VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TÒA ÁN
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ BẮC NINH
NGUYỄN SỸ KHẢ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN CÔNG BÌNH
HÀ NỘI – 2017
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tiêng tôi.
Các số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố bất kỳ
bằng công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Sỹ Khả
2
quyền sử dụng đất tại Tòa án ............................................................................................. 13
1.1.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
tại Tòa án................................................................................................................. 13
1.1.2. Đặc điểm của giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất tại Tòa án .......................................................................................................... 15
1.1.3. Ý nghĩa của giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Tòa án
................................................................................................................................ 19
1.2. Cơ sở pháp luật quy định giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất tại Tòa án ............................................................................................................ 21
1.2.1. Cơ sở lý luận pháp luật quy định giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất tại Tòa án....................................................................... 21
1.2.2. Cơ sở thực tiễn pháp luật quy định giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất tại Tòa án. ...................................................................... 25
1.3. Sơ lược sự hình thành và phát triển các quy định giải quyết tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Tòa án của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến
nay. ................................................................................................................................... 27
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1980 ............................................................ 27
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1993 ............................................................ 28
1.3.3. Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2013 ............................................................ 29
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2013 đến nay. ...................................................................... 31
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TÒA
ÁN .................................................................................................................................. 34
2.1. Thực trạng các quy định của pháp Luật đất đai và pháp luật dân sự về giải quyết
4
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Tòa án .................................... 34
2.1.1. Các quy định của pháp Luật đất đai về giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất tại Tòa án. ...................................................................... 34
3.3.2. Kiến nghị về thực hiện pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của Tòa án ..................................................................... 80
KẾT LUẬN..................................................................................................................... 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 85
6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
:
Bộ luật dân sự
BLTTDS
:
Bộ luật tố tụng dân sự
QPPL
:
Qui phạm pháp luật
triển đất nước. Không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng của đất đai đối với cuộc
sống của con người, nó có ý nghĩa hàng đầu trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội
và an ninh, quốc phòng của mỗi quốc gia.
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống
nhất quản lý. Nhà nước giao quyền sử dụng đất (QSDĐ) cho cá nhân, tổ chức sử
dụng ổn định lâu dài. Ngoài quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài
sản đất đai, pháp luật còn quy định cho phép người sử dụng đất được quyền chuyển
đổi, chuyển nhượng, cho thuê, để lại thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn sản xuất
kinh doanh…Nhà nước chỉ thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong
trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển
kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay thị trường bất động sản trở
nên sôi động hơn bao giờ hết. Cùng với nó những tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng cũng có chiều hướng gia tăng và phức tạp. Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng QSDĐ làm ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, xâm hại đến hoạt
động của thị trường bất động sản, tổn thương đến các mối quan hệ trong cộng đồng
dân cư, ảnh hưởng đến phong tục đạo đức tốt đẹp của người Việt Nam. Tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ nếu không được giải quyết dứt điểm sẽ dẫn đến
khiếu kiện kéo dài, bị kẻ xấu lợi dụng gây ra bất ổn chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Hiện nay,việc chuyển QSDĐ nói chung và hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ
nói riêng được quy định tương đối đầy đủ trong Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015,
việc giải quyết tranh chấp đất đai được quy định cụ thể tại Luật đất đai (LĐĐ) năm
2013 và Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015. Những quy định này chính là
cơ sở pháp lý để các Tòa án giải quyết các tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia vào quan
8
hệ hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này
trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ của các
Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2017; Sách chuyên khảo“Giao dịch
dân sự về QSDĐ vô hiệu pháp luật và thực tiễn xét xử” của tác giả Nguyễn Văn
Cường và Nguyễn Minh Hằng do Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông xuất bản
năm 2011 v.v…
- Về bài tạp chí, hội thảo có: Những vấn đề cần trao đổi khi áp dụng điều
136 LĐĐ năm 2003, Ban Biên tập Tạp chí TAND tối cao đăng trên Tạp chí Toà án
nhân dân [1]; Nguyễn Văn Cường (2003), “Những vấn đề cần trao đổi khi áp dụng
điều 136 LĐĐ năm 2003”, Tạp chí Toà án [8]; Giao dịch và giải quyết tranh chấp
giao dịch về QSDĐ, Đỗ Văn Đại (2010), Hội thảo khoa học, Đại học Luật, thành
phố Hồ Chí Minh [9]; Bàn về mô hình tổ chức TAND ở Việt Nam hiện nay, Nguyễn
Minh Đoan (2010) đăng trên Tạp chí TAND, [10]; Trao đổi thêm về việc áp dụng
điều 136 LĐĐ năm 2003, Phạm Thanh Hải (2005), đăng trên Tạp chí Toà án, [11];
Phương pháp xác định thẩm quyền theo vụ việc của Tòa án, Phan Chí Hiếu (2004),
đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp [13]...
