BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG,
BỆNH NGHỀ NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ
HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
NGUYỄN TRUNG THÀNH
HÀ NỘI - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG,
BỆNH NGHỀ NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ
HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
NGUYỄN TRUNG THÀNH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐỖ THỊ DUNG
HÀ NỘI - NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TAI
NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP VÀ QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM ............................................................................ 7
1.1. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp ..................................................................................................................... 7
1.1.1. Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ............................................. 7
1.1.2. Pháp luật bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ........................... 11
1.2. Quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp ................................................................................................. 16
1.2.1. Quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp ................................................................................................................... 17
1.2.2. Quy định về điều kiện hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp18
1.2.3. Quy định về các chế độ hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp ................................................................................................................... 20
1.2.4. Quy định về quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ................. 25
1.2.5. Trình tự, thủ tục thực hiện chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp. .................................................................................................................. 26
1.2.6. Quy định về khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp ................................................................................. 28
Kết luận chương 1 ............................................................................................... 31
Chương 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TAI NẠN
LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH
QUẢNG NINH..................................................................................................... 32
2.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh........ 32
: An toàn lao động
VSLĐ
: Vệ sinh lao động
BHXH
: Bảo hiểm xã hội
BNN
: Bệnh nghề nghiệp
HĐLĐ
: Hợp đồng lao động
NLĐ
NSDLĐ
: Người lao động
: Người sử dụng lao động
LĐTBXH
: Lao động, thương binh và xã hội
Nxb
phổ biến, nhất là trong những năm gần đây. Bởi vậy, bảo hiểm TNLĐ, BNN được
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân quan tâm. Theo đó, ngành BHXH luôn chú
trọng triển khai công tác bảo hiểm TNLĐ, BNN trên cơ sở quy định của pháp luật.
Song, thực tế đối tượng tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN vẫn chưa mở rộng; thủ tục
chi trả chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN chưa đáp ứng được nhu cầu của NLĐ khi rủi
ro phát sinh. Tình trạng các đơn vị sử dụng lao động, nhất là doanh nghiệp nợ
1
BHXH, trong đó có bảo hiểm TNLĐ, BNN xảy ra khá phổ biến, làm ảnh hưởng đến
nguồn BHXH, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi NLĐ khi bị TNLĐ, BNN.
Để triển khai thực hiện một cách thống nhất, hiệu quả các quy định của pháp
luật về ATLĐ, VSLĐ trên địa bàn thành phố Hạ Long trong thời gian tới, thì việc
nghiên cứu các quy định của pháp luật, đánh giá những ưu điểm và nhược điểm còn
tồn tại, từ đó đưa ra ý kiến đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao
hiệu quả thực hiện pháp luật BHTN, BNN trên địa bàn là một việc làm cần thiết.
Từ những lý do này, em đã chọn vấn đề: “Pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp từ thực tiễn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” làm
đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật bảo hiểm TNLĐ, BNN là nội dung quan trọng của pháp luật BHXH,
bởi vậy, ở các mức độ khác nhau đã có các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề
này. Cụ thể như sau:
Các Giáo trình luật an sinh xã hội của các cơ sở đào tạo luật học, như: Giáo
trình luật an sinh xã hội Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013;
Giáo trình bảo hiểm xã hội của Trường Đại học Lao động - xã hội năm 2011; Giáo
trình bảo đảm xã hội của Khoa Từ xa, Đại học Huế… Sách tham khảo “Pháp luật an
sinh xã hội - những vấn đề lý luận và thực tiễn” Nxb Tư pháp năm 2010 của tác giả
Nguyễn Hiền Phương; Sách tham khảo: “Bình luận khoa học những nội dung cơ
nhiên, đối tượng nghiên cứu chủ yếu của các công trình này là các quy định về bảo
hiểm TNLĐ, BNN theo của Luật bảo hiểm xã hội năm 2006. Bên cạnh đó cũng có
một số luận văn có nghiên cứu quy định về bảo hiểm TNLĐ, BNN trong Luật bảo
hiểm xã hội năm 2014. Song, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu các
quy định của pháp luật về bảo hiểm tai TNLĐ, BNN theo Luật an toàn, vệ sinh lao
động năm 2015, và đặc biệt nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định này từ thực
tiễn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Vì thế, có thể thấy rằng, tuy là đề tài không mới, nhưng việc nghiên cứu đối
tượng mới gồm quy định của pháp luật bảo hiểm TNLĐ, BNN theo Luật an toàn, vệ
sinh lao động năm 2015 mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016 và thực tiễn
thực hiện trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Từ việc nghiên cứu
này, luận văn đưa ra ý kiến nhận xét, đánh giá và đề xuất các giải pháp hoàn thiện
3
quy định của pháp luật và hoàn thiện khâu tổ chức thực hiện pháp luật bảo hiểm
TNLĐ, BNN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh được coi là đề tài không
trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đây.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là nhằm nghiên cứu một số vấn đề chung về bảo hiểm
TNLĐ, BNN. Trên cơ sở quan điểm về lý luận được nghiên cứu, luận văn tập trung
phân tích thực trạng pháp luật về bảo hiểm TNLĐ, BNN theo quy định của Luật an
toàn, vệ sinh lao động năm 2015 và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hạ Long, tỉnh
Quảng Ninh. Thông qua việc đánh giá những điểm bất cập của pháp luật và thực
tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểm TNLĐ, BNN tại thành phố Hạ Long, tỉnh
Quảng Ninh, luận văn đề xuất phương hướng hoàn thiện một số quy định về bảo
hiểm TNLĐ, BNN và phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
bảo hiểm TNLĐ, BNN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo hướng phù
hợp với sự phát triển về kinh tế - xã hội của địa bàn trong bối cảnh hiện nay.
