BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC HẠN CHẾ CẠNH TRANH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
NGUYỄN HÙNG SÁU
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. Nguyễn Như Phát
Formatted: Different first page header
HÀ NỘI – 2017
Formatted: Right: 0.63 cm
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn
trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết quả khoa học của luận văn chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
tháng
năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Hùng Sáu
Formatted: Right: 0.63 cm
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................01
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài .........................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ....................................................................................2
2.1. Các công trình nghiên cứu trong nước ................................................................2
2.2. Các công trình nghiên cứu nước ngoài ................................................................3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. ..........................................................................4
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. .........................................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................5
6. Cơ cấu của luận văn ................................................................................................5
CHƯƠNG 1 .................................................................................................................6
KHÁI QUÁT VỀ HÀNH VI HẠN CHẾ.....................................................................6
CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC HẠN CHẾ CẠNH
TRANH .......................................................................................................................6
2.2.2. Xem xét, giải quyết vụ việc hạn chế cạnh tranh ...........................................5251
2.2.3. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về giải quyết vụ việc hạn chế cạnh tranh
...............................................................................................................................6059
2.3. Chế tài xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh.........................................................6260
2.3.1. Các hình thức xử phạt chính ........................................................................6261
2.3.2. Các hình thức xử phạt bổ sung.....................................................................6361
2.3.3. Các biện pháp khắc phục hậu quả ...............................................................6362
2.4. Một số nhận xét, đánh giá về pháp luật giải quyết vụ việc hạn chế cạnh tranh của
Việt nam ................................................................................................................6463
2.4.1. Những kết quả đạt được ...............................................................................6463
2.4.2. Những hạn chế, nguyên nhân .......................................................................6665
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC .................................................7068
HẠN CHẾ CẠNH TRANH...................................................................................7068
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết vụ việc hạn chế cạnh tranh ........7068
3.1.1. Xác định đúng mục tiêu của chính sách và pháp luật cạnh tranh mà các cơ quan
có trách nhiệm thực thi và bảo vệ cạnh tranh. ..........................................................7168
3.1.2. Xác định rõ mục đích chính của biện pháp xử lý đối với hành vi hạn chế cạnh
tranh.......................................................................................................................7269
3.1.3. Phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế ......................................................7270
3.2. Một số giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về giải quyết vụ việc hạn chế cạnh
tranh .......................................................................................................................7371
Formatted: Right: 0.63 cm
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
5
Formatted: Indent: First line: 1.27 cm, Space Before: 0 pt
quan trọng của nền tảng pháp lý cho việc hình thành nền kinh tế thị trường.
Việc chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam theo cơ chế thị trường cũng đồng
nghĩa với việc chấp nhận sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường. Trong đó có
không ít những hành vi hạn chế cạnh tranh nhằm tối đa hóa lợi nhuận độc quyền,
thậm chí là loại bỏ những đối thủ cạnh tranh khác. Vì vậy, chúng ta cần có sự can
thiệp của nhà nước trong việc điều tiết cạnh tranh. Tuy nhiên, thực trạng pháp luật
và thực tiễn xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh vẫn còn nhiều bất cập. Luật cạnh
tranh ra đời năm 2004 nhưng dường như chưa thực sự phát huy hết hiệu quả trong
đời sống. Các hành vi hạn chế cạnh tranh diễn ra khá phổ biến trên thị trường nhưng
chỉ có một số ít vụ việc được Cục quản lý cạnh tranh tiến hành điều tra và có biện
pháp xử lý.
Công tác giải quyết các vụ việc hạn chế cạnh tranh của cơ quan cạnh tranh
Việt Nam còn rất nhiều bất cập thể hiện qua số lượng vụ việc hạn chế cạnh tranh
được tiến hành điều tra và xử lý. Mặc dù vậy, trong những nỗ lực gần đây để nhằm
tăng cường khả năng thực thi luật cạnh tranh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã
và đang từng bước xây dựng và hoàn thiện hơn nữa quy định pháp luật liên quan
đến xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Đặc biệt, trong bối cảnh Luật Cạnh tranh
đang trong quá trình sửa đổi, xây dựng mới, do đó, tôi lựa chọn đề tài:”Giải quyết
vụ việc hạn chế cạnh tranh theo pháp luật Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ luật
học. Việc triển khai đề tài sẽ trở thành công trình nghiên cứu có giá trị về mặt khoa
học pháp lý và giá trị thực tiễn, góp phần thúc đẩy công tác thực thi pháp luật cạnh
tranh ở Việt Nam.
