MỞ ĐẦU
Tập trung kinh tế (TTKT) là nhu cầu tất yếu của đời sống kinh tế, thông qua đó
các hãng có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng quy mô sản xuất để giảm
chi phí sản xuất hàng hoá. Cũng thông qua TTKT, các hãng sản xuất mới có
điều kiện tập trung nguồn lực vào nghiên cứu phát triển sản phẩm phục vụ cho
việc cạnh tranh trên thị trường. Pháp luật các nước và đặc biệt là pháp luật
nước ta đã có rất nhiều chính sách cũng như có những thay đổi nhằm hoàn
thiện hơn về TTKT. Tìm hiểu vấn đề: “các hình thức tập trung kinh tế theo
pháp luật cạnh tranh 2004” sẽ giúp chúng ta có thể hiểu hơn về vấn đề này.
NỘI DUNG
I. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của tập trung kinh tế.
1. Khái niệm và đặc điểm của tập trung kinh tế.
a) Khái niệm tập trung kinh tế.
Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm mang tính khái quát để định nghĩa
hành vi tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hình thức TTKT. Theo Điều 16, 17 Luật
cạnh tranh 2004 thì TTKT là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: sáp nhập doanh
nghiệp; hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp; liên doanh giữa các doanh
nghiệp và các hành vi TTKT khác theo quy định của pháp luật.
b) Đặc điểm của tập trung kinh tế.
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi TTKT doanh nghiệp. Dưới giác độ của pháp
luật chống hạn chế cạnh tranh, chỉ có các doanh nghiệp mới có thể là các chỉ thể của
TTKT.
Thứ hai, hành vi TTKT được thực hiện dưới những hình thức nhất định: TTKT có
thể được tiến hành thông qua những con đường như sáp nhập, hợp nhất, mua cổ phần,
liên doanh….
Thứ ba, hậu quả của TTKT dẫn đến hình thành các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế
lớn mạnh, thay đổi cấu trúc trên thị trường và tương quan cạnh tranh trên thị trường.
2. Vai trò và những ảnh hưởng của TTKT.
a) Tác động tích cực.
TTKT là động lực thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất nói riêng và cả
nền kinh tế nói chung. TTKT góp phần làm tăng sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh
vì TTKT dẫn đến sự phát triển sâu rộng của phân công lao động xã hội, đến quy mô
sản xuất và kinh doanh. Sauk hi thực hiện TTKT, các doanh nghiệp sẽ có điều kiện
mở rộng quy mô sản xuất, áp dụng công nghệ hiện đại,đào tạo nhân lực. người lao
động Việt Nam được huấn luyện bài bản có trình độ tay nghề cia sẽ trở thành nguồn
lực chính của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Như vậy, TTKT không những có tác dụng thúc đẩy sự phát triển nhiều mặt của
nền kinh tế nói chung mà còn tăng cường tích tụ, nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm
tối đa hóa lợi nhuận của các công ty nói riêng.
b) Tác động tiêu cực.
TTKT có thể dẫn tới hậu quả như hình thành các công ty độc quyền, gia tăng vị trí
thống lĩnh trên thị trường làm hạn chế cạnh tranh, gây tổn hại đến lợi ích người tiêu
dùng. Các công ty đa quốc gia đã tiến hành các vụ TTKT thông qua việc sáp nhập
,hợp nhất, mua lại doanh nghiệp hoặc thực hiện các hành vi dưới dạng liên doanh
nhưng sau đó chấp nhận lỗ hàng năm trời để làm cạn kiệt khả năng tài chính của
2
doanh nghiệp Việt Nam, sau đó mua lại phần vốn góp, chiếm lĩnh thị trường và tiếp
tục loại bỏ các doanh nghiệp đối thủ ra khỏi thị trường.