Luận văn sử dụng phương pháp luận của học thuyết Mác - Lênin bao gồm
phép biện chứng duy vật, phương pháp luận duy vật lịch sử và chính sách, định
hướng của Đảng, nhà nước về an sinh xã hội nói chung, về bảo hiểm TNLĐ, BNN
nói riêng.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thực hiện luận văn bao
gồm các phương pháp lịch sử, phân tích, chứng minh, so sánh, so sánh luật học, thu
thập thông tin, tổng hợp, dự báo khoa học.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về
bảo hiểm TNLĐ, BNN, tạo cơ sở cho việc phân tích một cách có hệ thống các nội
dung quy định của pháp luật hiện hành về bảo hiểm TNLLĐ, BNN cũng như đề
xuất các kiến nghị hoàn thiện một số quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật về bảo hiểm TNLĐ, BNN.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn cung cấp kiến thức cho những NLĐ, NSDLĐ đã,
đang tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN, người đang làm công tác thực tiễn về bảo
hiểm TNLĐ, BNN trong phạm vi cả nước nói chung, tại thành phố Hạ Long nói
riêng. Qua đó, giúp họ thực thi pháp luật bảo hiểm TNLĐ, BNN một cách chính
xác, đảm bảo quyền lợi tối đa cho NLĐ khi bị TNLĐ, BNN.
5
Bên cạnh đó, luận văn cũng là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với sinh
viên, học viên, các nhà nghiên cứu quan tâm đến pháp luật bảo hiểm TNLĐ, BNN
nói riêng, pháp luật an sinh xã hội nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn được kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp và quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam.
trên thế giới đã đề ra nhiều biện pháp khắc phục tình trạng trên. Một trong những
biện pháp đó chính là bảo hiểm TNLĐ, BNN [27].
Trên thế giới, bảo hiểm TNLĐ, BNN ra đời từ rất sớm. Từ năm 1850, Cộng
hoà Liên bang Đức đã quy định bảo hiểm TNLĐ, BNN trong pháp luật nước mình.
Do những ưu việt của loại bảo hiểm này trong việc bảo đảm đời sống cho NLĐ và
gia đình họ trong thời gian gặp rủi ro, nên sau đó bảo hiểm TNLĐ, BNN đã lan dần
sang các quốc gia khác. Đến nay, bảo hiểm TNLĐ, BNN được hầu hết các quốc gia
trên thế giới ghi nhận.
7
Ở Việt Nam, ngay từ sau khi giành được chính quyền Tháng Tám năm 1945,
Chính phủ lâm thời Việt Nam cộng hoà đã quan tâm đến chính sách BHXH đối với
NLĐ, trong đó có bảo hiểm TNLĐ, BNN. Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, quy
định về bảo hiểm TNLĐ, BNN khác nhau. Song điểm chung là đều đưa ra khái
niệm TNLĐ, BNN xuất phát từ sự kiện thực tế của NLĐ khi bị TNLĐ, BNN. Đó là
khi bị TNLĐ, BNN, NLĐ sẽ bị mất hoặc giảm thu nhập từ lao động, mặt khác các
chi phí cho đời sống hằng ngày tăng lên đột xuất, từ đó mà nhu cầu chi sẻ rủi ro của
NLĐ và gia đình họ trong các truờng hợp này trở nên cấp thiết. Trong đó, NSDLĐ,
bên sử dụng sức lao động của NLĐ có trách nhiệm lớn trong vấn đề này và cần thiết
chia sẻ những khó khăn với NLĐ.