Formatted: Right: 0.63 cm
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
TS. Nguyễn Thị Nhung (2012), “Điều chỉnh pháp luật đối với các thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sỹ luật học, Học
viện Khoa học Xã Hội. Mặc dù chỉ nghiên cứu về hành vi điển hình nhất của nhóm
hành vi hạn chế cạnh tranh, nhưng luận án đã chỉ ra được những bất cập trong các
quy định của pháp luật và thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng yếu kém
trong quá trình phát hiện và xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh nói chung.
Formatted: Right: 0.63 cm
* Luận văn thạc sỹ
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
2
Hoàng Thị An Khánh (2008) ,”Cơ quan quản lý cạnh tranh trong xử lý vụ
việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh”. Luận văn Thạc sỹ Luật Học, Đại
học Luật Hà Nội, 2008. Luận văn thạc sỹ tập trung phân tích mô hình cơ quan cạnh
tranh Việt Nam bao gồm Cục quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh. Qua đó
thấy được sự phối hợp giữa các cơ quan này trong xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh.
Phạm Phương Thảo (, 2013) “Tăng cường năng lực thực thi pháp luật hạn
chế cạnh tranh của cơ quan cạnh tranh Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại
học Luật Hà Nội. , 2013. Luận văn thạc sỹ đã giải quyết về mặt lý luận về hệ thống
tiêu chí đánh giá năng lực của cơ quan cạnh tranh. Từ đó nhận xét về thực trạng
năng lực của cơ quan cạnh tranh Việt nam để đưa ra các giải pháp hoàn thiện giúp
tăng cường năng lực của các cơ quan này trong thực thi pháp luật hạn chế cạnh
3
giống như cuốn ”Hành vi hạn chế cạnh tranh một số vụ việc điển hình của Châu
Âu”
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Các học thuyết pháp lý về cạnh tranh
và các quy định pháp luật của Việt Nam về giải quyết các vụ việc hạn chế cạnh
Formatted: Heading 1, Left, Indent: First line: 1.27 cm,
Space Before: 0 pt, Line spacing: 1.5 lines
Formatted: Indent: First line: 1.27 cm, Space Before: 0 pt,
Line spacing: 1.5 lines
tranh ; phân tích các loại hạn chế cạnh tranh; xem xét một vài vụ việc thực tế để từ
đó đánh giá được thực trạng pháp luật về giải quyết các vụ việc hạn chế cạnh tranh
ở nước ta hiện nay.
Trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu
các quy định về giải quyết vụ việc hạn chế cạnh tranh trong luật cạnh tranh năm
2004, các văn bản pháp luật khác như luật doanh nghiệp…nếu có được đề cập trong
luận văn chỉ mang ý nghĩa so sánh.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Formatted: Heading 1, Left, Indent: First line: 1.27 cm,
Space Before: 0 pt, Line spacing: 1.5 lines
+ Mục đích nghiên cứu:
Formatted: Font: 13 pt, Bold, Italic
Formatted: Bullets and Numbering
Formatted: Font: 13 pt, Expanded by 0.2 pt
Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt, Expanded by 0.2 pt
cạnh tranh;
-- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết vụ việc hạn chế cạnh
tranh ở Việt Nam;
Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Right: 0.63 cm
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
4
-- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết vụ việc hạn
chế cạnh tranh ở nước ta.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Formatted: Heading 1, Left, Indent: First line: 1.27 cm,
Space Before: 0 pt, Line spacing: 1.5 lines
Cơ sở chủ đạo xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử xem xét mọi vấn đề trong trạng thái luôn
Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt, Not Bold
CẠNH TRANH.
Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Indent: First line: 1.27 cm, Space Before: 0 pt
Formatted: Right: 0.63 cm
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
5
Formatted: Font: 18 pt
Formatted: Heading 1, Centered, Indent: First line: 1.27 cm,
Space Before: 0 pt, Line spacing: single
Formatted: Heading 1, Indent: First line: 1.27 cm, Space
Before: 0 pt, Line spacing: single
Formatted: Font: 18 pt
CHƯƠNG 1.
KHÁI QUÁT VỀ HÀNH VI HẠN CHẾ
CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT VỤ
VIỆC HẠN CHẾ CẠNH TRANH
Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Indent: First line: 1.27 cm, Space Before: 0 pt
chuyên môn cũng như trên các diễn đàn kinh tế. Ở mỗi góc độ tiếp cận khác nhau,
thuật ngữ cạnh tranh được hiểu khác nhau.
Tiếp cận ở gốc độ tổng quát, đơn giản, cạnh tranh là sự ganh đua của cá nhân,
tổ chức hay một nhóm nào đó thông qua các hành động, nỗ lực và biện pháp để dành
được phần thắng trong cuộc đua, đạt được mục tiêu của mình.
Tiếp cận ở góc độ kinh tế chính trị học, cạnh tranh là sự ganh đua của chủ thể
trong sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ nhằm dành được những lợi ích cho mình.
Cạnh tranh có thể diễn ra giữa người sản xuất với người sản xuất, giữa người sản xuất
với người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ),
giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng... để có những điều kiện tốt hơn trong sản
xuất và tiêu thụ. Vậy, cạnh tranh có thể hiểu là sự ganh đua giữa những chủ thể kinh
doanh có chức năng giống nhau thông qua các hành động, nỗ lực và biện pháp để
giành được phần thắng trong sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm,
cung ứng dịch vụ. Về bản chất, nếu cạnh tranh diễn ra một cách công bằng, bình đẳng
và lành mạnh thì nó luôn có tác động tích cực đến thị trường; là động lực để các
doanh nghiệp tự cải tổ, trang bị cho mình những điều kiện tốt nhất để tồn tại và phát
triển. Nhờ vậy, thị trường ngày càng có nhiều hàng hóa, dịch vụ, phong phú về chủng
loại, đa dạng về mẫu mã và giá thành được giảm xuống. Bên cạnh đó, cùng với mục
đích tối đa hóa lợi nhuận, cố gắng giành những điều kiện có lợi nhất, cạnh tranh đã
thúc đẩy quá trình tập trung, tích tụ tư bản. Việc tập trung tư bản có thể cải thiện năng
lực cạnh tranh cho các chủ thể, tuy nhiên đó cũng là tiền đề vật chất cho sự hình
thành các hình thái cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền trên thị trường. Ngược
lại với các hành vi cạnh tranh lành mạnh, công bằng là những hành vi phản cạnh
tranh làm cho thị trường méo mó, phá vỡ cấu trúc thị trường, gây tổn thất cho bản
thân doanh nghiệp, người tiêu dùng và các doanh nghiệp liên quan.
Trong một thị trường có doanh nghiệp có sức mạnh đáng kể so với các doanh
nghiệp còn lại hoặc cố một số lượng ít doanh nghiệp thì sự hình thành các thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh hay các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường là rất cao. Chính vì
vậy, các hoạt động làm hình thành nên tình trạng thị trường này cũng bị kiểm soát
nhằm hạn chế nguy cơ xảy ra hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay hành vi lạm
dụng sức mạnh thị trường. Hoạt động này thường được gọi là hoạt động tập trung
kinh tế (M&A).
Formatted: Right: 0.63 cm
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
8
Ba dạng hành vi có bản chất hạn chế, loại bỏ sự cạnh tranh trên thường được
pháp luật các quốc gia điều chỉnh thông qua pháp luật về cạnh tranh hay pháp luật
chống độc quyền. Mặc dù cùng điều chỉnh trong một hoặc một số đạo luật gắn liền
nhau nhưng pháp luật các quốc gia thường không đưa ra một tên gọi chung cho ba
dạng hành vi này. Ví dụ, Luật Chống độc quyền của Nhật Bản điều chỉnh nhóm hành
vi: độc quyền tư nhân, hạn chế thương mại bất hợp lý, cạnh tranh không lành mạnh
và tập trung kinh tế nhưng không sử dụng chung tên gọi nào cho các hành vi nêu trên
[23]. Luật Thương mại lành mạnh của Hàn Quốc cũng điều chỉnh các hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh, thông đồng trong kinh doanh và tập trung kinh tế nhưng không
đưa ra tên gọi chung cho các hành vi này.
