BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
NGUYỄN LAN HƯƠNG
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
NGUYỄN LAN HƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT
HÀ NỘI - 2017
của mình.
Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2017
Học viên
Nguyễn Lan Hương
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ VÀ PHÁP
LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI TẬP TRUNG KINH TẾ
5
1.1. Hiện tượng tập trung kinh tế và nhu cầu kiểm soát tập trung kinh tế
5
1.2. Khái niệm và bản chất của tập trung kinh tế
10
32
2.1.1. Các hình thức tập trung kinh tế
32
2.1.2. Nội dung và thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế
40
2.1.3. Giải quyết vụ việc tập trung kinh tế
50
2.2. Một số nhận xét pháp luật Việt Nam về kiểm soát hành vi tập trung
kinh tế
2.3. Thực tiễn kiểm soát một số vụ tập trung kinh tế tại Việt Nam
53
55
Kết luận chương 2
57
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ KIỂM
SOÁT HÀNH VI TẬP TRUNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
kiểm soát hành vi tập trung kinh tế
63
3.2.1. Cơ quan quản lý cạnh tranh
63
3.2.2. Công khai, minh bạch chế độ tài chính của các doanh nghiệp
64
3.2.3. Nâng cao năng lực, chất lượng của đội ngũ nhân viên thực
thi Luật Cạnh tranh
65
Kết luận chương 3
66
KẾT LUẬN
67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
68
gây ảnh hưởng tiêu cực đến cấu trúc thị trường và suy giảm tính cạnh tranh trên
thị trường. Hệ quả là, các doanh nghiệp có thể cùng nhau phối hợp về giá hoặc
thỏa thuận về sản lượng đầu ra gây hạn chế cạnh tranh. Khi đó, các hành vi tập
trung kinh tế này cần phải được kiểm soát để bảo vệ trật tự cạnh tranh. Biện pháp
pháp lý, cụ thể là các chính sách và quy định pháp luật, là một trong những biện
pháp đầu tiên mà Nhà nước có thể sử dụng để kiểm soát hoạt động tập trung kinh
tế.Từ nhận thức trên, tác giả lựa chọn đề tài "Kiểm soát tập trung kinh tế theo
pháp luật Việt Nam" làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở phạm vi nghiên cứu về hành vi tập trung kinh tế nói riêng và các hành vi
hạn chế cạnh tranh nói chung đã có một số luận văn, đề tài, bài viết nghiên cứu
tiêu biểu như: Chuyên đề Tập trung kinh tế thuộc Đề tài cơ sở lý luận và thực
tiễn của việc xây dựng nội dung chương trình môn học Luật cạnh tranh năm
2005 của Vũ Thị Lan Anh (Trường đại học Luật Hà Nội); Luận văn thạc sĩ Luật
học "Một số vấn đề pháp lý về tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh Việt Nam"
năm 2006 của Trần Thị Bảo Ánh (Trường Đại học Luật Hà Nội); bài viết "Các
khía cạnh pháp lý về tập trung kinh tế và vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh"
năm 2007 của PGS.TS. Nguyễn Như Phát (Tạp chí Khoa học Pháp lý số 4).
Các công trình trên đã đề cập tới các vấn đề chung nhất của hành vi tập
trung kinh tế. Tuy nhiên, qua quá trình tìm tòi, nghiên cứu, tác giả thấy rằng việc
làm sáng tỏ vấn đề kiểm soát tập trung kinh tế với tư cách là một trong các hành
vi hạn chế cạnh tranh bằng pháp luật cạnh tranh một cách có hệ thống, là vấn đề
rất cần thiết.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tương nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về tập trung
kinh tế và pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế, trong đó:
2
- Nghiên cứu những nội dung lý luận cơ bản về tập trung kinh tế; kiểm soát
tập trung kinh tế;
- Phân tích những nội dung pháp luật về tập trung kinh tế;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế ở
Việt Nam hiện nay.
- Xây dựng giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế, qua
đó nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế trong thực tiễn.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ khái niệm tập trung kinh tế với tư cách là một trong những hành vi
hạn chế cạnh tranh; vai trò của pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế đối với nền
kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và tương lai.
- Phân tích, từ đó thấy rõ được thực trạng của pháp luật Cạnh tranh Việt
Nam hiện nay về kiểm soát tập trung kinh tế.
- Nêu ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
thi của pháp luật Cạnh tranh điều chỉnh kiểm soát tập trung kinh tế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về tập trung kinh tế và pháp luật điều chỉnh hành vi
tập trung kinh tế.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về kiểm soát hành vi tập trung
kinh tế.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật kiểm soát hành vi tập trung kinh tế ở Việt Nam.
