Những điểm hạn chế của hệ thống pháp luật Việt Nam
Hệ thống pháp luật Việt Nam từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây đã có sự
phát triển mạnh mẽ, với nhiều thành tựu to lớn. Bên cạnh những thành tựu đạt được,
hệ thống pháp luật Việt Nam cũng đã và đang bộc lộ những khiếm khuyết, trong đó
có vấn đề thiếu tính thống nhất trong pháp luật.
Hệ thống pháp luật nước ta còn những điểm hạn chế cơ bản sau:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật Việt Nam đa dạng về thể loại văn bản và lớn về số
lượng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Trước thời điểm ban hành Luật Ban
hành VBQPPL năm 2008, hệ thống pháp luật có 26 loại văn bản được xác định là
VBQPPL. Số lượng các VBQPPL như vậy là nhiều và vẫn quá đa dạng.
Thứ hai, văn bản luật chủ yếu vẫn mang tính chất định khung, khó áp dụng trực tiếp
vào các trường hợp cụ thể mà phải thông qua các văn bản hướng dẫn, giải thích. Vì
vậy, khi có quy định liên quan đến chức năng của nhiều ngành thì mỗi ngành lại có
những cách hiểu khác nhau, dẫn đến tình trạng cùng một vấn đề nhưng lại có nhiều
văn bản hướng dẫn khác nhau. Mặt khác, do có quá nhiều loại văn bản, được nhiều
cấp ban hành, nhưng lại thiếu cơ chế cân nhắc toàn diện các lĩnh vực pháp luật liên
quan, nên mâu thuẫn và chồng chéo là khó tránh khỏi.
Thứ ba, tuổi đời của các VBQPPL ở Việt Nam thường không dài. Về nguyên nhân
khách quan, việc chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị
trường dẫn tới việc các quan hệ xã hội thay đổi nhanh chóng. Theo đó, các quy
phạm pháp luật thường nhanh lạc hậu so với thực tiễn. Về nguyên nhân chủ quan,
do thiếu một cơ chế phối hợp toàn diện, nên khi xây dựng các VBQPPL, trong một
số trường hợp, lợi ích ngành, lợi ích nhóm, lợi ích địa phương… được đặt lên trên,
hệ quả là các quy phạm pháp luật được ban hành trong những trường hợp như vậy
không đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Thứ tư, nhiều VBQPPL có tính quy phạm thấp. Bản chất của quy phạm pháp luật là
để xác định mô hình hành vi, xác định những quy tắc xử sự cụ thể mà chủ thể phải
Về phương diện hình thức, tính thống nhất của hệ thống pháp luật còn được thể hiện
qua cấu trúc, cách sắp xếp, phân loại thứ bậc, hiệu lực của quy phạm pháp luật.
Cũng là các quy phạm cùng điều chỉnh về một quan hệ, nhưng tính thống nhất đòi
hỏi những quy phạm pháp luật được quy định trong Hiến pháp phải có giá trị pháp
lý cao nhất, sau với đến những quy phạm pháp luật được chứa đựng trong các bộ
luật và luật, thứ nữa mới đến các quy phạm pháp luật chứa đựng trong các VBQPPL
khác.
Đối với một VBQPPL, tính đồng bộ, thống nhất thể hiện ngay trong cơ cấu của văn
bản. Cơ cấu của văn bản phải thể hiện được mối liên hệ logic giữa các phần,
chương, mục, điều, khoản, điểm với cách trình bày, cách đánh số thứ tự thống nhất.
Mỗi phần, chương, mục, điều, khoản, điểm đều có nội dung thể hiện chủ đề chính
của văn bản, hướng tới mục tiêu chung. Vì vậy, các phần cần được bố trí, sắp xếp
một cách hợp lý, phải thể hiện rõ được phần chung, phần riêng, những đặc thù của
văn bản nhìn từ khía cạnh logic hình thức. Tính thống nhất trong cơ cấu còn thể
hiện ở việc các quy định trong cùng một văn bản phải tương quan với nhau, không
mâu thuẫn, chồng chéo.
Ở phương diện khác, khi xem xét tính thống nhất, cần đặt VBQPPL trong mối
tương quan với toàn bộ hệ thống pháp luật. Khi xem xét tính thống nhất của hệ
thống pháp luật, cần xem xét tính thống nhất giữa các quy phạm pháp luật, các chế
định pháp luật trong cùng một ngành luật và với các ngành luật khác. Điều này là
rất quan trọng vì: pháp luật Việt Nam tuy được chia ra thành các ngành luật nhưng
trên thực tế, xã hội là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nên giữa các quy phạm pháp
luật luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau, dù thuộc về các ngành luật khác nhau.
Tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật còn được xem xét trong mối quan
hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành, luật nội dung và luật hình thức,… Bởi
vậy, việc xem xét về tính thống nhất của hệ thống pháp luật đòi hỏi phải có một cái
nhìn bao quát, toàn diện ở nhiều góc độ, nhiều cấp độ khác nhau. Tính thống nhất
của hệ thống pháp luật đòi hỏi phải loại bỏ mâu thuẫn, trùng lặp hay chồng chéo