Nội dung những công trình nghiên cứu nêu trên bước đầu đã làm rõ được một
số vấn đề liên quan đến giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Tòa
án. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện
những vấn đề liên quan đến giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại
Tòa án.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận về giải quyết
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Tòa án; nội dung các quy định của pháp
luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Tòa án và thực tiễn
giải quyết các tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Tòa án, qua đó đề
xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ tại TAND thành phố Bắc Ninh.
10
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về giải quyết
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Tòa án. Những kết luận và kiến nghị
của luận văn vừa có có giá trị tham khảo trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa
học pháp lý vừa có giá trị trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ tại Tòa án và có những điểm mới sau đây:
- Hoàn thiện khái niệm, làm rõ đặc điểm và ý nghĩa của giải quyết tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Tòa án;
- Phân tích, đánh giá được nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Tòa án;
- Khảo sát, đánh giá được thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng QSDĐ tại TAND thành phố Bắc Ninh và nhận diện được những hạn chế,
vướng mắc trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại
TAND thành phố Bắc Ninh;
- Tìm ra những nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc trong việc giải quyết
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại TAND thành phố Bắc Ninh và đề
xuất được các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ tại Tòa án.
7. Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương sau
đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ tại Tòa án.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về giải quyết tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Tòa án.
Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ
của TAND thành phố Bắc Ninh và kiến nghị.
12
ngữ “giải quyết tranh chấp đất đai” đã được sử dụng khá phổ biến trong các văn bản
pháp luật, từ LĐĐ năm 1987 đến LĐĐ năm 2013, từ BLDS năm 1995 đến BLDS
năm 2015 v.v…Tuy vậy, trong các văn bản pháp luật do Nhà nước ta ban hành từ
trước đến nay không có quy định nào định nghĩa về thuật ngữ “giải quyết tranh chấp
đất đai”.
Theo Từ điển Giải thích Thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà
Nội, thì: “Giải quyết tranh chấp đất đai là giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội
bộ nhân dân, tổ chức và trên cơ sở phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâm hại;
đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất
đai.” [66, 35]
Theo giải thích này, thì “giải quyết tranh chấp đất đai” được hiểu là phương
thức, biện pháp giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân liên quan
đến sử dụng và quản lý đất, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể bị xâm hại;
đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về đất
đai. Giải quyết tranh chấp đất đai là một nội dung cơ bản của chế độ quản lý nhà
nước đối với đất đai. Do vậy, dưới phương diện quản lý Nhà nước thì giải quyết
tranh chấp đất đai được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
trong việc áp dụng các biện pháp do pháp luật quy định để giải quyết những bất
đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể, khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp cho bên bị
xâm hại đồng thời xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Theo quy
định tại Điều 203 LĐĐ năm 2013 và Điều 26 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án là một
trong các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.
Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên
chuyển nhượng QSDĐ chuyển giao đất và QSDĐ cho bên nhận chuyển nhượng còn
bên nhận chuyển nhượng trả tiền cho bên chuyển nhượng theo quy định của pháp
luật. Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ về bản chất là hợp đồng mua bán quyền tài
sản có tính chất đặc thù là đất đai. Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vừa phải tuân
theo các quy định của pháp luật dân sự vừa phải tuân theo các quy định của pháp
14
như sau:
15
Thứ nhất, giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Tòa án
mang tính quyền lực của nhà nước. Bởi lẽ, đó là phương thức giải quyết thông qua
Tòa án. Mà Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp,tức là quyền xét xử các vụ
án, nhân danh Nhà nước khi xét xử. Kết quả giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng QSDĐ theo thủ tục tố tụng dân sự có thể là bằng quyết định hay bản án.
Quyết định, bản án có hiệu lực các bên phải nghiêm túc chấp hành.quyết định của
Tòa án về giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ được bảo đảm
thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước. Khi bản án hoặc quyết định giải quyết tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ có hiệu lực pháp luật các bên phải nghiêm
chỉnh, tự giác thực hiện. Nếu các bên không tự thi hành án được với nhau, theo quy
định của pháp luật thi hành án dân sự các bên có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án
có thẩm quyền thi hành.
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Tòa
án chịu sự điều chỉnh của nhiều đạo luật liên quan như BLTTDS, LĐĐ, Luật Nhà ở,
BLDS... điều này có nghĩa là trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai, Tòa án
phải tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự của BLTTDS
(các quy định về luật hình thức giải quyết vụ việc tranh chấp đất đai); đồng thời,
Thẩm phán khi thụ lý, giải quyết vụ việc phải căn cứ vào các quy định của Luật Đất
đai, BLDS... để xác định chứng cứ cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người
quản lý, sử dụng đất (các quy định về luật nội dung giải quyết vụ việc tranh chấp).
Thứ ba, hệ thống chính sách, pháp luật về đất đai có sự khác nhau qua các
thời kỳ, vì vậy khi giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, tùy
trường hợp Tòa án phải căn cứ vào các quy định của pháp luật tại thời điểm phát
sinh tranh chấp để áp dụng.
Cùng với lịch sử phát triển đất nước, công tác quản lý đất đai cũng dần được
hoàn thiện. Nội dung cơ bản của công tác quản lý đất đai được thể hiện trong hệ
chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân
sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình” [40]. Ngoài ra, quyền tự định đoạt còn được thể hiện trong việc đưa ra yêu
cầu phản tố của bị đơn, quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thay đổi,
bổ sung và rút yêu cầu.
17
Tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng mà việc thay đổi, bổ sung yêu cầu có
thể được Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận. Trước khi mở phiên tòa thì quyền
này là quyền tuyệt đối của đương sự, theo đó đương sự có thể thay đổi, bổ sung yêu
cầu tùy ý. Tuy nhiên, nếu tại phiên tòa việc thay đổi yêu cầu chỉ được chấp nhận
nếu không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc
lập ban đầu.
Quyền tự định đoạt của đương sự trong giải quyết vụ việc tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng QSDĐ còn thể hiện trong việc thỏa thuận giải quyết vụ án;
trong việc lựa chon người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình;
trong việc kháng cáo bảo án, quyết định của tòa án.
