TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
PHẠM THỊ HỒNG
HÌNH TƯỢNG ĂNGDROMAC TRONG
SỬ THI ILIAT CỦA HOME VÀ TRONG
VỞ KỊCH ĂNGDROMAC CỦA J.RAXIN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
HÀ NỘI, 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
PHẠM THỊ HỒNG
HÌNH TƢỢNG ĂNGDROMAC TRONG
SỬ THI ILIAT CỦA HOME VÀ TRONG
VỞ KỊCH ĂNGDROMAC CỦA J.RAXIN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. MAI THỊ HỒNG TUYẾT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 3
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 8
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 9
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................. 10
6. Bố cục khóa luận ......................................................................................... 10
NỘI DUNG..................................................................................................... 11
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HỌC SO SÁNH ..... 11
1.1. Khái niệm về “ văn học so sánh”, ............................................................ 11
1.2. Đối tƣợng, phƣơng pháp nghiên cứu của văn học so sánh .......................... 13
1.3. Sự hình thành và phát triển của bộ môn văn học so sánh ........................ 15
1.4. Các hƣớng nghiên cứu của bộ môn văn học so sánh ............................... 17
1.5. Ý nghĩa và tác dụng của bộ môn văn học so sánh ................................... 23
CHƢƠNG 2: ĐIỂM TƢƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT CỦA HÌNH
TƢỢNG NHÂN VẬT ĂNGDROMAC TRONG SỬ THI ILIAT CỦA
HOME VÀ TRONG VỞ KỊCH ĂNGDROMAC CỦA J.RAXIN ............. 24
2.1. Điểm tƣơng đồng của hai tác phẩm khi xây dựng nhân vật Ăngdromac 26
2.1.1. Hoàn cảnh xuất thân của nhân vật......................................................... 26
2.1.2. Vẻ đẹp ngoại hình của nhân vật. ........................................................... 28
2.1.3. Vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật ................................................................ 30
2.1.4. Số phận bất hạnh của nhân vật. ............................................................. 36
2.1.5. Kết thúc có hậu...................................................................................... 39
2.2. Điểm khác biệt hai tác phẩm khi viết xây dựng nhân vật Ăngdromac .... 41
2.2.1. Vị trí nhân vật trong tác phẩm .............................................................. 41
2.2.2. Hành động của nhân vật ........................................................................ 44
thế chúng ta phải khẳng định đến tính hoành tráng, đồ sộ, tính mẫu mực cổ
1
điển của thi phẩm làm cho ngƣời đọc thấy hấp dẫn lôi cuốn và có cái nhìn cụ
thể về ngƣời anh hùng về những cuộc chiến thời cổ đại. Ngoài ra, nó không
chỉ hấp dẫn ngƣời đọc vì nội dung hoành tráng đồ sộ mang tính mẫu mực cổ
điển, mà thiên sử thi còn hấp dẫn bởi nó còn mang đặc điểm của nghệ thuật sử
thi cổ điển chẳng hạn nhƣ nổi bật lên với bút pháp xây dựng nhân vật, bút
pháp miêu tả vừa mang yếu tố hiện thực vừa mang yếu tố hƣ ảo.
