Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ở việt nam thực trạng và giải pháp hoàn thiện - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VŨ TUẤN ĐẠT

CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP
Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THỊ THÚY LÂM

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất đến các thầy
cô giáo khoa Pháp luật kinh tế - Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là cô
giáo Ts. Trần Thị Thúy Lâm đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt
quá trình hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi và
chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào. Mọi trích dẫn trong luận
văn đều được ghi rõ nguồn.
Luận văn chắc chắn sẽ còn những thiếu xót cả về nội dung và hình thức,
rất mong nhận được sự góp ý từ các thầy cô để luận văn có thể được hoàn

nước thống nhất quản lý.......................................................................................14
1.4. Điều chỉnh pháp luật về chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp .14
1.4.1. Đối tượng và điều kiện hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp ...................................................................................................................15
1.4.2. Các chế độ và mức hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 17
1.4.3. Thủ tục hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ...................21
1.4.4. Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ....................................21
1.5. Sơ lược lịch sử phát triển của chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp ở Việt Nam ....................................................................................................23
1.5.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960 .......................................................23
1.5.2. Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1994 .......................................................24
1.5.3. Giai đoạn từ năm 1994 đến nay .................................................................25


Chƣơng 2
THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM
TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP Ở VIỆT NAM
2.1. Đối tượng và điều kiện hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ..29
2.1.1. Đối tượng hưởng bảo hiểm ........................................................................29
2.1.2. Điều kiện hưởng bảo hiểm .........................................................................30
2.2. Các chế độ và mức hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ........36
2.3. Thủ tục hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ...........................43
2.4. Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ............................................47
Chƣơng 3
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG,
BỆNH NGHỀ NGHIỆP Ở VIỆT NAM
3.1. Hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ở
Việt Nam ...................................................................................................................52
3.1.1. Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm

BHXH

Bảo hiểm xã hội

4

ILO

Tổ chức lao động quốc tế


1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
BHXH là một trong những chính sách an sinh xã hội cơ bản trong hệ
thống chính sách xã hội của mỗi quốc gia, nhằm góp phần đảm bảo đời sống
cho người lao động và gia đình họ trong các trường hợp ốm đau, thai sản,
TNLĐ, BNN, thất nghiệp, tuổi già, chết. Có thể nói BHXH là bộ phận cấu
thành quan trọng nhất của hệ thống an sinh xã hội, có vai trò quan trọng trong
việc làm cho xã hội công bằng, ổn định và phát triển bền vững. Mặt khác,
chính sách BHXH là chính sách hướng vào phát triển con người, đáp ứng mục
tiêu phát triển con người trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và hội nhập quốc tế ở nước ta.
Chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN là một trong những chế độ BHXH ra đời
sớm trong lịch sử phát triển của BHXH, có vai trò quan trọng trong việc đảm
bảo đời sống cho người lao động sau khi bị rủi ro do nghề nghiệp.
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, cùng với sự phát triển
của ngành công nghiệp thì số vụ TNLĐ, BNN cũng tăng nhanh qua các năm.

nạn lao động, bệnh nghề nghiệp” của Đinh Thị Việt Hương, năm 1997;
“Chế độ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp” của Vũ Hồng Thiêm, năm
2000; “Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo pháp luật
Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” của Trần Thị Thu
Trang, năm 2006; “Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Thực trạng và giải pháp” của Vũ Thị La, năm 2010. Ở bậc sau đại học vẫn
chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về đề tài này.
Những công trình nghiên cứu trên một số đã không còn mang tính cập
nhật, một số còn chưa thực sự nghiên cứu chuyên sâu, do đó tác giả chọn
nghiên cứu đề tài “Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ở
Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”.


3

3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp bậc sau đại học, luận văn
tập trung nghiên cứu chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN trong phạm vi sau:
+ Nghiên cứu chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN ở Việt Nam dưới góc độ là
chế độ BHXH do quỹ BHXH chi trả nhằm bù đắp một phần hoặc thay thế thu
nhập từ lao động cho người lao động bị TNLĐ, BNN theo những quy định
trong Luật BHXH 2006 và các văn bản hướng dẫn đang có hiệu lực.
+ Phân tích, đánh giá và đưa ra giải pháp liên quan đến đối tượng, điều
kiện hưởng bảo hiểm, các chế độ và mức hưởng bảo hiểm, thủ tục hưởng bảo
hiểm và quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN. Không nghiên cứu về thanh tra và xử lý
giải quyết tranh chấp, vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm TNLĐ, BNN.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu
dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như quan điểm, chủ trương, đường
lối của Đảng và Nhà nước về phát triển con người và bảo hiểm xã hội trong