Ở Việt Nam, các hành vi này được gọi chung là hành vi hạn chế cạnh tranh.
Formatted: Font: 13 pt, Expanded by 0.1 pt
động kinh doanh.
Thứ hai, hành vi hạn chế cạnh tranh có tác động làm giảm, sai lệch, cản trở
cạnh tranh trên thị trường, đi ngược lại quy luật của thị trường.
Bản chất của hành vi hạn chế cạnh tranh là làm giảm hoặc loại bỏ sự cạnh
tranh trên thị trường. Cạnh tranh là quy luật tất yếu của thị trường, cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp làm cho khách hàng được thỏa mãn nhiều hơn, thúc đẩy sự phát
triển khoa học công nghệ, nâng cao năng suất, tiết kiệm sức lao động. Tuy nhiên, khi
xảy ra hạn chế cạnh tranh, mức độ cạnh tranh trên thị trường sẽ giảm hoặc bị loại bỏ,
các doanh nghiệp không có động lực để phát triển sản xuất kinh doanh, người tiêu
dùng không được thỏa mãn nhu cầu một cách tốt nhất. Lúc này thị trường không còn
vận động một cách tự nhiên theo quy luật vốn có nữa mà chịu sự tác động và kiểm
soát của một hoặc một số chủ thể nhất định, sự cạnh tranh đã bị giảm đi, bị cản trở, bị
làm sai lệch, không còn ở trạng thái vốn có.
Thứ ba, hành vi hạn chế cạnh tranh đi ngược lại lợi ích công cộng.
Hành vi hạn chế cạnh tranh gây các tác động tiêu cực đến môi trường cạnh
tranh, đi ngược với lợi ích của nhiều chủ thể trong xã hội trong đó có người tiêu
dùng, một chủ thể đông đảo trong xã hội, do đó bị coi là hành vi đi ngược với lợi ích
công cộng.
Xét về góc độ kinh tế, hành vi hạn chế cạnh tranh chính là hành vi móc túi
người tiêu dùng một cách tinh vi, bởi vì các nhà sản xuất đã kiếm lời từ túi tiền của
người tiêu dùng thông qua các hoạt động kiểm soát thị trường. Hành vi “móc túi”
được coi là đi ngượi lại lợi ích công cộng trong pháp luật hình sự, còn hành vi hạn
chế cạnh tranh, một hình thức móc túi người tiêu dùng tinh vi, được coi là đi ngược
lại lợi ích công cộng trong pháp luật cạnh tranh. Ngoài ra, hành vi hạn chế cạnh tranh
cũng xâm hại đến lợi íc công về quản lý kinh tế, cái lợi ích mà Nhà nước đại diện. Vì
thế, xử lý hành vi này được tiến hành theo tư duy và triết lý của luật công.
Thứ tư, hành vi hạn chế cạnh tranh gây tác động trực tiếp trên phạm vi thị
trường liên quan.
Formatted: Right: 0.63 cm
Space Before: 0 pt, Add space between paragraphs of the
same style
Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Indent: First line: 1.27 cm, Space Before: 0 pt
hành vi hạn chế cạnh tranh cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp là đối
thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan. Hạn chế cạnh tranh còn có nguy cơ gây ra
tình trạng một doanh nghiệp mất đi ưu thế cạnh tranh của mình trên thị trường không
phải do sự yếu kém của năng lực sản xuất kinh doanh mà do tác động của những
hành vi cản trở, thủ tiêu cạnh tranh từ phía đối thủ khác.
Trong một môi trường kinh doanh mà các hành vi hạn chế cạnh tranh còn
ngang nhiên tồn tại thì không thể khuyến khích việc doanh nghiệp khi tham gia phải
toàn tâm toàn ý phát huy hết khả năng của mình để đạt được vị trí xứng đáng. Một
môi trường kinh doanh không an toàn tự nó khiến cho không ít người đang nuôi ý
Formatted: Right: 0.63 cm
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
11
tưởng kinh doanh sẽ từ bỏ ước mơ này. Điều này đồng nghĩa với tương lai ảm đạm
của nền kinh tế.
