các hình thức tập trung kinh tế theo pháp luật cạnh tranh 2004 - Pdf 27

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tập trung kinh tế là một xu hướng phát triển tất yếu của tư bản trong
kinh tế thị trường. Vì những lý do khác nhau trong nền kinh tế như cạnh tranh
gay gắt, nhu cầu áp dụng công nghệ mới, nhu cầu về vốn và sức mạnh tài
chính... mà khả năng của từng doanh nghiệp riêng rẽ không thể đáp ứng được
mà vấn đề tập trung kinh tế luôn diễn ra trên thương trường. Mục tiêu cụ thể
của các hình thức khác nhau của tập trung kinh tế suy cho cùng là tạo ra
những doanh nghiệp lớn trên cơ sở tập trung sức mạnh của nhiều doanh
nghiệp sẵn có trên thương trường. Số lượng của các đối thủ cạnh tranh sẽ
giảm đi và vì thế, mức độ “hoàn hảo” trong cạnh tranh cũng bị giảm sút. Tìm
hiểu vấn đề: “các hình thức tập trung kinh tế theo pháp luật cạnh tranh 2004”
sẽ giúp chúng ta có thể hiểu hơn về vấn đề này.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của tập trung kinh tế.
1. Khái niệm và đặc điểm của tập trung kinh tế.
a. Khái niệm tập trung kinh tế.
Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm mang tính khái quát để
định nghĩa hành vi tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hình thức TTKT. Theo
Điều 16, 17 Luật cạnh tranh 2004 thì TTKT là hành vi của doanh nghiệp bao
gồm: sáp nhập doanh nghiệp; hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp;
liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hành vi TTKT khác theo quy định
của pháp luật.
b) Đặc điểm của tập trung kinh tế.
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi TTKT doanh nghiệp. Dưới giác độ
của pháp luật chống hạn chế cạnh tranh, chỉ có các doanh nghiệp mới có thể
là các chỉ thể của TTKT.
Thứ hai, hành vi TTKT được thực hiện dưới những hình thức nhất
định: TTKT có thể được tiến hành thông qua những con đường như sáp nhập,
hợp nhất, mua cổ phần, liên doanh….
1
Thứ ba, hậu quả của TTKT dẫn đến hình thành các doanh nghiệp, tập

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. các toàn kinh tế hùng hậu chiếm thị phần
lớn, có thế mạnh về tài chính được hình thành mới đủ sức đầu tư phát triển
khoa học kỹ thuật, đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu đổi mới công nghệ và
triển khai chúng vào sản xuất kinh doanh, một việc mà công ty nhỏ khó có thể
thực hiện được. Khoa học công nghệ tiến bộ được áp dụng sẽ đem đến cho
người tiêu dùng những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tốt nhất với giá cả hợp lý
nhất, nâng cao đời sống nhân dân.
TTKT đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung các nguồn lực để phát
triển, tạo ra những ngành kinh tế mũi nhọn. TTKT thúc đẩy sự phát triển của
lực lượng sản xuất vì TTKT dẫn đến sự phát triển sâu rộng của phân công lao
động xã hội, đến quy mô sản xuất và kinh doanh. Sauk hi thực hiện TTKT,
các doanh nghiệp sẽ có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, áp dụng công
nghệ hiện đại,đào tạo nhân lực. người lao động Việt Nam được huấn luyện
bài bản có trình độ tay nghề cia sẽ trở thành nguồn lực chính của Việt Nam
trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Như vậy, TTKT không những có tác dụng thúc đẩy sự phát triển nhiều mặt
của nền kinh tế nói chung mà còn tăng cường tích tụ, nâng cao khả năng cạnh
tranh nhằm tối đa hóa lợi nhuận của các công ty nói riêng.
b) Tác động tiêu cực.
TTKT có thể dẫn tới hậu quả như hình thành các công ty độc quyền,
gia tăng vị trí thống lĩnh trên thị trường làm hạn chế cạnh tranh, gây tổn hại
đến lợi ích người tiêu dùng. Các công ty đa quốc gia đã tiến hành các vụ
TTKT thông qua việc sáp nhập ,hợp nhất, mua lại doanh nghiệp hoặc thực
hiện các hành vi dưới dạng liên doanh nhưng sau đó chấp nhận lỗ hàng năm
trời để làm cạn kiệt khả năng tài chính của doanh nghiệp Việt Nam, sau đó
mua lại phần vốn góp, chiếm lĩnh thị trường và tiếp tục loại bỏ các doanh
nghiệp đối thủ ra khỏi thị trường.
TTKT có xu hướng phân hóa các doanh nghiệp. Những doanh nghiệp có ưu
thế sẽ dành chiến thắng trong các cuộc cạnh tranh, uy tín được nâng cao, lợi
3