Bảo hiểm TNLĐ, BNN có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Theo nghĩa rộng, bảo hiểm TNLĐ, BNN là chế độ bảo hiểm nhằm bù đắp
hoặc thay thế thu nhập từ lao động của NLĐ khi bị TNLĐ, BNN mà bị giảm hoặc
mất khả năng lao động. Theo nghĩa này thì bảo hiểm TNLĐ, BNN của NLĐ không
chỉ được đảm bảo từ quỹ bảo hiểm mà còn được đảm bảo từ chính NSDLĐ.
NSDLĐ phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản viện phí, thuốc men và trả
lương cho NLĐ trong suốt thời gian điều trị.
Theo nghĩa hẹp, bảo hiểm TNLĐ, BNN là một chế độ của BHXH, do quỹ
BHXH chi trả nhằm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập từ lao động của NLĐ
tiêu của bảo hiểm TNLĐ, BNN là nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ
khi do NLĐ bị TNLĐ, BNN mà phải nghỉ việc, hoặc sau đó khả năng lao động của
họ bị suy giảm. Điều đó lý giải tại sao các chế độ TNLĐ, BNN là các chế độ được trả
bằng tiền, không chỉ giúp NLĐ đảm bảo đời sống, mà trong một số trường hợp họ
còn được trợ cấp để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt khi NLĐ bị mất hoặc suy
giảm bộ phận, chức năng nào đó của cơ thể để họ tham gia sinh hoạt bình thường.
Thứ ba, nguồn quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN do NSDLĐ đảm bảo
Đây là đặc điểm quan trọng của bảo hiểm TNLĐ, BNN. Cũng như các chế độ
BHXH ngắn hạn khác như ốm đau, thai sản… bảo hiểm TNLĐ, BNN hoàn toàn do
NSDLĐ đóng phí. Bởi các sự kiện rủi ro phát sinh gắn liền với thời gian NLĐ đang
tham gia quan hệ lao động, đang đi làm và có lương. Khi NLĐ gặp rủi ro, bị TNLĐ,
BNN thì họ không đi làm được và tất yếu không có thu nhập. Do rủi ro đó gắn liền
với quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, nên ở hầu hết các quốc gia,
nguồn thực hiện bảo hiểm TNLĐ, BNN đều do NSDLĐ đóng góp.
9
1.1.1.2. Vai trò của bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Bảo hiểm TNLĐ, BNN có vai trò rất quan trọng trong việc đản bảo đời sống
cho NLĐ tham gia bảo hiểm mà bị TNLĐ, BNN làm suy giảm hoặc mất khả năng
lao động. Khi thu nhập của NLĐ được bảo đảm sẽ là cơ sở quan trọng để bảo đảm
an sinh xã hội và từ đó góp phần phát triển ổn định, bền vững kinh tế - xã hội của
đất nước.
- Vai trò đối với NLĐ tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN
NLĐ khi bị TNLĐ, BNN sẽ phát sinh nhu cầu được đảm bảo đời sống khi
khả năng lao động bị suy giảm. Tuy nhiên, không phải ai cũng có nguồn tài chính
dư dả để có thể đảm bảo đời sống và thu nhập cho mình cũng như các thành viên
trong gia đình. Vì vậy, nếu NLĐ tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN thì họ sẽ được
quỹ bảo hiểm chi trả trợ cấp bằng tiền để thay thế hoặc bù đắp thu nhập bị mất cũng
TNLĐ, BNN theo quy định của pháp luật.
Do có vai trò hết sức quan trọng đối với người tham gia, đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội và an sinh xã hội của đất nước, nên BHXH nói chung, bảo hiểm
TNLĐ, BNN nói riêng được hầu hết các quốc gia quy định. Theo đó, pháp luật bảo
hiểm TNLĐ, BNN là một bộ phận của pháp luật BHXH, bao gồm các quy phạm
pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng các biện
pháp khác nhau. Pháp luật bảo hiểm TNLĐ, BNN điều chỉnh những quan hệ xã hội
phát sinh từ hoạt động bảo hiểm thu nhập cho NLĐ trong quá trình thực hiện các
quyền và nghĩa vụ lao động nên phải bao quát được hết các khâu từ quy định về đối
tượng tham gia bảo hiểm, quyền lợi hưởng bảo hiểm cho đến quy định về thủ tục
giải quyết chế độ bảo hiểm cho NLĐ tham gia, quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN, khiếu
nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm TNLĐ, BNN [27].