Những đặc điểm đó, Raxin nhà viết kịch đại tài đã thừa kế và cho ra đời
vở bi kịch hoành tráng Ăngdromac. Ngay từ khi ra đời vở bi kịch đã đƣa
Raxin chạm đến bục vinh quang đem lại niềm tự hào lớn và khẳng định tên
tuổi, vị trí, tài năng của ông. Raxin đã chọn cho mình một chỗ dựa – văn học
cổ Hy Lạp. Vì theo ông “khiếu thẩm mĩ của Pari tỏ ra phù hợp với khiếu thẩm
mĩ của Aten” (Tựa Iphigieni. Dẫn theo Vũ Văn Chính trong cuốn Văn học
Phương Tây , nxb Giáo dục, 2009) . Raxin nhìn thấy ở sân khấu cổ đại “một
trƣờng học đạo đức”. Về phía mình, Raxin “muốn sáng tác của mình phải
chắc chắn, cũng phải đầy những lời giáo huấn bổ ích nhƣ những nhà thơ cổ
đại” (Tựa Phedro. Dẫn theo Vũ Văn Chính trong cuốn Văn học Phương Tây ,
nxb Giáo dục, 2009). Để giáo dục đạo đức, Raxin đã chọn bi kịch nhƣng là
loại bi kịch theo quan niệm riêng : “Chẳng cứ phải có mẫu và xác chết trong
một bi kịch; chỉ cần hành động trong đó cao cả, nhân vật trong đó anh hùng,
những thèm khát trong đó đƣợc kích động và tất cả thấm đƣợm một nỗi buồn
tôn quý, nỗi buồn này là tất cả hứng thú của bi kịch” (Tựa Bêrênix. Dẫn theo
Vũ Văn Chính trong cuốn Văn học Phương Tây , nxb Giáo dục, 2009). Bởi
vậy, chúng ta cũng dễ thấy Raxin đã chọn cho mình một thi phẩm mẫu mực
Iliat để làm cảm hứng cho mình viết nên kiệt tác sân khấu đi vào lòng đông
đảo công chúng. Nhƣng bên cạnh sự học hỏi kế thừa Raxin luôn để lại dấu ấn
Trong cuốn Văn học phương Tây, nhà xuất bản Giáo dục (2009) của Đặng
Anh Đào và một số tác giả khác, thì đã nghiên cứu khá sâu sắc về tác giả
Hôme và tác phẩm Iliat. Họ khẳng định Home sinh trƣởng tại vùng Loni
3
(Tiểu Á), ông là ngƣời có “vốn sống phong phú, am hiểu những nỗi đau khổ
và niềm vui sƣớng của con ngƣời” và là một thiên tài thi ca lớn. Về tác phẩm
thì nhận định, Iliat là “bức tranh chiến trận thời kì chiến tranh bộ lạc và lí
tƣởng anh hùng của thời đại Home”. Nó cho ta thấy mẫu ngƣời anh hùng của
thời đại. Không những thế, Iliat còn là “bài ca nhân đạo, vừa có cái anh hùng
cao cả, vừa có cái bi thảm thê lƣơng”. Trong tác phẩm không thiếu những
tình phụ tử, tình bạn, tình vợ chồng… Nói rộng hơn qua Iliat. Ta thấy
đƣợc ở Home “một trái tim tràn đầy nhiệt tình đồng loại”, thƣơng kiếp
sống của con ngƣời gian nan, vất vả, số phận ngắn ngủi. Nội dung ấy đƣợc
thể hiện qua các biện pháp nghệ thật đặc sắc nhƣ: Bút pháp sử thi hoành
tráng, sôi nổi, kì vĩ, thủ pháp xây dựng nhân vật sinh động ấn tƣợng với diễn
biến tâm lí phong phú…
Trong cuốn Giáo trình văn học thế giới của Lƣu Đức Trung, nhà xuất
bản ĐHSPHN (2007), thì chỉ đi sâu nghiên cứu nghệ thuật của Iliat ở những
mức độ rộng hẹp khác nhau. Ông khẳng định, nhờ bút pháp miêu tả khách
quan mà cuộc chiến Troa trở thành một “mẫu mực điển hình của nghệ thuật
miêu tả chiến tranh thời cổ đại”. Nhịp điệu kể uyển chuyển lúc trầm lúc bổng
tạo ra nhịp hoạt động của các nhân vật và tạo các đột biến sử thi. Không gian
chủ yếu là không gian chiến trận đầy khói lửa, là bãi chiến trƣờng không
rộng bao nhiêu nằm giữa thành Troa và bờ biển. Nghệ thuật xây dựng hình
tƣợng nhân vật đặc sắc và miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật tinh tế thể hiện
chủ nghĩa nhân đạo.
Trong cuốn Hợp tuyển văn học Châu Âu của Lê Nguyên Cẩn, nhà xuất
ngợi giá trị mà bộ sử thi để lại bởi nguồn kiến thức ở trong đó là vô hạn thì
đến cuối lời tựa tác giả thốt lên rằng “viên kim cƣơng tuyệt hảo của nền văn
minh phƣơng Tây” [9;6]. Điều đó thể hiện sự trân trọng ngƣỡng mộ của tác
giả đối với bộ sử thi này.