4
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT
ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI TẬP TRUNG KINH TẾ
những đạo luật chống Tờ rớt (anti trust: kiểm soát, khống chế độc quyền và phá
bỏ cản trở cạnh tranh).
Sau Chiến tranh thế giới thứ II, tư tưởng chống Tờ rớt đã mau chóng phổ
biến sang Anh, Pháp và các nước bại trận. Cho tới những năm 1970, Tòa án Tối
cao Mỹ nhấn mạnh rằng "luật chống độc quyền... là nền tảng cho hoạt động kinh
doanh tự do. Luật chống độc quyền quan trọng đối với việc bảo vệ sự tự do kinh
tế và hệ thống kinh doanh tự do cũng như Đạo luật về Nhân quyền có ý nghĩa
quan trọng đối với việc bảo vệ những quyền tự do căn bản của chúng ta". Đạo
luật Sherman của Mỹ năm 1890, và một số luật chống độc quyền sau này của
Mỹ (như Đạo luật Robinson Patman 1936) được ban hành để bổ sung việc bảo
vệ của pháp luật đối với "sự tự do hợp đồng" trước những thỏa thuận hạn chế
"bất hợp lý" và âm mưu cưỡng ép bằng việc tăng cường các biện pháp bảo vệ về
mặt pháp luật cho người tiêu dùng, "quyền được bán" của các nhà sản xuất nhỏ,
và "mô hình Jefferson về các nhà kinh doanh và đối thủ cạnh tranh nhỏ, bất chấp
một số những chi phí xã hội có thể có về khía cạnh giảm sút hiệu quả". Kể từ
những năm 80, dưới ảnh hưởng của Trường phái kinh tế học Chicago, những
xung đột giữa các mục tiêu pháp lý của chính sách chống độc quyền (ví dụ như
bảo vệ sự tự do hợp đồng, tự do của người tiêu dùng và quyền được cạnh tranh
của những thành viên nhỏ) và các mục tiêu kinh tế ngày càng được các tòa án
Mỹ giải quyết trên cơ sở tiêu chí về hiệu quả kinh tế chứ không phải dựa trên
những lập luận về mặt pháp lý hoặc tính "bất hợp lý" của những hạn chế. Chỉ
trong một số trường hợp, như luật án lệ về chống độc quyền trong lĩnh vực độc
quyền kinh tiêu thì các tòa án của Mỹ mới tiếp tục áp dụng cách tiếp cận "quyền
công dân" trong đó sự khiếu nại của các đại lý độc quyền kinh tiêu riêng lẻ về
6
việc không có sự kiểm soát thích hợp hoạt động độc quyền kinh tiêu này vẫn có
vị trí tối quan trọng. Ngày nay, nhiều luật sư về lĩnh vực chống độc quyền ở Mỹ
đều nhất trí rằng luật chống độc quyền ở Mỹ cần phải được hiểu là để bảo vệ
kinh tế năm 1992. Cho đến nay, nhiều nước châu Âu còn chưa ban hành quy chế
kiểm soát tập trung kinh tế.
Nhật Bản và các con hổ Á Châu trước hết khuyến khích tập trung kinh tế
với các liên kết kinh doanh (keiretzu, cheabol) tạo ra các doanh nghiệp có sức
mạnh như những đại tập đoàn rồi mới dè dặt du nhập tư duy khống chế cạnh
tranh, kiểm soát tập trung kinh tế. Trung Quốc cũng chỉ quan tâm đến luật cạnh
tranh từ mười mấy năm nay và trước hết chỉ nhấn mạnh vào chống cạnh tranh
không lành mạnh.
Phần lớn các nước đang phát triển cho tới nay chưa ban hành luật cạnh
tranh quốc gia và còn thiếu một nền văn hóa cạnh tranh và những điều kiện pháp
lý thuận lợi có được từ pháp luật cạnh tranh và sự dân chủ thể hiện trong hiến
pháp. Tại những nước đang phát triển đã ban hành luật cạnh tranh, luật và chính
sách cạnh tranh dường như không chỉ tập trung vào hiệu quả kinh tế. Chừng nào
các điều kiện tiên quyết cho một nền kinh tế thị trường hiệu quả chưa được thiết
lập đầy đủ ở các nước đang phát triển, hoặc những nước trong thời kỳ chuyển
đổi thì chính sách cạnh tranh có thể được nhìn nhận trên một góc độ rộng lớn có
tính đến cả những mục tiêu của chính sách điều tiết (ví dụ như: cơ cấu lại, giảm
bớt các quy định và tư nhân hóa các ngành công nghiệp) và những vấn đề điều
chỉnh xã hội của những chính sách như vậy. Tuy nhiên, các giá trị không liên
quan tới vấn đề hiệu quả có thể vẫn quan trọng đối với các nước đang phát triển những nước ban hành luật cạnh tranh mới như là một phương tiện để mở cửa và
giảm bớt quy định trên các thị trường trong nước.
