Luận văn: "Tín dụng và các hình thức trong nền kinh tế thị trường" doc - Pdf 15


1

Luận văn: "Tín dụng và các hình thức trong
nền kinh tế thị trường" 2
Tín dụng và các hình thức trong nền kinh tế thị trường
Để có thể giải quyết vấn đề trên, trong khuôn khổ bài viết này em trình bày
những vấn đề sau:

4
Mục Lục

Phần 1: Những vấn đề chung về tín dụng 1
I. Những quan niệm về tín dụng, 2
II. Sự ra đời và phát triển của tín dụng 3
III. Bản chất của tín dụng 4
IV. Đặc điểm của tín dụng 5

6
Tín dụng ra đời rất sớm với sự xuất hiện của môn kinh tế học và được lưu
truyền từ đời này sang đời khác. Tín dụng xuất phát từ gốc từ Latin “credittum”
tức là tin tưởng, tin nhiệm, tín dụng được diễn giải theo ngôn ngữ dân gian Việt
Nam là sự vay mượn.
Trong thực tế tín dụng hoat động rất phong phú và đa dạng, nhưng ở bất cứ
dạng nào, tín dụng cũng thể hiện ai mặt cơ bản sau:
Thứ nhất: Người sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho người
khac sử dụng trong một thời gian nhất định.
Thứ hai: Đến thời hạn do hai bên thoả thuận người sử dụng hoàn lại cho
người sở hữu một giá trị lớn hơn. Phần tăng thêm được gọi là phần lời hay nói theo
ngôn ngữ kinh tế là lãi suất. PHẦN 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG

Người sở hữu
(người cho
vay)

Người sử dụng
(người đi vay)
C
ho vay

Trả nợ

cho nhu cầu tối thiểu cuả cuộc sống, đặc biệt khi những biến cố rủi ro bất thường
gây ra. Trong điều kiện như vậy đòi hỏi sử ra đời của tín dụng, để giải quyết mâu
thuẫn nội tại của xã hội, thực hiện việc điều hoà nhu cầu tạm thời của cuộc sống,
đầu tiên là tín dụng nặng lãi.
2. Quan hệ tín dụng nặng lãi
Tín dụng nặng lãi là tín dụng ra đời đầu tiên vào thời kỳ cổ đại.
2.1. Chủ thể của quan hệ tín dụng nặng lãi
Người đi vay: chủ yếu là nông dân và thợ thủ công, ngoài ra chủ nợ, địa chủ
và quan lại cũng có một phần đi vay nặng lãi.
Người cho vay: là những người hoạt động thương nghiệp tiền tệ, chủ nợ, địa
chủ và một số quan lại.

9
2.2. Nguyên nhân xuất hiện tín dụng nặng lãi
Trong điều kiện sản xuất thấp kém, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên
nhiên, lại thêm gánh nặng sưu thuế và các tệ nạn xã hội khác, những người sản
xuất nhỏ khi phải đối phó với những rủi ro xảy ra trong cuộc sốngcó thể dẫn đến
phải đi vay để giải quyết những khó khăn trong đời sống, như mua lương thực,
thuốc men, đóng tô, thuế. . . còn các tầng lớp khác đi vay để giải quyết những thiếu
hụt tạm thời với các nhu cầu cao.
2.3. Đặc điểm của tín dụng nặng lãi
Tín dụng nặng lãi có lãi suất rất cao. Nguyên nhân là do cầu tín dụng lớn hơn
so với cung và nhu cầu đi vay thường là cấp bách không thể trì hoãn được.
Hình thức vận động của vốn trong quan hệ tín dụng nặng lãi biểu hiện rất đa
dạng đó là:
Cho vay bằng hiện vật và thu nợ bằng hiện vật;
Cho vay bằng tiền, thu nợ bằng hiện vật;
Cho vay bằng tiền, hiện vật và thu nợ bằng công lao động;
Cho vay bằng tiền và thu nợ bằng tiền;
Do những đặc điểm trên của tín dụng nặng lãi mà tín dụng nặng lãi có hai tính

phải sử dụng thước đo tiền tệ để tổ chức và quản lý kinh doanh. Xuất phát từ tính
chất hoạt động đó mà vốn của doanh nghiệp liên tục trải qua các giai đoạn và biêủ
hiện dưới các hình thái khác nhau. Qúa trình tuần hoàn vốn thể hiện như sau: T - H
- SX - H’ - T’.
Giai đoạn 1: Vốn tiền tệ ứng ra để mua tư liệu sản xuất. Trong giai đoạn này
vốn từ hình thái tiền tệ chuyển thành hình thái hàng hoá.
Giai đoạn 2: Tiến hành tổ chức sản xuất, tức là quá trình kết hợp giữa lao
động sống và lao động vật để tạo ra sản phẩm mới. ở giai đoạn này vốn từ hình
thái hàng hoá chuyển thành hình thái chi phí sản xuất và cuối cùng sau khi sản
phẩm mới đã được tạo ra, vốn lại trở về hình thá hàng hoá.
Giai đoạn 3: Sản phẩn được đưa ra tiêu thụ, vốn lại trở về hình thái ban đầu
của nó tức là vốn bằng tiền. Riêng đối với các xí nghiệp trong lĩnh vực lưu thông,
tuần hoàn vốn chỉ chải qua hai giai đoạn: mua sản phẩm và bán sản phẩm, do đó
vốn cũng chỉ biểu hiện dưới hai hình thái là hàng hoá và tiền tệ.