Thứ sáu, giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Tòa án là
được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự và được tiến hành theo trình tự, thủ tục
nghiêm ngặt và chặt chẽ. Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ theo một trình tự thủ tục do pháp luật quy định, đó chính là pháp luật tố tụng
dân sự. Trình tự giải quyết được thực hiện từ giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ án, đến
giai đoạn chuẩn bị xét xử, giai đoạn đưa vụ án ra xét xử, giai đoạn mở phiên tòa sơ
thẩm, giai đoạn hỏi tại phiên tòa, tranh luận nghị án, tuyên án, kháng cáo, xét xử
phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Tất cả các trình tự thủ tục đều phải
được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Thứ bảy, khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ không buộc phải qua hòa giải tại UBND cấp xã. Đây là đặc điểm riêng biệt
nghĩa đảm bảo chế độ sở hữu đất đai thuộc toàn dân, Nhà nước thực hiện vai trò là
người đại diện quản lý cho chủ sở hữu. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng QSDĐ thì phải luôn đảm bảo nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Các
cá nhân tổ chức không có quyền được mua bán, mà chỉ có quyền chuyển nhượng
QSDĐ, không được chuyển nhượng đất Nhà nước cấm chuyển nhượng. Không
chuyển nhượng đất nhằm sử dụng trái mục đích hoặc hủy hoại đất. Tất cả các hợp
đồng chuyển nhượng QSDĐvi phạm điều cầm đều bị Tòa án tuyên vô hiệu để khắc
phục lại tình trạng ban đầu của đất.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ theo tại Tòa án có
ảnh hưởng tới sự ổn định tình hình chính trị, kinh tế - xã hội. Nếu tình hình chính trị
19
xã hội không ổn định sẽ không tạo ra tiền đề phát triển. Bởi vì, hiện nay tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong xã hội.
Đặc biệt là khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đất đai
được trả lại giá trị thực vốn có của nó thì tranh chấp đất đai phát sinh có xu hướng
ngày càng tăng cả về số lượng và tính chất phức tạp là một tất yếu khách quan, vậy
thì việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ phát sinh một
cách có hiệu quả là vô cùng cần thiết.
- Về phương diện chính trị
Giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ góp phần vào việc
duy trì sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và đảm bảo sự đoàn kết trong nội
bộ nhân dân. Các tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ được giải quyết triệt
để sẽ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội, ổn định về mặt tâm lý cho người dân yên tâm
làm ăn, sinh sống đem lại lòng tin của người dân đối với chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước. Trên thực tế, nhiều trường hợp việc giải quyết tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ của Tòa án kéo dài khiến cho nhiều người dân
không thực hiện được QSDĐ gây thiệt hại về kinh tế, mất ổn định xã hội. Tình
trạng kháng cáo, khiếu nại vượt cấp, khiếu nại tập thể đến các cơ quan Trung ương gây
đương sự gây ra lãng phí chi phí xã hội. Nhà nước trong trường hợp này cũng
không có lợi. Do vậy, việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ có ý nghĩa rất lớn về phương diện kinh tế.
1.2. Cơ sở pháp luật quy định giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất tại Tòa án
1.2.1. Cơ sở lý luận pháp luật quy định giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất tại Tòa án
Thứ nhất, giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Tòa án
xuất phát từ việc phân chia quyền lực nhà nước theo 03 nhánh đó là quyền lập
pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.
Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”[30]. Quy đinh này của Hiến
pháp xuất phát từ các đòi hỏi khách quan của việc xây dưng Nhà nước pháp quyền
21
xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp đã phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp.
Quyền lập pháp là đại diện cho Nhân dân, bảo đảm cho ý chí chung của
Nhân dân được thể hiện trong các đạo luật mà Quốc hội là cơ quan duy nhất được
Nhân dân giao quyền biểu quyết thông qua luật. Quyền biểu quyết thông qua luật là
quyền lập pháp, chứ không phải là quyền đưa ra các mô hình xử sự cho xã hội. Vì
vây, quyền lập pháp không đồng nghĩa với quyền làm ra luật. Đồng thời, là người
thay mặt Nhân dân giám sát tối cao mọi hoạt động của nhà nước, nhất là hoạt động
thực hiện quyền hành pháp, để góp phần giúp cho các quyền mà Nhân dân giao cho
các cơ quan nhà nước không bị lạm quyền, lộng quyền hay bị tha hóa. Quyền hạn
và nhiệm vụ của Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp được quy định ở Điều
70 và Điều 120 của Hiến pháp năm 2013.
nước đưa ra phán quyết buộc các đương sự phải thi hành.