Đứng dưới góc độ của người tiêu dùng thì vào thời điểm mà một doanh nghiệp
thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, người tiêu dùng có thể đạt được một số lợi ích
nhất định. Nhưng thông thường, khi thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, doanh
nghiệp hay nhóm doanh nghiệp sẽ tính đến lợi ích lâu dài mà họ đạt được sau khi đã
thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh: đó là thâu tóm được quyền lực thị trường. Với
đối thủ đang hoạt động trên thị trường bằng cách thống nhất với nhau cùng thực hiện
chiến lược cạnh tranh.
Nội dung của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chính là sự thống nhất ý chí giữa
các chủ thể dưới bất kì hình thức nào về cách thức, biện pháp nhằm hạn chế, thậm chí
Formatted: Right: 0.63 cm
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
12
khống chế cạnh tranh trên thị trường liên quan [13, tr. 62]. Như vậy, thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh phải là thỏa thuận chính thức giữa các doanh nghiệp; là quyết định của
một nhóm doanh nghiệp; sự thỏa thuận này được xem là hành vi có bàn tính. Người
ta có thể xem, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là một dạng "hợp đồng"[13, tr. 60].
Về chủ thể thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, có sự khác nhau giữa pháp luật các
quốc gia. Theo Luật cạnh tranh của Cộng hòa Pháp, chủ thể của thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh là tổ chức hoặc cá nhân (trên thực tế chủ yếu là các doanh nghiệp) thuộc
mọi thành phần kinh tế. Theo Luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu, thì chủ thể
của thỏa thuận cạnh tranh là các "doanh nghiệp" (khoản 1 điều 81 Hiệp định Rome).
Tuy nhiên, hiệp định này không đưa ra khái niệm rõ ràng về "doanh nghiệp". Còn
theo Luật cạnh tranh Việt Nam, chủ thể của thỏa thuận cạnh tranh không chỉ là doanh
nghiệp mà còn là các hiệp hội ngành nghề.
Dưới góc độ pháp lý, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được thể hiện dưới hai
hình thức là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc và thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh theo chiều ngang.
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang: "là các thỏa thuận hay hành
vi có sự bàn tính giữa các công ty hoạt động cùng cấp trên thị trường" [24]. Ví dụ:
Pháp luật các quốc gia thường đưa ra những căn cứ, cơ sở để xác định các
hành vi hạn chế cạnh tranh bị kiểm soát. Theo đó, cùng một hành vi, nhưng có những
chủ thể không bị cơ quan nhà nước can thiệp nếu chưa đến ngưỡng pháp luật quy
định sẽ không bị kiểm soát hoặc không bị cấm.
1.1.3.2. Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền
Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phấn đấu vươn lên để đạt
được lợi nhuận cao nhất, dành được ưu thế lớn nhất để chiếm lĩnh một thị phần tương
đối lớn trên thị trường liên quan. Đây là điều đáng mừng cho bản thân doanh nghiệp
cũng như nền kinh tế và luôn được nhà nước ủng hộ, khuyến khích. Trong một số
trường hợp, sự phát triển đó đã đưa doanh nghiệp lên vị trí thống lĩnh thị trường,
thậm chí là độc quyền - những vị trí có lợi thế cạnh tranh cao nhất. Bản thân vị trí
thống lĩnh thị trường hay độc quyền không có tội, không trái với pháp luật. Tuy
nhiên, việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, tìm cách hạn chế
cạnh tranh để bảo vệ vị trí của mình, gây bất lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ là
vấn đề mà pháp luật cần phải can thiệp.
* Vị trí thống lĩnh thị trường. Vị trí thống lĩnh không phải là khái niệm thuộc
phạm trù pháp luật, mà là một khái niệm thuộc phạm trù kinh tế. Án lệ của Pháp cho
rằng, vị trí thống lĩnh được hiểu là "khả năng đối mặt với đối thủ cạnh tranh thực tế"
và "doanh nghiệp được coi là giữ vị trí chiếm lĩnh một vị trí ưu thế trên thị trường khi
Formatted: Right: 0.63 cm
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
14
nắm giữ thị phần ưu thế trên thị trường so với các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh
khác" [13, tr. 71]. Còn Toà án châu Âu quy định: Vị trí thống lĩnh thị trường... liên
Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
15
trí độc quyền và lạm dụng vị trí đó để gây ảnh hưởng, khó khăn cho đối thủ khác, cho
người tiêu dùng thì mới là vi phạm pháp luật.
*Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền. Khi có được vị trí
thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, các doanh nghiệp luôn có xu hướng duy trì để
có thể bảo vệ được lợi thế cạnh tranh tuyệt đối so với các chủ thể khác. Tuy nhiên,
khi các doanh nghiệp lạm dụng vị trí đó để gây ảnh hưởng, loại bỏ đối thủ cạnh tranh,
làm biến dạng quy Luật cạnh tranh trên thị trường, gây khó khăn cho đối thủ khác,
cho người tiêu dùng thì mới là vi phạm pháp luật và bị pháp luật điều chỉnh.
Theo pháp luật các quốc gia cũng như pháp luật Việt Nam, hành vi của doanh
nghiệp bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị pháp luật cấm có thể là: Bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành; Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch
vụ bất hợp lý; Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, Ngăn cản việc tham gia
thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới... Đỉnh cao của thống lĩnh thị trường là
độc quyền. Như đã nêu ở trên, doanh nghiệp có vị trí độc quyền là doanh nghiệp có vị
trí thống lĩnh trên thị trường, chiếm 100% thị phần trên thị trường liên quan. Vì vậy,
doanh nghiệp có vị trí độc quyền ngoài việc không được thực hiện các hành vi bị cấm
đối với doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, còn bị cấm thực hiện các hành vi
áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng; Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương
thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng.
Sở dĩ pháp luật cấm lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền là
để bảo đảm thực hiện mục đích chung của pháp luật là tạo lập một môi trường cạnh
tranh bình đẳng, bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể kinh doanh vừa và nhỏ; bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.
1.1.3.3. Tập trung kinh tế
một tổ chức duy nhất thông qua phương thức mua lại, sáp nhập hoặc liên doanh làm
ảnh hưởng tiêu cực đến cấu trúc của thị trường, hay để tạo lập, củng cố vị trí thống
lĩnh thị trường gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.
Dưới góc độ pháp lý, các văn bản pháp luật có thể trực tiếp đưa ra định nghĩa
về tập trung kinh tế hoặc chỉ liệt kê những hành vi được coi là tập trung kinh tế. Theo
điều L430 - 1 Bộ luật Thương mại Pháp: một vụ tập trung kinh tế được thực hiện khi:
một hoặc nhiều người đã nắm quyền kiểm soát ít nhất một doanh nghiệp hoặc nhiều
doanh nghiệp có được quyền kiểm soát đối với toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp
khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, bằng cách góp vốn mua cổ phần, giao kết hợp
đồng hoặc mọi hình thức khác.
Còn Luật cạnh tranh 2004 lại không đưa ra khái niệm cụ thể về tập trung kinh
tế mà lại liệt kê các hình thức tập trung kinh tế. Tập trung kinh tế là hành vi của
doanh nghiệp bao gồm: (i) Sáp nhập doanh nghiệp; (ii) Hợp nhất doanh nghiệp; (iii)
Formatted: Right: 0.63 cm
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Formatted: Font: Times New Roman, 12 pt
17
Mua lại doanh nghiệp; (iv) Liên doanh giữa các doanh nghiệp; (v) Các hành vi tập
trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật (Điều 16, LCT 2004).
Như vậy, dù cho xem xét dưới góc độ kinh tế hay pháp lý, tập trung kinh tế
đều được nhìn nhận là một hình thức tập trung nguồn lực của các doanh nghiệp đang
hoạt động trên thị trường bằng việc tổ chức lại doanh nghiệp và hậu quả của nó là
việc hình thành các tập đoàn kinh tế, thay đổi cấu trúc thị trường, ảnh hưởng đến các
doanh nghiệp vừa và người tiêu dùng. Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các
quốc gia trên thế giới đều ghi nhận những hình thức tập trung kinh tế như quy định tại