5
Nữ sĩ Simone Weil đã viết trong tùy bút nhan đề L’Iliade ou le poème de
la force (Iliat hay thi tập vũ lực). Cảm nghĩ cho thấy nữ sĩ nhìn thi tập của
Home nhƣ nhìn hình ảnh của thế giới hiện nay: “Nhân vật, chủ đề, trọng tâm
của Iliat là vũ lực. Vũ lực là dụng cụ con ngƣời sử dụng, vũ lực là thầy dạy
đào luyện con ngƣời, vũ lực là cái trƣớc nó da thịt con ngƣời bị teo rúm. Tâm
hồn con ngƣời trong thi tập thi sĩ trình bày liên hệ mật thiết với vũ lực. Bị vũ
lực càn quét, bị vũ lực biến thành đui mù, bị vũ lực trấn áp, chẳng thể hƣớng
dẫn tâm hồn con ngƣời đầu hàng. Ngƣời mơ vũ lực nhƣ thế, nhờ có tiến bộ
mà có, bây giờ thuộc về quá khứ, là ngƣời coi thi tập nhƣ tài liệu lịch sử;
ngƣời nhìn thấy vũ lực nhƣ vậy hiện tại cũng nhƣ quá khứ, ở tâm điểm lịch sử
nhân loại, là ngƣời sẽ tìm thấy trong Iliat tấm gƣơng trong suốt, đẹp vô ngần”
(Dẫn theo Đỗ Khánh Hoan, trong cuốn Iliat, nxb Giáo dục(2013),tr 83)
Nguyễn Văn Khỏa cũng nhận xét về tác giả Home và các tác phẩm của
ông trong Từ điển văn học nhƣ sau: “Tác phẩm của Home còn phản ánh nhiều
mặt sinh hoạt của ngƣời Hy Lạp cổ; trình độ văn minh, những quan niệm tôn
giáo, đạo đức, phong tục tập quán… Tác giả đã dựng lên khá sâu rộng, tỉ mỉ
những bức tranh rộng lớn về cuộc sống với một thái độ ca ngợi trân trọng….
Là những văn bản đầu tiên của văn học cổ đại Hy Lạp, tác phẩm của Home
ngoài giá trị văn học, còn có giá trị sử học. Ngay trong thời cổ đại, Home đã
đƣợc nhân dân yêu quý, tôn sùng và thuộc lòng từng đoạn” [8; 310].
Cuối thế kỉ V TCN, hùng biện gia Isocrates thành quốc Athenas nhận
định: “Ngƣời ta ngâm thơ Home là để khuyến khích tuổi trẻ tích cực ngƣỡng
đến sắp xếp hành động kịch và thực hiện các quy tắc sân khấu. Nhìn chung, bi
kịch Raxin không xa lạ, không siêu việt, không phức tạp, ngổn ngang; nó hấp
dẫn và chinh phục ngƣời xem bằng sự mô tả hết sức tinh vi đời sống tình cảm
của con ngƣời thời đại trong một khuôn khổ tiết kiệm nhất. Nó dễ dàng ăn
khớp với các quy tắc cổ điển chủ nghĩa chính thống mà
7
vẫn
“giống
nhƣ
thật” [7;284]. Nguyễn Văn Chính cũng góp thêm tiếng nói khẳng định đặc sắc
về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Tác giả Phong Linh với bài viết Cảm giác đau khổ phong nhã của nước
Pháp thế kỉ 17 trên tạp chí zing tri thức trực tuyến với nhận xét về tác phẩm
Ăngdromac nhƣ sau: “Những nhân vật trong kịch Ăngdromac đều chất chứa
trong lòng nỗi say mê cuồng nhiệt với tình yêu, dù biết tình yêu gây ra bao
đau đớn và tội lỗi, đặc biệt là vị vua trẻ tuổi Piaruyx”. Nhƣ vậy bài viết của
tác giả tập trung vào bi kịch tình yêu của các nhân vật trong tác phẩm.
Nhƣ vậy, từ trƣớc đến nay vở kịch Ăngdromac của J.Raxin đƣợc các tác
giả văn học Việt Nam và thế giới nghiên cứu, đánh giá trên nhiều phƣơng
diện nhƣ giá trị nội dung, đặc sắc nghệ thuật. Nhƣng việc nghiên cứu tác
phẩm trên tinh thần so sánh đối chiếu với các tác phẩm khác thì còn nhiều hạn
chế. Trên đây là những cơ sở tiền để tôi tiến hành so sánh nhân vật
Ăngdromac trong hai tác phẩm Iliat và vở bi kịch Ăngdromac.