7. Bố cục của luận văn
Ngoài lời nói đầu, bảng chữ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế độ bảo hiểm tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp
Chương 2: Thực trạng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp ở Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ
bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam


5

Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM
TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP
1.1. Khái niệm và một số điểm phân biệt giữa tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp
1.1.1. Khái niệm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
* Tai nạn lao động
TNLĐ xuất hiện cùng với quá trình lao động sản xuất của con người, nó
có thể xảy ra ở mọi ngành nghề, mọi quốc gia. Mặc dù đã có nhiều biện pháp
được thực hiện nhằm giảm thiểu TNLĐ như sử dụng máy móc thay thế, trang
bị phương tiện bảo hộ lao động… nhưng dù cố gắng đến đâu thì TNLĐ vẫn
xảy ra. Chính vì vậy, TNLĐ không chỉ là vấn đề quan tâm của mỗi quốc gia
mà là vấn đề chung của toàn cầu.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, TNLĐ được hiểu là tai nạn
bất ngờ xảy ra do lao động hay trong quá trình lao động, có thể gây tử vong
hoặc gây cho cơ thể tổn thương hoặc một rối loạn chức năng vĩnh viễn hay
tạm thời. [21]

đang thực hiện nhiệm vụ lao động, gây ra tổn thương đến cơ thể hoặc gây ra
tử vong cho người lao động.
TNLĐ xảy ra do tác động bởi các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong lao
động gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao
động hoặc gây tử vong trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện
công việc, nhiệm vụ lao động (kể cả thời gian giải quyết các nhu cầu cần thiết
trong thời gian làm việc theo Bộ Luật Lao động quy định như: nghỉ giải lao,
ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, thời gian chuẩn bị và kết thúc công việc…).
Có nhiều nguyên nhân gây ra TNLĐ song chủ yếu là do công tác an toàn
lao động không được thực hiện tốt. Sự cố công nghệ như nổ nồi hơi, bình nén


7

khí, thiết bị nâng không đảm bảo an toàn… vị trí, tư thế lao động gò bó; trình
độ lao động thấp; ý thức kỷ luật lao động kém; tâm lý lao động không ổn
định… đều là những nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến TNLĐ.
* Bệnh nghề nghiệp
BNN cùng với TNLĐ được coi là những rủi ro nghề nghiệp của người
lao động, là tiêu chí đánh giá tình hình an toàn và vệ sinh lao động ở một đơn
vị, một ngành hay một quốc gia.
Theo quy định của ILO thì một bệnh mà người lao động mắc phải do ảnh
hưởng của một yếu tố có hại nào đó trong quá trình làm việc của mình được
gọi là BNN. Các yếu tố ảnh hưởng này có tính chất thường xuyên và kéo dài
gây nên sự tích lũy tiềm tàng về bệnh tật cho cơ thể.
Theo Điều 143 Bộ luật lao động 2012, BNN là bệnh phát sinh do điều
kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động.
Cũng tương tự như TNLĐ, dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt giữa
BNN và bệnh thông thường là dấu hiệu “gắn liền với việc thực hiện công
việc, nhiệm vụ lao động”. Điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp có thể là

Theo quy định của pháp luật, BNN là bệnh phát sinh do các yếu tố điều
kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động tới người lao động theo danh
mục các loại BNN do Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban
hành. Còn TNLĐ là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng
nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao
động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Tuy nhiên,
nhiều khi lại rất khó phân biệt giữa TNLĐ và BNN. Có những trường hợp đặc
biệt được coi là TNLĐ như khi cơ thể người lao động bị nhiễm độc đột ngột
một lượng chất độc lớn (gọi là nhiễm độc cấp tính), có thể gây chết người
ngay tức khắc hoặc hủy hoại một bộ phận chức năng nào đó của cơ thể. Song
trong một số trường hợp, một số triệu chứng của nhiễm độc cấp tính được


