chia
Thứ hai, quan trọng hơn là sự phân biệt cơ chế ẩn dụ theo nét nghĩa phạm trù
dựa vào đó mà xuất hiện các ẩn dụ. Theo đó có các kiểu ẩn dụ sau:
15
Ẩn dụ hình thức, tức là những ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về hình thức
giữa các sự vật. Ví dụ “mũi tên”, “mũi thuyền”, “chân núi”, “chân trời”, “chân
bàn”,… đều là ẩn dụ hình thức bởi chúng đều có hình dáng giống như sự vật chính:
“mũi” là bộ phận nhô ra trên mặt, có hình dáng thon nhọn, “chân” là bộ phận dưới
cùng của cơ thể người, có tác dụng đỡ cả cơ thể và di chuyển… Dựa vào nét tương
đồng về hình dáng mà người ta sử dụng ẩn dụ để chuyển nghĩa.
Ẩn dụ vị trí, tức là những ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về vị trí giữa các sự
vật xét trong chỉnh thể sự vật. Ví dụ “ruột bút”, “lòng sông”, “đầu làng”, “ngọn
núi” (so với ngọn cây), “gốc của vấn đề”, “ngành khoa học”, không phải vì chúng
có hình dáng giống như sự vật chính mà là vì tương quan vị trí của chúng với các
sự vật khác (như so với vỏ bút, so với sườn núi, chân núi…) cũng giống như tương
quan vị trí của các sự vật trên so với toàn bộ cơ thể hay so với cả cái cây.
Ẩn dụ cách thức, tức là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về cách thức
thực hiện giữa hai hoạt động, hiện tượng. Ví dụ, khi nói “cắt hộ khẩu”, “nắm tư
tưởng”, “đừng có vặn nhau nữa”… là chúng ta chỉ rõ cách thức “chuyển hộ khẩu”,
cách thức “nhận thức tư tưởng”, cách thức “truy hỏi nhau để tìm ra sự thực”…cũng
giống như cách thức chúng ta cắt, nắm, vặn… một sự vật vật lí nào đó.
Ẩn dụ chức năng, tức là dựa vào sự giống nhau về chức năng giữa các sự vật.
Ví dụ, “bến” trong “bến xe”, “bến tàu”…không giống về hình dạng, không giống
về vị trí… với “bến sông”, “bến đò” mà nó chỉ giống với sự vật sau ở chức năng
“đầu mối giao thông” mà thôi. Các ẩn dụ chức năng khác như “chốt” trong “giữ
chốt”, “cửa” trong “cửa sông”, “cửa rừng”, “cửa mở” (tức là “đột phá khẩu”). Ví
dụ. “Phao” là vật thả nổi trên mặt nước để làm mục tiêu hoặc để giúp cho vật khác
cùng nổi (phao bơi, phao cứu hộ,…). Nó cũng được dùng để gọi tên cho tài liệu sử
Ví dụ: Bến xe, bến sông, …
17
- Sự giống nhau về một thuộc tính, tính chất nào đó.
Ví dụ: Lời nói đường mật, câu chuyện nhạt,…
- Sự giống nhau về một đặc điểm, một vẻ ngoài nào đó.
Ví dụ: Người đàn ông chuyên gạ gẫm, lừa gạt phụ nữ được gọi là sở khanh.
- Ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng.
Ví dụ: Suy nghĩ chín, nắm kiến thức,…
- Chuyển tên các con vật thành tên người
Ví dụ: Cún con của mẹ, đồ rắn độc, đồ thỏ đế,…
- Chuyển tính chất của sinh vật sang sự vật, hiện tượng khác (thường được coi
là hiện tượng nhân cách hóa).
Theo Đinh Trọng Lạc (2001, tr. 52,53), ẩn dụ được chia ra làm hai loại là ẩn
dụ định danh, ẩn dụ nhận thức.
Ẩn dụ định danh là một thủ pháp có tính chất thuần túy kĩ thuật dùng để
cung cấp những tên gọi mới bằng cách dùng vốn từ vựng cũ, ví dụ “đầu làng, chân
trời, chân ghế”. Đây là nguồn tạo nên những tên gọi chứ không phải là loại ẩn dụ
nhằm phát hiện những sắc thái ý nghĩa. Nó không tác động vào trực giác để gợi mở
mà tác động vào cách nhìn để chỉ xuất, không đem lại cho người đọc những cảm
xúc về vẻ đẹp của ngôn từ mang tính biểu cảm, không gợi sự liên tưởng phong
phú.[8]
Nói cách khác, những ẩn dụ từ vựng học không hoặc rất ít có khả năng gợi
hình, tạo hình hoặc gợi cảm. Bởi trải qua quá trình được sử dụng lâu dài của các ẩn
dụ này, mối liên tưởng giữa hai sự vật được so sánh trở nên quá mờ nhạt, hình ảnh
được so sánh trở nên sáo mòn.
Ẩn dụ nhận thức là loại ẩn dụ nảy sinh do kết quả của việc làm biến chuyển
khả năng kết hợp của những từ chỉ dấu hiệu khi làm thay đổi ý nghĩa của chúng từ
cụ thể đến trừu tượng. Ví dụ: những từ chỉ đặc trưng như lạnh giá vốn có ý nghĩa