Dựa trên lí thuyết về văn học so sánh, và nội dung của hai tác phẩm Iliat
mỗi tác phẩm. Hai tác phẩm viết về ngƣời phụ nữ của hai thời đại văn hóa văn
học khác nhau đó là thời cổ đại Hy Lạp và thời kì phong kiến nƣớc Pháp. Vì
vậy nghiên cứu đề tài hình tƣợng nhân vật Ăngdromac của hai tác phẩm trên
tinh thần so sánh, đối chiếu sẽ giúp cho ta hiểu hơn về quan niệm ngƣời phụ
nữ của từng thời đại văn hóa. Đồng thời với việc nghiên cứu đề tài này, chúng
tôi muốn góp phần công sức của mình vào việc khẳng định vị trí, vai trò, tầm
quan trọng của bộ môn văn học so sánh trong bối cảnh hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận có hai nhiệm vụ chính:
Nhiệm vụ thứ nhất: là trình bày 1 cách hệ thống các vấn đề lí thuyết về
văn học so sánh.
9
Nhiệm vụ thứ hai là: làm sáng tỏ về hình tƣợng nhân vật Ăngdromac
trong sử thi Iliat của Home và trong vở kịch cùng tên của Raxin trên hai
phƣơng diện lớn đó là: Sự tƣơng đồng và khác biệt của hai nhân vật này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số phƣơng
pháp nghiên cứu cụ thể sau:
5.1. Phương pháp so sánh
Do yêu cầu của đề bài là tìm ra sự tƣơng đồng và khác biệt của hai nhân
vật trong Iliat và trong vở kịch cùng tên của Raxin, cho nên phƣơng pháp so
sánh sẽ đƣợc ngƣời viết sử dụng xuyên suốt trong quá trình tìm
hiểu và triển khai đề tài. Và đây cũng là phƣơng pháp quan trọng nhất của đề
tài này. Ngƣời viết cũng sẽ vận dụng những phƣơng diện lí
luận của văn học so sánh vào quá trình nghiên cứu.
Chủ yếu là so sánh sự giống và khác nhau giữa hai nhân vật Ăngdromac
hai tác phẩm Iliat của Home và vở bi kịch Ăngdromac của J.Raxin.
ngữ “văn học so sánh” xuất hiện vào đầu năm 1816 ở Pháp trong giáo trình
văn học so sánh của Nobel và Laplace, nhƣng ngƣời làm cho nó trở nên thông
dụng là Villemain với Đại cƣơng văn học Pháp (1827) và Ampere với Bài
giảng văn học thơ ca (1832).
Trong tiếng Pháp và tiếng Anh, bên cạnh thuật ngữ “văn học so sánh”
còn có các thuật ngữ khác, chính xác hơn nhƣng phức tạp hơn, chẳng hạn:
“lịch sử các nền văn học đƣợc so sánh”, lịch sử so sánh các nền văn học”…..
11
Tuy nhiên, từ nửa sau thế kỉ XIX trở lại nay, thuật ngữ “litterature
comparee” trong tiếng Pháp và “comparative literature” trong tiếng Anh đã
đƣợc dùng phổ biến. Trong tiếng Việt nó đƣợc dịch là văn học so sánh.
Trong mục từ: “Văn học so sánh” viết cho cuốn “Trung Quốc đại bách
khoa toàn thƣ”, giáo sƣ Nhạc Đại Vân ở Đại học Bắc Kinh đƣa ra một giới
định: “Văn học so sánh - một phân nhánh của nghiên cứu văn học, xuất hiện
vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Nó là một khoa học nghiên cứu so sánh
một cách lịch sử quá trình có tác dụng tƣơng hỗ giữa 2 nền văn học dân tộc
trở lên, nó nghiên cứu quan hệ tƣơng hỗ hình thức nghệ thuật và hình thái ý
thức của các nền văn học dân tộc đó”.
Daniel –Henri pageaux định nghĩa khá đầy đủ:
“Văn học so sánh là chuyên ngành nghiên cứu mối quan hệ tƣơng đồng,
quan hệ họ hàng hay ảnh hƣởng giữa văn học với các lĩnh vực nghệ thuật hay
các lĩnh vực tƣ duy khác, giữa các sự kiện hay văn bản văn học những mối
quan hệ này có thể gần hay xa. Trong không gian hay trong thời gian, miễn là
chúng thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau, hoặc nhiều văn hóa khác nhau, cho
dù có chung một truyền thống”.
