Pháp luật về quản lý chất thải thông thường từ thực tiễn huyện mê linh, thành phố hà nội - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

---------------

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI THÔNG THƯỜNG
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LƯU TIẾN TRUNG

HÀ NỘI – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

---------------

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI THÔNG THƯỜNG
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LƯU TIẾN TRUNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LƯU NGỌC TỐ TÂM


hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Do hạn chế về năng lực và một số hạn chế khách quan, chủ quan khác
trong thời gian thực hiện luận văn nên không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót
của Luận văn. Rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để rút kinh nghiệm,
nâng cao năng lực trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm việc về sau.
Trân trọng cảm ơn./.

Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 2017
Học viên

Lưu Tiến Trung


MỤC LỤC


LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài .................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 7
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 7
6. Kết cấu của luận văn .................................................................................. 7
CHƯƠNG 1:LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI THÔNG THƯỜNG
VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI THÔNG THƯỜNG ........ 8
1.1. Lý luận về quản lý chất thải thông thường .......................................... 8
1.1.1. Chất thải thông thường và những hậu quả của nó ................................. 8
1.1.2. Khái niệm quản lý chất thải thông thường .......................................... 14
1.2. Lý luận pháp luật về quản lý chất thải thông thường ....................... 21
1.2.1. Định nghĩa pháp luật về quản lý chất thải thông thường ..................... 21

về quản lý chất thải thông thường tại huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
..................................................................................................................... 74
3.2.1. Nhóm giải pháp về pháp luật .............................................................. 74
3.2.2. Nhóm giải pháp về tăng cường quản lý nhà nước và nâng cao ý thức
của các chủ thể trong việc quản lý chất thải thông thường tại huyện Mê Linh.
..................................................................................................................... 79
3.2.3. Nhóm giải pháp về công nghệ - khoa học kỹ thuật cho hoạt động quản
lý chất thải thông thường tại huyện Mê Linh. ............................................... 83
3.2.4. Nhóm các giải pháp khác .................................................................... 90
*) Tiểu kết chương 3................................................................................... 95
KẾT LUẬN ................................................................................................. 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 98
DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT ................................................... 102


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường có tầm đặc biệt quan trọng đối với đời sống con người, được xem
là nơi chứa đựng và cung cấp tài nguyên cho đời sống sản xuất của con người, là
không gian sống cho sinh vật và con người, là nơi chứa đựng chất thải do con người
thải ra.
Ở Việt Nam ô nhiễm môi trường xuất hiện hầu hết ở các địa phương trên cả
nước. Từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xây dựng, sinh hoạt và nhiều
hoạt động sống khác của con người đã và đang thải ra môi trường hàng nghìn tấn
chất thải mỗi ngày gây tác động mạnh mẽ đến môi trường sống của con người và
tạo lên tình trạng ô nhiễm môi trường của địa phương.
Mê Linh là một huyện thuộc ngoại đô thành phố Hà Nội, được coi là địa
phương đang phát triển kinh tế mạnh mẽ và cũng không nằm ngoài tình trạng có
nguy cơ cao về ô nhiễm môi trường. Cơ cấu huyện bao gồm cả khu công nghiệp,
làng nghề, dân cư đô thị, dân cư nông thôn, sản xuất nông nghiệp – công nghiệp,

sau:
*) Về sách, luận án, luận văn:
PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Thái chủ biên (2001), Quản lý chất thải rắn – chất
thải đô thị, Tập 1, NXB khoa học và kỹ thuật, Hà Nội. Và PGS.TS. Nguyễn Thị
Kim Thái chủ biên (2011), Quản lý chất thải rắn – chất thải nguy hại, Tập 2, NXB
khoa học và kỹ thuật, Hà Nội. Đây là tập sách chuyên ngành kỹ thuật môi trường về
quản lý chất thải nên không đề cập đến các yếu tố về các quy định pháp luật nhưng
là cơ sở để tham khảo trong việc xác định tính phù hợp của các quy định pháp luật
trong quá trình nghiên cứu.
Lưu Việt Hùng (2009), Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường tại
Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn
làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản về chất thải rắn thông thường; các yếu tố tác động
đối với hoạt động quản lý chất thải; phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật
để tìm ra những sai sót, vướng mắc, những vấn đề phát sinh, các vi pham pháp luật