9

biểu hiện ra do sự tích lũy chất độc trong cơ thể sau một thời gian dài tiếp xúc
như nhiễm độc chì không được coi là TNLĐ mà vẫn là BNN. Những trường
hợp nhiễm độc cấp tính, bán cấp tính do hơi độc, hóa chất độc gây nên tại nơi
làm việc thì được coi như TNLĐ. Ví dụ, trong nhà máy hóa chất do sự cố
trong quá trình sản xuất hơi Clo bị thải ra quá nhiều nên công nhân có thể bị
nhiễm độc cấp tính và có thể chết trong tình trạng phù phổi cấp. Trong những
trường hợp nhiễm độc cấp tính giống như trên là do hóa chất độc hại vào cơ
thể nhanh với nồng độ cao hoặc một lượng lớn xảy ra ở một nghề có yếu tố
độc hại đó được coi là TNLĐ.
Tuy vậy, giữa TNLĐ và BNN tồn tại một số điểm khác nhau cơ bản giúp
ta phân biệt đó là:
Thứ nhất, TNLĐ xảy ra đến bất ngờ, phát sinh trong khoảng thời gian
ngắn còn BNN xảy ra từ từ, phát sinh trong khoảng thời gian dài sau cả một
quá trình tiếp xúc với yếu tố độc hại trong sản xuất. Nếu người lao động tiếp
xúc với yếu tố độc hại trong thời gian ngắn mà đã gây tổn thương cho một bộ

tế, người lao động còn chịu tổn thất nặng nề về tinh thần, bởi không ai muốn
trở thành người tàn phế, người vô ích. Từ đó, nhu cầu được bảo hiểm của
người lao động và gia đình họ trong các trường hợp này càng trở nên bức
thiết. Sự ra đời của chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN trong lịch sử hình thành và
phát triển của BHXH không chỉ có ý nghĩa ràng buộc trách nhiệm của người
sử dụng lao động đối với những rủi ro xảy ra trong quá trình lao động gắn liền
với nghề nghiệp của người lao động mà còn thể hiện sự quan tâm và trách
nhiệm của Nhà nước đối với lực lượng lao động và cộng đồng xã hội nói
chung.
Như vậy, chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN được hiểu là “chế độ bảo hiểm
xã hội do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả nhằm bù đắp một phần hoặc thay thế
thu nhập từ lao động của người lao động bị giảm hoặc mất do giảm hoặc mất
khả năng lao động mà nguyên nhân là tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp”.


11

Do đó, chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN của người lao động được đảm bảo
từ nguồn quỹ BHXH, không bao gồm các khoản chi phí trực tiếp do người sử
dụng lao động thanh toán. Ở đây, cần lưu ý trong trường hợp người sử dụng
lao động chưa tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động theo quy định
của Nhà nước thì trách nhiệm chi trả của quỹ BHXH sẽ được dịch chuyển
sang cho người sử dụng lao động để bảo vệ quyền lợi của người lao động.
Trong trường hợp này, người sử dụng lao động sẽ phải trả cho người lao động
một khoản tiền ngang với mức quy định trong các văn bản pháp luật
về BHXH.
1.2.2. Ý nghĩa của chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp
Thứ nhất, đối với người lao động
Chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN đảm bảo ổn định thu nhập cho người lao

tiêu quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động. Mục tiêu của chương trình là cải
thiện điều kiện, môi trường lao động cho người lao động và giảm thiểu
TNLĐ, BNN. Chương trình cũng đưa ra nhiều giải pháp để thực hiện mục
tiêu này như xây dựng hệ thống luật pháp, tập huấn về an toàn, vệ sinh lao
động cho người lao động và người sử dụng lao động… và chế độ bảo hiểm
TNLĐ, BNN cũng đóng góp không nhỏ vào việc thực hiện chương trình này.
1.3. Nguyên tắc thực hiện chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp
1.3.1. Thực hiện bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải
đảm bảo sự công bằng, bình đẳng
Ý nghĩa xã hội của chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN chỉ được thực hiện khi
chế độ này được áp dụng rộng rãi đối với tất cả mọi người lao động tham gia,
không có sự phân biệt nào. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho người lao
động làm việc trong bất kì thành phần kinh tế nào, bất kì loại hình tổ chức