Bằng hoạt động xét xử, Tòa án thực hiện chức năng kiểm tra hành vi pháp lý
của các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Tòa án bảo vệ cho trật tự xã hội ổn định, an toàn
và có môi trường pháp lý tạo điều tiện phát triển lành mạnh, bền vững. Tòa án trong
quá trình xét xử phải bảo đảm dân chủ; tôn trọng và bảo đảm quyền con người,
quyền công dân. Tổ chức và hoạt động của Tòa án phải nhằm mục đích bảo vệ công
lý, bảo đảm quyền con người theo quy định của pháp luật.
Hoạt động giải quyết các tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ là hoạt
động giải quyết các tranh chấp trong xã hội, xử lý các vi phạm pháp luật. Hoạt động
đó liên quan trực tiếp đến các quyền và lợi ích của con người, của công dân. Vì vậy,
trong hoạt động tư pháp, vi phạm quyền con người, quyền công dân và lợi ích chính
đáng có nguy cơ xảy ra rất cao. Do đó, tổ chức và hoạt động của Tòa án một mặt
phải hiệu quả, bảo vệ quyền con người, lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp
của tổ chức, cá nhân; nhưng trước hết, Tòa án phải là biểu tượng của Công lý, là nơi
công dân gửi gắm niềm tin rằng bất kỳ vi phạm pháp luật nào cũng bị xử lý nghiêm
minh; bất kỳ quyền hoặc lợi ích hợp pháp nào của con người, của công dân bị xâm
phạm đều được bảo vệ theo đúng pháp luật. Do vậy, mỗi khi con người có tranh
chấp và khởi kiện đến Toà án thì Toà án không được từ chối giải quyết vì bất cứ
một lý do gì.
23
Thứ ba, Tòa án có vị trí trung tâm trong việc tổ chức và thực hiện quyền tư
pháp với chức năng tổ chức và tiến hành hoạt động xét xử.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền là mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta trong
giai đoạn hiện nay. Trong các cơ quan tư pháp thì Tòa án là cơ quan giữ vai trò
trung tâm thực hiện quyền tư pháp trong tổng thể quyền lực Nhà nước thống nhất
nên tổ chức và hoạt động xét xử của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền mang đầy
đủ bản chất và những nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa.
định khác của pháp luật có liên quan. Trường hợp các bên trong quan hệ hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ có mâu thuẫn về việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các
quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng sẽ dẫn đến tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ. Việc pháp luật quy định Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng QSDĐ theo thủ tục tố tụng dân sự là phù hợp.
1.2.2. Cơ sở thực tiễn pháp luật quy định giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất tại Tòa án.
Từ nhiều năm nay, tình hình tranh chấp đất đai luôn là vấn đề bức bách không
những được Đảng và Nhà nước mà còn được toàn xã hội quan tâm. Do nhiều nguyên
nhân khác nhau, những năm gần đây tình hình tranh chấp đất đai trong đó có tranh
chấp về hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ diễn ra ngày càng nhiều, gia tăng về số
lượng, gay gắt và phức tạp về tính chất. Nhiều nơi tranh chấp đất đai đã trở thành điểm
nóng. Các vụ việc tranh chấp đất đai do TAND thụ lý và giải quyết ngày càng nhiều,
năm sau cao hơn năm trước. Tăng nhiều nhất là các tranh chấp liên quan đến hợp đồng
chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất; tranh chấp ai là người có quyền sử
dụng đất; tranh chấp đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ; tranh chấp trong lĩnh vực đền
bù giải phóng mặt bằng. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này chủ yếu là do chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện chính sách mới về quản lý đất đai. Đất
đai trở thành một tư liệu sản xuất quan trọng và là một tài sản có giá đối với với mọi
người dân. Trong khi đó, chính quyền một số địa phương đã “chưa làm đúng pháp
luật", chưa công khai, minh bạch, dân chủ; hệ thống quản lý về đất đai thiếu khoa học.
Hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này vừa thiếu vừa không thống nhất, mâu
25