TTKT có xu hướng phân hóa các doanh nghiệp. Những doanh nghiệp có ưu thế sẽ
dành chiến thắng trong các cuộc cạnh tranh, uy tín được nâng cao, lợi nhuận kinh tế
thu được ở mức cao hơn. Còn các doanh nghiệp không đủ năng lực cạnh tranh sẽ gặp
nhiều khó khăn, đi vào bế tắc, có nguy cơ dẫn đến phá sản. Đây cũng là nguy cơ dẫn
đến hiện tượng độc quyền, loại bỏ đối thủ cạnh tranh 1 cách vĩnh viễn. lúc này, họ
dùng sức mạnh độc quyền của mình tự do tăng giá bán, giảm giá mua hoặc áp đặt các
điều kiện ràng buộc bất hợp lý trong kinh doanh như ép mua, ép bán, mua kèm, bán
kèm những sản phẩm dịch vụ không cần thiêt để thu lợi nhuận siêu ngạch, gây ảnh
hưởng đến lợi ích của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Độc quyền làm cho nền kinh
tế rơi vào trạng thái ngừng trệ tương đối, mặt nào đó đã làm yếu đi các lực lượng thị
trường và làm cho các quy luật kinh tế trong cơ chế thị trường vận động sai lệch, cản
trở nền kinh tế phát triển.
Người lao động có thể bị mất việc làm do hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp dẫn
nghiệp, được hưởng các quyền, nghĩa vụ và tính hợp pháp của doanh nghiệp đó. Chỉ
có 1 điểm khác biệt giữa 2 hình thức này đó là việc doanh nghiệp bị mua lại có chấm
dứt tồn tại hay không? Tùy thuộc vào ý chí chủ quan của doanh nghiệp mua, nếu
doanh nghiệp bị mua chấm dứt tồn tại thì đó chính là sáp nhập, còn nếu nó tiếp tục
hoạt động như 1 chủ thể kinh doanh độc lập thì sẽ trở thành công ty con trong 1 tập
đoàn kinh tế.
- Liên doanh giữa các doanh nghiệp: Khoản 4 Điều 17 Luật Cạnh tranh quy
định : “liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hay nhiều doanh nghiệp cùng
nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình
thành nên doanh nghiệp mới”. Tại Việt Nam, liên doanh thường được hiểu là liên
doanh với người nước ngoài vì hình thức này được quy định trong luật đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, thuật ngữa liên doanh cũng xuất hiện ở một số văn
bản pháp luật khác như Luật Doanh nghiệp… nhưng không có định nghĩa cụ thể.
Luật cạnh tranh đã đưa ra khái niệm về liên doanh nhưng không nói đến quốc tịch
của các bên liên doanh, do đó có thể hiểu rằng việc liên doanh có thể tiến hành giữa
các doanh nghiệp Việt Nam với nhau hoặc giữa một hoặc nhiều doanh nghiệp Việt
Nam với một hoặc nhiều doanh nghiệp nước ngoài, miễn là có mục đích thành lập
doanh nghiệp mới.
- Các hành vi TTKT khác: Đây là cách xây dựng pháp luật phổ biến của Việt Nam
khi sở dụng phương pháp liệt kê những vẫn dự phòng một điều khoản mở cho phép
bổ sung khi cần thiết.
2. Hậu quả pháp lý của tập trung kinh tế.
a) Các trường hợp tập trung kinh tế phải thông báo với cơ quan quản lý cạnh tranh
trước khi thực hiện.
Việt Nam áp dụng kiểm soát TTKT theo hình thức tiền kiểm và yêu cầu trong
trường hợp các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30%
đến 50% trên thị trường liên quan thì phải thông báo với cơ quan quản lý cạnh tranh
trước khi thực hiện hành vi tập trung kinh tế. Trường hợp này bị áp dụng thủ tục kiểm
soát bởi vì khi một doanh nghiệp có thị phần từ 30% trên thị trường liên quan sẽ bị
coi là có vị trí thống lĩnh và cần phải được kiểm soát.
TTKT không thuộc trường hợp bị cấm.
b) Các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm.
Điều 18 Luật Cạnh tranh quy định: “cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp
của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% thị trường liên quan,
trừ trường hợp quy định tại điều 19 của Luật này hoặc trường hợp doanh nghiệp sau
khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thục loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định
của pháp luật”. Luật cạnh tranh quy định các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm
nhằm tạo khung pháp lý cho các doanh nghiệp thực hiện hành vi tập trung kinh tế
một cách hợp pháp, tao cơ sở pháp lý cho cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi
5