12
Xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn như trên mà mỗi khi không có sự ăn
khớp về thời gian và khối lượng về mua vật tư hàng hoá phục vụ sản xuất với việc
tiêu thụ hàng hoá thì tất yếu xảy ra hiện tượng:
- Hoặc có vốn hàng hoá chưa tiêu thụ hoặc đã tiêu thụ và thu được tiền
nhưng chưa cần thiết phải mua vật tư nguyên liệu dự trữ cho sản xuất.
- Hoặc có nhu cầu mua vật tư gàng hàng hoá phục vụ quá trình sản xuất
nhưng không có tiền. Hiện tượng thừa vốn này thể hiện khá rõ nét đối với các
doanh nghiệp sản xuất mang tính thời vụ. Còn đối với các loại hình xí nghiệp khác
thì hiện tượng thừa vốn cũng thường xuyên xảy ra; Bởi vì, mặc dù việc sản xuất
được tiến hành liên tục nhưng việc mua bán vật tư nguyên liệu và tiêu thụ sản
phẩm được tiến hành theo định kỳ. Vì vậy, tất yếu sẽ xuất hiện sự không ăn khớp
giữa hai quá trình mua bán. Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp không thời vụ việc
thừa thiếu vốn tiền tệ với thời gian ngắn hơn và quy mô nhỏ hơn so với xí nghiệp
thời vụ, chỉ trừ những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài.

14
được thực hiện ngay hoặc được thực hiện trong tương lai. Chính vì vậy trong điều
kiện chưa thực hiện được nhũng mục đích đã định những người chủ của vốn
Tiết kiệm có thể sử dụng vốn này để cho vay hoặc trực tiếp như mua trái
phiếu hoặc gián tiếp như gửi vào tổ chức tín dụng.
Như vậy sự xuất hiện của tín dung xuất phát từ nhu cầu tiết kiệm, nhu cầu đầu
tư và phát triển. Mà tín dụng là nối giữa tiết kiệm và đầu tư.
Tóm lại trong nền kinh tế hiện đại, đặc điểm tuần hoàn vốn và yêu cầu của
quá trình tiết kiệm và đầu tư đòi hỏi phải có tín dụng.
3.2. Tín dụng ngày càng mở rộng và phát triển một cách đa dạng.
Trong nền kinh tế thị trường tín dụng ngày càng mở rộng, chủ thể tham gia
các quan hệ tín dụng bao gồm cá nhân, các doanh nghiệp và nhà nước trung ương,
cũng như các địa phương.
Quan hệ tín dụng được mở rộng về đối tượng và quy mô thể hiện ở các mặt
sau:
- Các tổ chức ngân hàng và các tổ chức tài chính và tổ chức tín dụng khác
phát triển mạnh và có mặt khắp mọi nơi.
- Phần lớn các doanh nghiệp đều có sử dụng vốn tín dụng (vay ngân hàng,
mua chịu hàng hoá, phái hành trái phiếu) và khối lượng ngày càng lớn.
- Thu nhập ngày càng tăng đối với cá nhân và vì vậy ngày càng có nhiều
người tham gia vào các quan hệ tín dụng

15
III. BẢN CHẤT TÍN DỤNG.
Tín dụng tồn tạ trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau. ở bất cứ phương
thức sản xuất nào tín dụng cũng biểu hiện ra bên ngoài là sự vay mượn tạm thời
một vật hoặc một số vốn tiền tệ, nhờ vậy mà người ta có thể sử dụng được giá trị
của hàng hoá hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp thông qua trao đổi.
Để vạch rõ bản chất của tín dụng cần thiết phải nghiên cứu liên hệ kinh tế của
tín dụng trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối liên hệ của nó với quá trình

1.2. Cầu của quỹ cho vay.
Nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp;
Nhu cầu tín dụng tiêu dùng của cá nhân;
Thâm hụt ngân sách của chính phủ.