4
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình
thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh
nghiệp bị hợp nhất”. Như vậy, sau khi đăng ký kinh doanh, các doanh nghiệp
bị hợp nhất chấm dứt tồn tại, doanh nghiệp hợp nhất được hưởng các quyền
và lợi ích hợp pháp chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp
đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp bị hợp nhất.
- Mua lại doanh nghiệp: Khoản 3 Điều 17 Luật cạnh tranh định nghĩa:
“mua lại doanh nghiệp là việc 1 doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc 1 phần tài
sản, cổ phần của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối hoạt động 1
hoặc toàn bộ ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”. Như vậy, mua lại
doanh nghiệp gồm hai trường hợp: mua lại toàn bộ và mua lại 1 phần doanh
nghiệp. Mua lại toàn bộ doanh nghiệp về bản chất chính là hình thức sáp nhập
doanh nghiệp, bởi vì mua lại toàn bộ doanh nghiệp, người mua trở thành chủ
sở hữu doanh nghiệp cũng như tài sản của doanh nghiệp, được hưởng các
quyền, nghĩa vụ và tính hợp pháp của doanh nghiệp đó. Chỉ có 1 điểm khác
biệt giữa 2 hình thức này đó là việc doanh nghiệp bị mua lại có chấm dứt tồn
tại hay không? Tùy thuộc vào ý chí chủ quan của doanh nghiệp mua, nếu
doanh nghiệp bị mua chấm dứt tồn tại thì đó chính là sáp nhập, còn nếu nó
tiếp tục hoạt động như 1 chủ thể kinh doanh độc lập thì sẽ trở thành công ty
con trong 1 tập đoàn kinh tế.
- Liên doanh giữa các doanh nghiệp: Khoản 4 Điều 17 Luật Cạnh tranh
quy định : “liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hay nhiều doanh
nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp
của mình để hình thành nên doanh nghiệp mới”. Tại Việt Nam, liên doanh
thường được hiểu là liên doanh với người nước ngoài vì hình thức này được
quy định trong luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, thuật ngữa
liên doanh cũng xuất hiện ở một số văn bản pháp luật khác như Luật Doanh
nghiệp… nhưng không có định nghĩa cụ thể. Luật cạnh tranh đã đưa ra khái
niệm về liên doanh nhưng không nói đến quốc tịch của các bên liên doanh, do

tính hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, cơ quan quản lý
cạnh tranh có trách nhiệm chỉ rõ nhứng nội dung cần bổ sung.
6
- Bước 3: Trả lời thông bào về hồ sơ TTKT. Trong thời hạn 45 ngày, kể từ
ngày nhận được đầy đủ hồ sơ thông báo TTKT, cơ quan quản lý cạnh tranh có
trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho doanh nghiệp nộp hồ sơ. Văn bản trả lời
của cơ quan quan rlys cạnh tranh phải xác định TTKT thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
+ TTKT không thuộc trường hợp bị cấm;
+ TTKT bị cấm theo quy định tại điều 18 Luật cạnh tranh; lý do cần phải
được nêu rõ trong văn bản trả lời.
Trường hợp TTKT có nhiều tình tiết phức tạp, thời hạn trả lời quy định có thể
được thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh gia hạn nhưng không quá 2 lần,
mỗi lân không quá 30 ngày và phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp
nộp hồ sơ chậm nhất là 3 ngày làm việc trước ngày hết hạn trả lời thông báo,
nêu rõ lý do của việc gia hạn.
- Bước 4: Thực hiện thủ tục TTKT tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Đại diện
hợp pháp của các doanh nghiệp tham gia TTKT thuộc diện phải thông báo chỉ
được làm thủ tục TTKT tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định
của pháp luật về doanh nghiệp sau khi được cơ quan quản lý cạnh tranh trả lời
bằng văn bản về việc TTKT không thuộc trường hợp bị cấm.
b) Các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm.
Điều 18 Luật Cạnh tranh quy định: “cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết
hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% thị
trường liên quan, trừ trường hợp quy định tại điều 19 của Luật này hoặc
trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thục loại
doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật”. Luật cạnh tranh quy
định các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm nhằm tạo khung pháp lý cho các
doanh nghiệp thực hiện hành vi tập trung kinh tế một cách hợp pháp, tao cơ
sở pháp lý cho cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi tập trung kinh tế trái


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status