13

nào, khi gặp TNLĐ, BNN đều được hưởng quyền lợi về BHXH. Tuy nhiên,
tùy vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ mà đối tượng tham
gia, thụ hưởng bảo hiểm và các trường hợp hưởng bảo hiểm sẽ được xác định
khác nhau. Nền kinh tế càng phát triển, khả năng mở rộng đối tượng tham gia
và các trường hợp hưởng bảo hiểm càng được đảm bảo ở một mức độ cao
hơn, mặc dù vậy vẫn phải luôn đảm bảo được sự công bằng, bình đẳng giữa
những người lao động cùng tham gia chế độ. Vì thế, với nền kinh tế đang
ngày càng phát triển như nước ta hiện nay, đây vừa là một nguyên tắc, vừa là
mục tiêu mà chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN cần đạt được.
1.3.2. Thực hiện bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trên cơ
sở cân đối mức đóng và hưởng bảo hiểm, kết hợp với nguyên tắc “lấy số đông
bù số ít”

1.3.4. Thực hiện bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải
được Nhà nước thống nhất quản lý
BHXH là một chính sách xã hội lớn, hoạt động không vì mục tiêu lợi
nhuận. Mục tiêu chính của BHXH nói chung cũng như của chế độ bảo hiểm
TNLĐ, BNN nói riêng là nhằm ổn định đời sống cho người lao động và gia
đình họ, góp phần ổn định xã hội. Do đó Nhà nước, với vai trò quản lý xã hội,
sẽ phải có trách nhiệm trong việc thống nhất quản lý thực hiện chế độ bảo
hiểm TNLĐ, BNN.
Bên cạnh đó, khi Nhà nước thống nhất quản lý, quyền lợi về bảo hiểm
TNLĐ, BNN của người lao động ở các khu vực kinh tế, giữa các vùng, miền
được đảm bảo, sẽ góp phần hình thành và phát triển thị trường lao động.
1.4. Điều chỉnh pháp luật về chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp


15

Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán mà các nước quy
định khác nhau về chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN. Song nhìn chung pháp luật
các nước thường quy định chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN gồm các nội dung
sau đây:
1.4.1. Đối tượng và điều kiện hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp
Việc quy định những chủ thể nào thuộc đối tượng hưởng chế độ bảo
hiểm TNLĐ, BNN là rất quan trọng bởi đây là cơ sở, tiền đề để tiến hành
những bước tiếp theo. Đối tượng trước hết hưởng chế độ bảo hiểm TNLĐ,
BNN đó là người lao động có tham gia BHXH bị TNLĐ, BNN làm suy giảm
khả năng lao động ở một mức độ nhất định. Đây là lực lượng chủ yếu làm ra
sản phẩm cho xã hội đồng thời cũng là đối tượng áp dụng chính. Xét trên khía
cạnh công bằng xã hội và thực hiện nguyên tắc “số đông bù số ít” thì mọi

kiện sau:
- Tình trạng sức khỏe kém;
- Do sức khỏe kém nên không thể làm việc nên không có thu nhập, như
đã định nghĩa trong luật pháp và quy định quốc gia;
- Mất hoàn toàn hoặc một phần khả năng tạo thu nhập trên mức độ
thương tật đã được pháp luật quy định, có thể trở thành thương tật vĩnh viễn
hoặc mất một khả năng nào đó (thân thể hoặc trí tuệ);
- Người trong gia đình mất đi sự hỗ trợ do người lao động chính chết.
Ở Trung Quốc, pháp luật có quy định điều kiện hưởng bảo hiểm TNLĐ,
BNN như sau:
Người lao động được hưởng bảo hiểm khi bị suy giảm khả năng lao
động hoặc chết do TNLĐ, BNN trong các trường hợp sau:
- Bị tai nạn trong khi kinh doanh, sản xuất tại đơn vị.
- Bị tai nạn khi đang làm công việc do người sử dụng lao động yêu cầu.
- Bị BNN do tiếp xúc với những vật độc hại tại nơi làm việc.
- Bị tai nạn trong thời gian đi làm hoặc tan ca. [23]


17

Hiện nay, có hai cách thường được sử dụng để xác định những BNN
được bảo hiểm. Cách thứ nhất đó là xác định danh mục bệnh và chỉ rõ những
công việc dễ gây ra từng loại BNN. Người lao động mắc bệnh do đã làm công
việc có trong danh mục thì đương nhiên được bảo hiểm. Cách thứ hai đó là
theo yêu cầu đền bù của người bệnh, sẽ xác định xem có đúng vì nguyên nhân
hoạt động nghề nghiệp mà phát bệnh không. Cách làm này khiến người bị
bệnh phải qua kiểm tra, chuẩn đoán, giám định phức tạp để đi kết luận, nhưng
cũng có mặt lợi cho người lao động nếu mắc BNN mà chưa có trong danh
mục BNN. Phần lớn pháp luật các nước đều ấn định rõ một danh mục các
BNN người lao động mắc phải khi tiếp xúc với công việc, và pháp luật Việt