Từ đó, có thể hiểu pháp luật bảo hiểm TNLĐ, BNN là tổng hợp các quy phạm
pháp luật quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN, điều kiện và
quyền lợi hưởng của người tham gia và các vấn đề khác liên quan nhằm thay thế
hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi bị TNLĐ, BNN trên cơ sở đóng phí
vào quỹ bảo hiểm.
1.1.2.2. Nguyên tắc bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Nguyên tắc của bảo hiểm TNLĐ, BNN được hiểu là các tư tưởng chỉ tạo có
tính chất quán xuyến xuyên suốt các quy phạm pháp luật bảo hiểm TNLĐ, BNN.
Cụ thể, bao gồm các nguyên tắc cơ bản sau đây:
11
- Thứ nhất, nguyên tắc mức đóng bảo hiểm TNLĐ, BNN được tính trên cơ
sở tiền lương của NLĐ, do NSDLĐ đóng phí.
Nguyên tắc này dựa trên cơ sở đối tượng của bảo hiểm TNLĐ, BNN là thu
nhập của NLĐ khi đí làm. Nếu thu nhập này bị biến động mà suy giảm hoặc mất do
suy giảm hoặc mất khả năng lao động thì tổ chức BHXH phải chi trả trợ cấp để
- Thứ ba, nguyên tắc quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN là quỹ thành phần của quỹ
BHXH.
Để đạt được mục đích đặt ra của bảo hiểm TNLĐ, BNN, một trong những
vấn đề đặt ra là quản lý và sử dụng nguồn quỹ bảo hiểm. Theo quy định của pháp
luật nhiều quốc gia, trong dó có Việt Nam, thì quỹ BHXH bao gồm các quỹ thành
phần như: quỹ BHXH bắt buộc, quỹ BHXH tự nguyện, quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Trong quỹ BHXH bắt buộc bao gồm các quỹ: quỹ ốm đau và thai sản, quỹ TNLĐ,
BNN, quỹ hưu trí và tử tuất. Các quỹ này đều do BHXH Việt Nam quản lý. Việc
quy định các quỹ thành phần như trên chính là nhằm bảo đảm thuận lợi trong quản
lý thu, quản lý và chi trả chế độ, bảo đảm tốt nhất quyền lợi cho đối tượng tham gia
BHXH.
1.1.2.3. Nội dung pháp luật bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
- Đối tượng tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN:
Đối tượng tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN là nội dung quan trọng của pháp
luật bảo hiểm TNLĐ, BNN. Đối tượng tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN được hiểu
là cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia đóng phí vào quỹ bảo hiểm
TNLĐ, BNN. Những đối tượng này có thể là những đối tượng phải đóng góp phí
bảo hiểm TNLĐ, BNN để bảo hiểm cho NLĐ đang tham gia quan hệ lao động hoặc
cũng có thể là những đối tượng nhà nước quy định, theo đó họ là đối tượng được
chủ thể khác đóng phí cho mình hưởng khi bị TNLĐ, BNN mà suy giảm khả năng
lao động.
Theo quy định của pháp luật các quốc gia trong đó có Việt Nam, thì đối
tượng tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN bao gồm NSDLĐ và NLĐ.
- Điều kiện hưởng bảo hiểm TNLĐ, BNN:
Điều kiện hưởng bảo hiểm TNLĐ, BNN là tập hợp các quy định của pháp
luật làm cơ sở pháp lý để người tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN được hưởng quyền
lợi. Điều kiện hưởng bảo hiểm TNLĐ, BNN chính là việc NLĐ được NSDLĐ đóng
13
14
Ngoài ra, quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN còn hình thành từ tiền sinh lời trong
hoạt động đầu tư quỹ và các nguồn thu hợp pháp khác. Thực tế nhiều quốc gia trong
đó có Việt Nam quy định quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN dựa vào đóng góp của
NSDLĐ. Nguồn tài chính từ sự đóng góp của NSDLĐ tính theo tỉ lệ nhất định. Ở
Việt Nam, quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN là quỹ thành phần của quỹ BHXH nên cũng
như quỹ BHXH nói chung, được hạch toán độc lập với ngân sách nhà nước và được
nhà nước bảo hộ.