2


để từ đó phân tích nguyên nhân của tình trạng này; đề xuất phương hướng và các
giải pháp hoàn thiện, cơ chế thực hiện pháp luật về quản lý chất thải rắn thông
thường tại Việt Nam. Tuy nhiên, Luận văn dựa trên cơ sở pháp luật bảo vệ môi
trường năm 2005 và nghiên cứu về quản lý chất thải rắn thông thường nên vẫn đặt
ra nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu tiếp tục.
Vũ Thị Duyên Thủy (2009), Xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý chất
thải nguy hại ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Luận án đã tập trung vào giải quyết các vấn đề từ lý luận, cho đến quy định pháp
luật, đề xuất giải pháp về quản lý chất thải nguy hại. Các quy định pháp luật nghiên
cứu có hiệu lực đến thời điểm nghiên cứu và trên cơ sở của Luật bảo vệ môi trường
năm 2005.
Lê Phương Linh (2012), Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại và thực tiễn

khu công nghiệp ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội.
Luận văn tập trung vào pháp luật về quản lý chất thải trong khu công nghiệp của
Việt Nam. Bổ sung về mặt lý luận các khái niệm, đặc điểm, nội dung và một số yếu
tố ảnh hưởng đến pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp.
Trên cơ sở của pháp luật bảo vệ môi trường năm 2014 và những quy định ban hành
sau thời điểm này, luận văn đã tập trung nghiên cứu những quy định mới của pháp
luật về quản lý chất nguy hại trong pham vi điều chỉnh đối với khu công nghiệp.
*) Về bài đăng trên tạp chí:
Lê Văn Hữu (2004), Quản lý chất thải lỏng - một giải pháp quan trọng trong
công tác bảo vệ môi trường ở nông thôn nước ta hiện nay, Tạp chí giáo dục lý luận,
số 04, tr.39-43. Bài nghiên cứu đã phân tích cơ sở lý luận về chất thải lỏng, nêu lên
tác động của chất thải lỏng đối với môi trường và đặt ra yêu cầu quản lý đối với loại
chất thải này ở vùng nông thôn.
Th.s Nguyễn Văn Phương (2006), Một số vấn đề về khái niệm chất thải, Tạp
chí luật học số 10/2006, tr. 43-47.Bài nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa “Chất thải”,
làm rõ khái niệm “Được thải ra” và kiến nghị sử dụng khái niệm này trong văn bản
luật thay thế các khái niệm trước đây như: phát sinh, phát thải.
TS. Hoàng Dương Tùng (2014), Hiện trạng môi trường không khí ở Việt Nam,
Tạp chí Môi trường số 9/2014. Bài viết đã cho thấy cái nhìn khái quát về chất lượng
4


không khí ở Việt Nam, những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng không khí như khí
hậu, mật độ cây xanh, các hoạt động kinh tế - xã hội trong đó có khí thải phát sinh
từ chăn nuôi, đun nấu và sản xuất bằng nhiên liệu hóa thạch, củi, từ làng nghề tái
chế, phương tiện giao thông, sản xuất công nghiệp… Từ những bất cập về quản lý
khí thải ở Việt Nam tác giả đã đề xuất một số kiến nghị nhằm kiểm soát hiệu quả
các nguồn phát sinh khí thải, bụi.
Nguyễn Thị Thanh Phượng,Nguyễn Văn Phước (2015), Hiện trạng ô nhiễm
mùi từ một số ngành công nghiệp điển hình và đề xuất công nghệ xử lý, Tạp chí Môi

thông ở đường phố Hà Nội cho kết quả, hiệu quả ứng dụng cao. Từ những kết quả
thực nghiệmđã đem lại cho các nhà quản lý bụi thải, kiểm soát không khí do bụi
thải một ứng dụng khoa học – công nghệ để áp dụng trong quản lý ô nhiễm môi
trường không khí do bụi.
Tóm lại, các bài viết trên về Luận án, luận văn đã đưa ra định nghĩa về chất
thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại và những thông tin về môi trường
trong những năm trước đây. Riêng luận văn thạc sỹ Luật học của Phạm Thị Thanh
Thủy (năm 2016) mới chỉ đề cập đến những quy định về Pháp luật về quản lý chất
thải nguy hại trong khu công nghiệp ở Việt Nam trên cơ sở của quy định pháp luật
có hiệu lực sau năm 2014. Đối với các bài nghiên cứu trong tạp chí những năm gần
đây (năm 2014, 2015, 2016, 2017) đã đưa ra thực trạng và cái nhìn mới, giải pháp
về quản lý bụi thải, khí thải, nước thải, chất thải rắn sinh hoạt và phân tích ở góc độ
sau khi Luật bảo vệ môi trường năm 2014 có hiệu lực. Tuy nhiên, các bài nghiên
cứu đặt ra trong một phạm vi rộng (một vùng quản lý rộng và trên phạm vi cả nước)
và chưa mang tính bao quát thành bài nghiên cứu chung về quản lý chất thải thông
thường. Có thể nói,cho đến nay chưa có một công trình nào ở tầm thạc sỹ nghiên
cứu Pháp luật về quản lý chất thải thông thường và ở phạm vitừ thực tiễn huyện Mê
Linh, thành phố Hà Nội.
3. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý chất thải thông thường và khái quát
những quy định pháp luật về quản lý chất thải thông thường.
6


Nêu lên thực trạng áp dụng các quy định pháp luật cụ thể về quản lý chất thải
thông thường và từ đó nêu lên những hạn chế từ quy định pháp luật về quản lý chất
thải thông thường, những tồn tại trong thực tiễn hoạt động quản lý chất thải thông
thường tại huyện Mê Linh.
Đưa ra những nhóm giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả việc áp dụng các quy
định pháp luật về quản lý chất thải thông thường trong thời gian tới.