Tại Việt Nam, sự quan tâm đến văn học so sánh cũng đƣợc thể hiện
trong nhiều bài viết khá công phu. Trƣơng Đăng Dung trong bài báo “Văn
cùng là nghiên cứu các điểm khác biệt độc lập. Ở đối tƣợng thứ nhất, các nhà
khoa học quan tâm nghiên cứu đến sự ảnh hƣởng và vay mƣợn. Họ tiến hành
đối chiếu các văn bản để tìm ra những điểm giống nhau về các mặt: tƣ tƣởng,
đề tài, phong cách, kỹ thuật xây dựng tác phẩm,… để xác định các hiện tƣợng
giao lƣu văn học một cách thuần túy thực chứng, thuần túy sự kiện. Có nhiều
khía cạnh ảnh hƣởng rất phong phú nhƣ: sự ảnh hƣởng về mặt đề tài, về mặt
tƣ tƣởng và tình cảm, về mặt thể loại, loại hình, phong cách, về mặt kỹ thuật
xây dựng tác phẩm. Bên cạnh đó, nghiên cứu sự ảnh hƣởng không nên chỉ
đứng từ góc độ của cái ảnh hƣởng, mà còn phải đứng từ góc độ của cái bị ảnh
13
hƣởng, phải xuất phát từ yêu cầu xã hội thực tế của cái bị ảnh hƣởng. Vay
mƣợn là một trong những kiểu ảnh hƣởng nhƣng nó không chi phối toàn bộ
sự nghiệp sáng tác, một ngƣời có thể mƣợn nhiều tích và một tích có thể đƣợc
nhiều ngƣời vay mƣợn. Tuy nhiên, nhiệm vụ của nhà nghiên cứu văn học so
sánh là phải tìm ra đƣợc nguồn gốc vay mƣợn để xác định tác phẩm vay
mƣợn và đánh giá đóng góp của ngƣời cho vay. Ở đối tƣợng thứ hai, khi đi
vào nghiên cứu các điểm tƣơng đồng; nó đƣợc các nhà khoa học đánh giá là
phƣơng pháp nghiên cứu quan hệ tƣơng đồng đã có từ thời cổ đại qua Plutark
cho đến những nhà nghiên cứu văn học ngƣời Pháp thế kỷ XVII. Có hai loại
hiện tƣợng tƣơng đồng: tƣơng đồng lịch sử, bao gồm hiện tƣợng tƣơng đồng
cùng thời và tƣơng đồng kế tiếp; và tƣơng đồng phi lịch sử. Trong hiện tƣợng
tƣơng đồng lịch sử, họ nhận thấy nó là tƣơng đồng của những trào lƣu thuộc
các nền văn học kế cận nhau nhƣ các trào lƣu thời Phục Hƣng, thời cổ điển,
ánh sáng, lãng mạn,…ở châu Âu và phƣơng Tây. Còn ở hiện tƣợng tƣơng
đồng phi lịch sử, thì đó là sự giống nhau giữa các nền văn học cách xa nhau
về thời gian và không gian. Việc nghiên cứu những hiện tƣợng tƣơng đồng
trên đã giúp mở ra những chân trời rộng rãi. Nó có thể giúp tiến tới việc
mỗi phƣơng pháp sẽ có thể hỗ trợ và bổ sung cho nhau góp phần làm cho
công việc nghiên cứu trở nên rõ ràng, dễ dàng và nhanh chóng hơn.
1.3. Sự hình thành và phát triển của bộ môn văn học so sánh
1.3.1. Điều kiện hình thành
Văn học thế giới đã có mối liên hệ từ xa xƣa nhƣng loài ngƣời thì chƣa ý
thức đƣợc mối liên hệ, ảnh hƣởng qua lại đó. Phải tới thế kỉ XIX, khi xã hội
loài ngƣời chuyển từ hình thái kinh tế thấp lên hình thái kinh tế cao hơn, đã có
sự đòi hỏi giao lƣu về mọi mặt trong đó văn học. Thì mới hình thành nền văn
học thế giới và lúc đó ý thức so sánh mới bắt đầu.
Thứ nhất: Sự ra đời của bộ môn văn học so sánh liên quan trực tiếp đến
sự phát triển của chủ nghĩa tƣ bản và ý thức chủ nghĩa thế giới. Phƣơng thức
15
sản xuất của chủ nghĩa tƣ bản không thúc đẩy mối liên hệ và giao lƣu kinh tế,
thƣơng mại giữa các nƣớc mà còn thúc đẩy giao lƣu về mặt văn hóa.
Thứ hai: Trào lƣu văn học lãng mạn chủ nghĩa cuốn hút toàn Châu Âu và
sự thức tỉnh của văn học thế giới chủ nghĩa cuối thế kỉ XVIII đầu XIX là điều
kiện cho ra đời Văn học so sánh.
Thứ ba: Sự ra đời văn học so sánh có quan hệ nhất định với sự xuất hiện
của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
Nhƣ vậy, điều kiện cơ bản trên chính là mầm mống cho sự hình thành
của bộ môn Văn học so sánh.