17
2. Kiểm soát và giám đốc bằng tiền.
Thông qua các thước đo chỉ tiêu được xây dựng trên cơ sở tiền tệ mà tín dụng
có thể góp phần vào hai mục đích sau:
Đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doang nghiệp diễn ra theo
đúng pháp luật và có hiệu quả kinh tế cao.
Bởi vì doanh nghiệp muốn vay ngân hàng thì phải có tài khoản hoặc mục đích
sử dụng vốn hay phương án sản suất kinh doanh.
Về mặt pháp luật, mỗi khi có tiền gửi vào tài khoản phải thuyết trình nguồn
thu.
VI. VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG.
1. Hoạt động tín dụng đảm bảo nhu cầu về vốn cho nhu cầu sản xuất kinh
doanh và nhu vầu tiêu dùng cho các cá nhân trong nền kinh tế.
Thừa thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở các xí nghiệp. Việc phân phối
vốn tín dụng đã góp phần điều hoà trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá
trình sản xuất được liên tục.
Ngoài ra tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực kích
thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện cung cấp vốn cho đầu tư phát triển.
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, tín dụng là một trong những nguồn hình
thành vốn lưu động và cố định của các xí ghiệp. Vì vậy tín dụng đã góp phần động

18
viên vật tư đi vào sản xuất, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất để đẩy nhanh quá trình tái sản xuất.
Riêng trong điều kiện nước ta hiện nay, cơ cấu kinh tế còn nhiều mất cân đối,

dụng, tức là phải đảm bảo hoàn trả nợ vay đúng thời hạn và tôn trọng các điều kiện
khác đã ghi trong hợp đồng tín dụng. Bằng các tác động như vậy, đòi hỏi xí nghiệp
phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí xuất, tăng
vòng quay của vốn tạo điều kiện để nâng cao doanh lợi xí nghiệp.
20
PHẦN 2
CÁC HÌNH THỨC TÍN DỤNG

Trong nền kinh tế thị trường tín dụng hoạt động rất đa dạng và phong phú.
Trong quản lý tín dụng các nhà kinh tế thường dựa vào các tiêu thức sau đây
để phân loại
I. THỜI HẠN TÍN DỤNG
1. Tín dụng ngắn hạn.
Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và thường được
sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của các doanh nghiệp
và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cá nhân.
2. Tín dụng trung hạn.
Là loại tín dụng từ 1 - 5 năm, loại tín dụng này được cung cấp để mua sắm tài
sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ
có thời gian thu hồi vốn nhanh.
3. Tín dụng dài hạn.
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, tín dụng dài hạn
được dùng để đầu tư cho xây dựng cơ bản.

21
II. Đ ỐI TƯỢNG TÍN DỤNG.
1. Tín dụng vốn lưu động

TRONG QUAN HỆ TÍN DỤNG

I. TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI.
1. Khái niệm.
Tín dụng thương mại là hình thức sử dụng vốn lẫn nhau giữa các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế được thể hiện dưới hình thức các doanh nghiệp mua chịu
hàng hoá và dịch vụ lẫn nhau.
2. Nguyên nhân của sự xuất hiện tín dụng thương mại.
Là do sự cách biệt giữa sản xuất và tiêu thụ, đặc điểm thời vụ trong sản xuất,
mua hoặc bán sản phẩm, vì vậy xảy ra hiện tượng có một số nhà doanh nghiệp có
hàng hoá muốn bán, trong lúc đó một số nhà doanh nghiệp khác muốn mua nhưng
không có tiền. Trog trường hựp này nhà doanh nghiệp với tư cách là người bán
muốn thực hiện được sản phẩm họ có thể bán chịu hàng hoá cho gười mua.
Mua bán chịu là hình thức tín dụng vì:
Người bán chuyển giao cho người mua được sử dụng vốn tạm thời trong một
thời gian nhất định.

24
Đến thời hạn đã được thoả thuận người mua hoàn lại vốn cho người bán dưới
hình thức tiền tệ và cả phần lãi suất.
3. Vai trò của tín dụng thương mại.
Trong thời kỳ quản lý nền kinh tế theo kế hoạch tập trung hầu hết các nước
xã hội chủ nghĩa đều cấm tín dụng thương mại hoạt động. Đến những năm 1980
gắn liền với quá trình cải tổ và đổi mới quản lý kinh tế nhà nước đã bắt đầu cho
phép tín dụng thương mại hoạt động.
Trong nền kinh tế thị trường hiện tượng thừa thiếu vốn của các nhà doanh
nghiệp thường xuyên xảy ra, vì vậy hoạt động của tín dụng thương mạ một mặt
đáp ứng được nhu cầu vốn của các nhà doanh nghiệp tạm thời thiếu, đòng thời
giúp các xí nghiệp tiêu thụ sản phẩm của mình. Mặt khác, sự tồn tại của hình thức
tín dụng này sẽ giup cho các nhà doanh nghiệp chủ động khai thác được vốn nhằm

Trích đoạn TÍN DỤNG NGÂN HÀNG (TDNH) TÍN DỤNG THUÊ MUA.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status