giúp sinh hoạt như chân tay giả, máy trợ thính, xe lăn… Hơn nữa nhiều
trường hợp người lao động bị thương tật nặng không thể tự phục vụ bản thân,
kể cả những sinh hoạt thiết yếu trong cuộc sống cho nên ngoài trợ cấp thương
tật, bệnh tật thì người lao động còn được bảo đảm thêm các khoản trợ cấp
khác để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt và trợ cấp phục vụ.
Thu nhập của người lao động được sử dụng để nuôi sống không chỉ bản
thân người lao động mà cả thân nhân như con, vợ/chồng, cha mẹ. Khi người
lao động chết, đời sống của những thân nhân này sẽ gặp rất nhiều khó khăn,
họ cần một khoản trợ cấp để ổn định đời sống. Chính vì vậy, pháp luật còn
quy định về việc trợ cấp cho người lao động bị chết vì TNLĐ, BNN. Đây là
một quy định hết sức đúng đắn nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt
cũng như lâu dài của gia đình người lao động đồng thời khoản trợ cấp này
cũng bù đắp được phần nào những thiệt hại về mặt tinh thần giúp họ lấy lại
niềm tin vào cuộc sống.
Người lao động sau khi điều trị ổn định thương tật, bệnh tật do TNLĐ,
BNN mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.
ILO cũng gợi ý các chế độ mà người lao động bị TNLĐ, BNN sẽ được
hưởng là: chăm sóc sức khỏe và các trợ cấp đi kèm theo cho người sức khỏe


19

yếu như khám đa khoa, chuyên khoa, khám nha khoa, chăm sóc sức khỏe tại
nhà, tại bệnh viện, cung cấp thuốc men, trang thiết bị y tế… (Điều 10, 11, 12
Công ước 121); trợ cấp bằng tiền theo các chế độ nêu trong Điều 6 (khoản b,
c và d), Điều 13 đến Điều 22 Công ước 121.
Đặc biệt, ILO quy định rất cụ thể, rõ ràng trách nhiệm, nghĩa vụ của các
quốc gia thành viên trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động bị TNLĐ,
BNN. Các thành viên có trách nhiệm chung đối với việc cung cấp các trợ cấp
được quy định bởi Công ước và thực hiện mọi biện pháp cần thiết để phục vụ

lương trung bình của họ; người bị thương tật cấp 5 và cấp 6 thì mức hưởng là
70% mức lương trung bình. Các cấp còn lại sẽ được hưởng trợ cấp thương tật
một lần theo mức từ 6 đến 24 tháng lương tùy theo mức độ thương tật của họ.
- Thứ tư, trợ cấp tử tuất và quyền lợi của thân nhân
Khi người lao động bị chết do TNLĐ, BNN thì thân nhân của họ, những
người mà người lao động có trách nhiệm nuôi dưỡng khi còn sống, sẽ được
hưởng các quyền lợi:
+ Mai táng phí (trợ cấp tang lễ): bằng 6 tháng tiền lương trung bình của
người lao động.
+ Trợ cấp tử tuất: từ 48 tháng đến 60 tháng tiền lương trung bình của
người lao động trong năm trước khi chết.
+ Trợ cấp hàng tháng: nếu vợ hoặc chồng góa đủ điều kiện để được
hưởng trợ cấp hàng tháng thì được hưởng trợ cấp hàng tháng với mức trợ cấp
bằng 40% tiền lương trung bình của người chồng hoặc vợ trước khi chết. Cha
mẹ già và các con chưa đến tuổi thành niên được nhận trợ cấp hàng tháng
bằng 30% mức lương trung bình của xã hội. [14]
Có thể thấy, trợ cấp TNLĐ, BNN được thực hiện trên cơ sở mức lương
làm căn cứ đóng bảo hiểm của người lao động hoặc một mức thu nhập nhất
định do Nhà nước quy định (ví dụ: mức lương tối thiểu). Mức trợ cấp TNLĐ,
BNN được quy định khác nhau ở các quốc gia tùy thuộc vào điều kiện kinh tế
- xã hội của mỗi nước và trong những trường hợp cụ thể thì mức trợ cấp còn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status