Như vậy, tập trung kinh tế được coi là một hình thức tiến tới độc quyền hóa
kéo theo sự tăng trưởng ngoại sinh của doanh nghiệp. Trên thực tế, sự lớn lên
của các doanh nghiệp bằng con đường nội sinh là rất không đáng kể mà chủ yếu
thông qua con đường tăng trưởng ngoại sinh (tập trung kinh tế).
8
Tập trung kinh tế là hiện tượng thuộc về quyền tự do của các doanh nghiệp,
theo các nguyên lý của thị trường kinh tế mà ở đó quyền tự do khế ước, tự do lập
1.2.1. Khái niệm tập trung kinh tế
Như phân tích ở trên, Pháp luật cạnh tranh chỉ xuất hiện trong cơ chế thị
trường, nơi có tự do kinh doanh, tự do khế ước và tự do lập hội. Pháp luật cạnh
tranh xuất hiện vào đúng thời điểm mà hành vi cạnh tranh đi vượt quá biên giới
của quyền tự do kinh doanh. Xét về tính chất và mục tiêu, pháp luật cạnh tranh là
loại pháp luật nhằm ngăn cản, chống đối và trừng trị những hành vi cạnh tranh
trái pháp luật, đạo đức và văn hóa kinh doanh.
Kinh tế học từ lâu đã nghiên cứu cấu trúc thị trường (market structure) và
chia cấu trúc thị trường thành 4 loại chính: Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect
competition); Cạnh tranh có tính độc quyền (monopolistic competition); Độc
quyền nhóm (oligopoly); và độc quyền (monopoly). Trong đó cạnh tranh hoàn
hảo và độc quyền là hai hình thái thị trường đối cực với nhau. Yếu tố căn bản để
phân biệt các hình thái thị trường này là mức độ của khả năng kiểm soát giá cả
của nhà cung cấp dịch vụ hay hàng hóa trên thị trường. Khả năng kiểm soát giá
cả này thường được gọi là quyền lực của thị trường (market power). Một doanh
nghiệp được coi là có quyền lực thị trường khi doanh nghiệp tăng giá bán sản
phẩm của mình trên thị trường nhưng tổng lợi nhuận thu về vẫn tăng lên (thông
thường, khi một doanh nghiệp tăng giá sản phẩm của mình thì sản lượng bán ra
sẽ giảm đi, tổng lợi nhuận có thể giảm đi...).
Cạnh tranh hoàn hảo là một hình thái thị trường trong đó có nhiều người
mua và nhiều người bán cùng tham gia thị trường, các sản phẩm trong thị trường
nhìn chung là đồng nhất hoặc được chuẩn tắc hóa, việc gia nhập hoặc rút khỏi thị
trường được diễn ra tự do, thông tin thị trường mang tính minh bạch. Như vậy,
trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, tất cả người bán và người mua đều có quy
mô quá nhỏ so với quy mô của thị trường nên không ai có thể có khả năng quyết
định hoặc ảnh hưởng đến giá của sản phẩm trên thị trường, tức là không ai có
10
khả năng có quyền lực thị trường. Tất cả họ đều là những người chấp nhận giá
đồng giữa những nhà sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ (các doanh nghiệp
độc quyền) với nhau hoặc giữa người sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ với
các bên có liên quan nhằm hạn chế cạnh tranh trên thị trường.
- Lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền gây hạn chế cạnh tranh: Đây
là trường hợp các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền lạm dụng vị
trí của mình có những hành vi gây hạn chế cạnh tranh. Thông thường khi các
doanh nghiệp đã có được vị trí thống lĩnh sẽ tìm cách sử dụng vị trí thống lĩnh
của mình như một lợi thế để có hành vi áp đặt các điều kiện bất lợi cho đối thủ
cạnh tranh hoặc người tiêu dùng.