1.3.2. Quá trình hình thành và phát triển
Văn học so sánh ban đầu chỉ là một phƣơng pháp. Trong cuộc sống hàng
ngày so sánh là một yêu cầu tự nhiên, là một trong những phƣơng pháp để xác
định sự vật về mặt định tính, định lƣợng hoặc ngôi thứ. Còn trong nghiên cứu
văn học, nó là một phƣơng pháp dùng để xác định đánh giá các hiện tƣợng
văn học trong mối quan hệ giữa chúng với nhau. Việc này đƣợc tiến hành từ
các suy luận hoặc phán đoán thiếu căn cứ thực tế không thuộc về phạm trù
nghiên cứu ảnh hƣởng…
Chẳng hạn chúng ta có thể nghiên cứu ảnh hƣởng giữa hai nhà văn Lỗ
Tấn và Gogon; giữa nhà văn với trào lƣu văn học nhƣ Xuân Diệu với chủ
nghĩa tƣợng trƣng, giữa hai nền văn học: văn học Việt Nam và Văn học Trung
Quốc.
Nhƣ vậy phạm vi và đối tƣợng của nghiên cứu ảnh hƣởng là rất rộng.
1.4.1.2. Phương pháp
Để nghiên cứu đƣợc các hiện tƣợng văn học theo hƣớng so sánh ảnh
hƣởng, trƣớc tiên ngƣời nghiên cứu phải đặt giả thiết (phải có tƣ tƣởng thì
mới có giả thiết). Sau đó phải tìm tư liệu ngƣời viết sử dụng phƣơng pháp
phân tích những tƣ liệu đó để tìm cội nguồn, tìm sự sáng tạo của đối tƣợng so
sánh. Và cuối cùng dùng phƣơng pháp tìm ảnh hƣởng và siêu ảnh hƣởng để
nghiên cứu về đối tƣợng.
17
1.4.1.3. Các loại hình ảnh hưởng
Ảnh hƣởng trong văn học khá phức tạp, và có nhiều loại. Trong đó có
hai loại hình ảnh hƣởng quan trọng đó là: Ảnh hƣởng trực tiếp và ảnh hƣởng
gián tiếp; ảnh hƣởng chính và ảnh hƣởng phụ.
* Ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp
Ảnh hƣởng trực tiếp là nhà văn tiếp xúc và tiếp nhận trực tiếp ảnh hƣởng
của nhà văn, tác phẩm nƣớc ngoài; ảnh hƣởng gián tiếp là nói về nhà văn
thông qua một hoặc một số môi giới để tiếp nhận những tiến bộ của nhà văn,
tác phẩm văn học nƣớc ngoài.
Ảnh hƣởng trực tiếp và ảnh hƣởng gián tiếp có mối quan hệ mật thiết.
Ảnh hƣởng trực tiếp thƣờng thúc đẩy ảnh hƣởng gián tiếp, nhƣng rồi ảnh
hƣởng gián tiếp lại chuyển hóa thành ảnh hƣởng trực tiếp. Chẳng hạn nhƣ
sáng tạo và thành công của họ.
Hai là: Sự hƣởng ứng lẫn nhau của các tƣ trào văn học và phong trào văn
học là sự mở rộng phạm vi nghiên cứu của văn học so sánh. Nó nghiên cứu
một tự trào văn học hoặc một trƣờng phái phê bình đƣợc hình thành nhƣ thế
nào? Trong ngữ cảnh mới nó có sự phát triển và đổi mới gì?
Đó chính là những phạm vi của nghiên cứu ảnh hƣởng.
1.4.1.5. Hạn chế của nghiên cứu ảnh hưởng
Nghiên cứu ảnh hƣởng có rất nhiều ý nghĩa đối với văn học thế giới
xong nó cũng tồn tại những hạn chế nhƣ:
Thứ nhất: Nghiên cứu ảnh hƣởng thiên về mối liên hệ thực tế, chú trọng
việc nghiên cứu nguồn gốc và ảnh hƣởng, trọng tâm nghiên cứu là ở sự phát
hiện và khảo chứng tƣ liệu. Nó bỏ qua tính chỉnh thể của tác phẩm và cá tính
sáng tạo của nhà văn.
Thứ hai: Nghiên cứu ảnh hƣởng nhấn mạnh chứng thực làm cho phạm vi
nghiên cứu của nó bị hạn chế.
19