- Thủ tục thực hiện bảo hiểm TNLĐ, BNN:
Thủ tục thực hiện bảo hiểm TNLĐ, BNN được hiểu là trình tự thực hiện các
bước, các khâu về hồ sơ, giấy tờ để giải quyết chế độ, quyền lợi cho NLĐ khi NLĐ
đủ điều kiện hưởng bảo hiểm TNLĐ, BNN theo quy định của pháp luật. Theo đó,
NLĐ tham gia BHXH và được xác định thời gian tham gia trong sổ BHXH. Khi có
rủi ro TNLĐ, BNN, thì NLĐ phải có đầy đủ hồ sơ gửi cơ quan bảo hiểm có thẩm
quyền. Trong khoảng thời gian nhất định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành giải
quyết chế độ cho NLĐ. Viẹc thực hiện đúng thủ tục giải quyết chế độ bảo hiểm
TNLĐ, BNN là rất quan trọng, bởi nó không chỉ liên quan đến quyền lợi của người
tham gia bảo hiểm mà còn liên quan đến vấn đề tài chính của quỹ bảo hiểm. Việc xác định
không đúng cách thức chi trả chế độ, quyền lợi bảo hiểm TNLĐ, BNN cho người tham gia
bảo hiểm dễ dẫn đến việc thâm hụt quỹ BHXH ảnh hưởng đến nguồn tài chính của quỹ.
- Khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm TNLĐ, BNN:
Khiếu nại về bảo hiểm TNLĐ, BNN được hiểu là việc NLĐ tham gia bảo
hiểm TNLĐ, BNN hoặc NSDLĐ yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết về bảo
hiểm TNLĐ, BNN xem xét lại quyết định, hành vi của người có thẩm quyền khi có
căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi
ích hợp pháp của mình.
Tố cáo về bảo hiểm TNLĐ, BNN được hiểu là việc NLĐ, NSDLĐ tham gia
đời sống kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới, hiện nay bảo hiểm TNLĐ, BNN được
quy định cụ thể trong Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015, từ Điều 41 đến Điều
62 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016. Để các quy định về bảo hiểm TNLĐ,
BNN của Luật an toàn, vệ sinh lao động đi vào đời sống và phát huy hiệu quả trong
việc bảo vệ NLĐ khi gặp rủi ro trong quá trình lao động, Chính phủ và các cơ quan
có thẩm quyền đã ban hành các văn bản hướng dẫn. Đó là Nghị định số
16
37/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật an toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm TNLĐ, BNN, Ngghị định số
44/2017/NĐ-CP ngày ngày 14/04/2017 quy định mức đóng BHXH bắt buộc vào
quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN, Thông tư số 15/2016/TT-BYT ngày 15/05/2016 quy
định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội.
Từ các quy định này, có thể thấy pháp luật bảo hiểm TNLĐ, BNN hiện hành
của Việt Nam bao gồm các nội dung cơ bản sau đây.
1.2.1. Quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp
Điều 43 Luật an toàn, vệ sinh lao động quy định cụ thể đối tượng áp dụng chế
độ bảo hiểm TNLĐ, BNN. Theo đó, đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm TNLĐ,
BNN là NLĐ tham gia BHXH bắt buộc và NSDLĐ theo quy định của Luật bảo
hiểm xã hội năm 2014. Cụ thể:
- Người lao động tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN:
Người lao động tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN là công dân Việt Nam thuộc
đối tượng tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN, bao gồm: Người làm việc theo hợp
đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp
đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03
tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa NSDLĐ với
người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về
Trường hợp NLĐ giao kết hợp đồng lao động với nhiều NSDLĐ thì NSDLĐ
phải đóng bảo hiểm TNLĐ, BNN theo từng hợp đồng lao động đã giao kết nếu
NLĐ thuộc đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc. Khi bị TNLĐ, BNN thì NLĐ
được giải quyết chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN theo qinguyên tắc đóng, hưởng do
nhà nước quy định.
1.2.2. Quy định về điều kiện hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Tai nạn lao động khác với bệnh nghề nghiệp. Tai nạn lao động là tai nạn xảy
ra trong quá trình lao động, gây tổn thương hoặc mất một bộ phận hoặc chức năng
nào đó của cơ thể NLĐ hoặc làm cho họ bị chết. Còn BNN là bệnh phát sinh từ điều
kiện lao động có hại (độ ồn, độ rung, nồng độ bụi… quá mức cho phép), làm suy
giảm đến chức năng bộ phận của cơ thể. Từ đó, TNLĐ, BNN làm suy giảm khả
năng lao động của NLĐ. Bởi vậy, điều kiện hưởng bảo hiểm TNLĐ, BNN được xác
định khác nhau dựa vào đặc trưng riêng của TNLĐ, BNN.
18