- Hành vi tập trung kinh tế: Để đối phó với cạnh tranh trên thị trường, một
số doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ cùng một loại mặt hàng hoặc những mặt hàng
có mối liên hệ hữu cơ với nhau trong quá trình sản xuất hoặc tiêu thụ, cùng liên
kết với nhau hình thành một tập đoàn kinh tế chi phối khối lượng sản xuất, cung
ứng và giá cả thị trường. Đây chính là quá trình tích tụ tư bản trên phạm vi toàn
xã hội và diễn ra một cách tự phát. Như vậy, tập trung kinh tế là một dạng hành
vi hạn chế cạnh tranh, nguy cơ dẫn đến độc quyền.
Khái niệm tập trung kinh tế được bình luận ở nhiều góc độ khác nhau trong
kinh tế học và trong khoa học pháp lý. Nhìn nhận như một quá trình gắn liền với
việc hình thành và thay đổi của cấu trúc thị trường, tập trung kinh tế trên thị
trường được hiểu là quá trình mà số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh
trên thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập hoặc thông qua tăng
trưởng ngoại sinh của doanh nghiệp trên thị trường mở rộng năng lực sản xuất.
Với cách nhìn nhận này, tập trung kinh tế được phân tích dưới góc độ căn
nguyên của hiện tượng tập trung và hậu quả của nó đối với cấu trúc thị trường
cạnh tranh. Từ đó, các nhà hoạch định chính sách cạnh tranh có thể bóc tách các
yếu tố kinh tế để tìm kiếm, bản chất pháp lý nhằm tìm ra những cơ chế điều
chỉnh phù hợp với hiện tượng.
12
các phương thức chủ yếu như góp vốn trực tiếp hoặc gián tiếp, mua tài sản hoặc
hợp đồng thuê khoán.
Theo Luật chống hạn chế cạnh tranh Đức (1957), tập trung kinh tế được
thực hiện thông qua các hình thức như mua lại toàn bộ hoặc một phần lớn tài sản
của doanh nghiệp khác (mua cổ phần và quyền bỏ phiếu của doanh nghiệp để
chiếm 25% tới 50% cổ phần) để có được quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián
tiếp toàn bộ hoặc từng phần của một hoặc nhiều doanh nghiệp khác hoặc các
hình thức liên kết khác giữa các doanh nghiệp để tạo ra sự chi phối của một hoặc
một số doanh nghiệp. Theo luật này, cũng được coi là hình thức tập trung kinh tế
khi các doanh nghiệp liên kết mà có ít nhất nửa số thành viên hội đồng quản trị,
ban giám đốc trong các doanh nghiệp trùng nhau.
Sau khi cuộc nội chiến Hoa Kỳ kết thúc vào năm 1865, luật tiểu bang không
thắt chặt kiểm soát quá trình hoạt động của các doanh nghiệp và trên thị trường
bắt đầu xuất hiện các Công ty lớn dưới hình thức Tờ rớt, hay nói cách khác, là
hình thức kết hợp giữa các Công ty có vị trí thống lĩnh trong nền kinh tế. Xuất
phát từ nguyên nhân đó, vào năm 1890, Quốc hội Hoa kỳ đã thông qua Đạo luật
Sherman, là đạo luật chống độc quyền đầu tiên của Hoa Kỳ, bao gồm những quy
định cấm đối với các thỏa thuận gây hạn chế thương mại nhưng lại không đưa ra
các quy định rõ ràng để điều chỉnh các vụ việc tập trung kinh tế. Để khắc phục
những hạn chế của Đạo luạt Sherman với mong muốn chấm dứt những ảnh
hưởng phản cạnh tranh từ những giao dịch của doanh nghiệp, Quốc hội Hoa Kỳ
đã chính thức thông qua Đạo luật Clayton vào năm 1914 để bổ sung vào Đạo
luật Sherman, theo đó nghiêm cấm một số hành vi kinh doanh được xem là
không thân thiện đối với nền kinh tế, bao gồm cả hành vi mua lại (acquisition)
doanh nghiệp gây phản cạnh tranh.
Hầu hết các vụ tập trung kinh tế đều được thể hiện dưới dạng thỏa thuận
nên các vụ việc tập trung kinh tế sẽ thuộc sự điều chỉnh của Điều 1 Luật
Sherman khi vụ việc đó gây hạn chế thương mại. nếu từ việc tập trung kinh tế
14
16
của Đạo luật Clayton. Hoặc (ii) doanh nghiệp tham gia thương mại hoặc bất kỳ
hoạt động nào ảnh hưởng đến thương mại mà có hình thành nên các Công ty trực
thuộc để thực hiện ngay các hoạt động kinh doanh hợp pháp hoặc hình thành nên
các chi nhánh, đơn vị trực thuộc tương ứng hoặc từ việc sở hữu và nắm giữ toàn
bộ hoặc một phần cổ phần của các doanh nghiệp trực thuộc đó và việc hình
thành đó cũng không có tác dụng làm giảm tính cạnh tranh,... cũng không thuộc
đối tượng điều chỉnh của Điều 7 Luật Clayton.
Tập trung kinh tế theo Điều 16 và 17 của Luật cạnh tranh Việt Nam 2004 là
hành vi của doanh nghiệp bao gồm các hình thức sáp nhập doanh nghiệp, hợp
nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp và
các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, có thể thấy, bản thân tên gọi tập trung kinh tế ở các quốc gia cũng
không thống nhất với nhau, các quốc gia đều liệt kê các hành vi bị coi là tập
trung kinh tế với những điều kiện riêng biệt để từ đó kiểm soát các hành vi như
vậy. Tuy nhiên, có thể nhận thấy những dấu hiệu cơ bản của hành vi tập trung
kinh tế.
1.2.2. Bản chất của tập trung kinh tế
Thứ nhất, về chủ thể thực hiện hành vi tập trung kinh tế
Chủ thể thực hiện hành vi tập trung kinh tế là doanh nghiệp. Tập trung kinh
tế là nhằm tăng cường năng lực kinh tế của các doanh nghiệp và cũng là quyền
của các doanh nghiệp, bắt nguồn từ nhu cầu của doanh nghiệp chứ không thể là ý
tưởng của các cơ quan Nhà nước.
Người mua cổ phần để nắm quyền chi phối doanh nghiệp khác thông
thường là doanh nghiệp. Tuy nhiên một số cổ đông mua lại và nắm giữ tạm thời
cổ phần do các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng, bảo
hiểm thực hiện không được coi là hành vi tập trung kinh tế vì đây là một trong
những hoạt động thường xuyên của các doanh nghiệp đó. Những doanh nghiệp
tư bản. Vị trí của các doanh nghiệp còn lại trong quá trình cạnh tranh sẽ giảm đi
trừ doanh nghiệp được hình thành từ tập trung kinh tế.
Thứ tư, về đối tượng tập trung kinh tế là tài sản, các quyền, nghĩa vụ và lợi
ích hợp pháp khác của doanh nghiệp
Tập trung kinh tế là kết quả của quá trình tích tụ, tập trung tư bản hình
thành những doanh nghiệp lớn mạnh hơn về tài chính. Do vậy, đối tượng mà các
bên tham gia vụ tập trung kinh tế hướng đến phải là vốn, tài sản hoặc các quyền,
lợi ích hợp pháp khác. Suy cho cùng các quyền, lợi ích này cũng gắn liền với
việc sở hữu, nắm giữ được một số vốn nhất định để từ đó người có các quyền,
lợi ích này sẽ kiểm soát, chi phối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị sáp
nhập, bị hợp nhất hay bị mua lại.
1.3. Tác động của tập trung kinh tế đối với nền kinh tế
Tập trung kinh tế với tư cách là một hiện tượng, thậm chí đôi lúc còn được
coi là trào lưu trong lịch sử phát triển kinh tế thị trường, đã có những tác động
đáng kể tới đời sống kinh tế. Điều đó được nhìn nhận dưới các góc độ rộng và
hẹp khác nhau.
Thứ nhất, tập trung kinh tế có vai trò cơ cấu lại thị trường. Các biện pháp
sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp góp phần cơ cấu lại các doanh nghiệp
kinh doanh kém hiệu quả song không làm giảm đi giá trị đầu tư của thị trường.
Trong pháp luật kinh doanh, các chế định về giải thể và phá sản doanh nghiệp
được coi như những phương thức giải quyết số phận của các doanh nghiệp gặp
khó khăn và kinh doanh kém hiệu quả. Tuy nhiên, việc sử dụng triệt để hai biện
pháp nói trên có thể gây ra hậu quả là, sau khi các doanh nghiệp bị giải thể, phá
sản, chấm dứt tồn tại thì các giá trị đầu tư của họ sẽ chỉ được dùng để giải quyết
trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp và trả lại cho các chủ đầu tư. Khi đó, giá trị
đầu tư chung trên thị trường liên doanh sẽ giảm đi tương ứng. Trong khi đó, sự
sáp nhập, mua lại, hợp nhất có thể diễn ra với vai trò của quá trình điều phối các
19