Có nhiều cách phân loại chất thải khác nhau, mỗi cách phân loại có một mục
đích nhất định nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu, sử dụng hay kiểm soát và quản
lý chất thải có hiệu quả.
Khái niệm “Chất thải” được định nghĩa tại khoản 12, Điều 3, Luật bảo vệ môi
trường năm 2014 như sau: “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Với định nghĩa này về chất thải đã
xác định chất thải là vật chất nói chung không chỉ tồn tại ở thể rắn, lỏng, khí mà còn
tồn tại ở các dạng thể khác được coi là vật chất. Việc xác định nguồn gốc vật chất
được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác chính
là xác định giới hạn của chất thải chỉ có ở con người, không có ở các loài sinh vật
khác. Ở đây ta cũng thấy từ “Được thải ra” là một động từ thể hiện việc con người
bằng hành vi của mình sử dụng quyền định đoạt để từ bỏ việc chiếm hữu, sử dụng
loại vật chất nhất định hoặc vật chất phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ mà con người không kiểm soát vật chất đó, không thực hiện việc chiếm
hữu.Căn cứ vào mức độ tác động của chất thải tới môi trường xung quanh và chia
thành hai nhóm chất thải đó là nhóm chất thải thông thường và nhóm chất thải nguy
hại.Khái niệm “thông thường” có nghĩa là “thường thấy, thường dùng”. Từ
“thường” có nghĩa ở dạng tính từ là: “Không có gì lạ, đặc biệt; Không quá mức
trung bình”. Nếu hiểu theo nghĩa này thì chất thải thông thường là loại vật chất
thường thấy, không có gì lạ, đặc biệt, không quá mức trung bình được thải ra từ sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.
8


Khái niệm chất thải thông thường được định nghĩa tại khoản 2, Điều 3 Nghị
định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của như sau: “Chất thải thông thường là
chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải
nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại”. Định nghĩa
này được nêu ra để phân biệt với chất thải nguy hại. Tại khoản 13, Điều 3 Luật bảo
vệ môi trường năm 2014 đã định nghĩa chất thải nguy hại “là chất thải chứa yếu tố

01

Asen

-

As

40

2

02

Bari

-

Ba

2000

100

03

Bạc

-


hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của con người, gây tổn thất về kinh tế.
(i). Hậu quả đối với môi trường
Thứ nhất, đối với các thành phần môi trường
Hiện nay, qua các nghiên cứu của các nhà khoa học thì chất thải thông thường
có ảnh hưởng và gây hậu quả đối với các thành phần môi trường.

10


+ Đối với môi trường không khí: Các loại chất thải thông thường khác nhau có
mức độ ảnh hưởng gây hậu quả xấu đến môi trường không khí khác nhau và gây ra
ô nhiễm không khí. Ô nhiễm không khí hiện nay không chỉ là vấn đề nóng tập trung
ở các đô thị phát triển, các khu cụm công nghiệp mà trở thành mối quan tâm của
toàn xã hội, được xem là một trong những tác nhân hàng đầu có nguy cơ tác động
xấu đối với sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái động thực vật. Ô nhiễm không khí
làm trái đất nóng lên và tăng khí nhà kính gây biến đổi khí hậu. Theo các nhà
nghiên cứu thì việc trái đất nóng lên và biến đổi khí hậu có nguyên nhân từ việc con
người phát sinh khí thải CO2, SO2, N2O, CH4, NOx và CFCs…
+ Hậu quả của chất thải thông thường đến môi trường nước:
Chất thải thông thường không được thu gom, thải vào kênh rạch, sông, hồ, ao
gây ô nhiễm môi trường nước, làm tắc nghẽn đường nước lưu thông, giảm diện tích
tiếp xúc của nước với không khí dẫn tới giảm DO trong nước. Chất thải rắn hữu cơ
phân hủy trong nước gây mùi hôi thối, gây phú dưỡng nguồn nước làm cho thủy
sinh vật trong nguồn nước mặt bị suy thoái. Chất thải rắn thông thường phân hủy và
các chất ô nhiễm khác biến đổi màu của nước thành màu đen, có mùi hôi khó chịu.
Bên cạnh đó, phần lớn các bãi chôn lấp hiện nay đều không được xây dựng đúng kỹ
thuật vệ sinh và đang trong tình trạng quá tải, nước rò rỉ từ bãi rác được thải trực
tiếp ra ao hồ gây ô nhiễm ngồn nước. Đặc biệt, nước thải tại các cơ sở sản xuất, khu
công nghiệp, làng nghề đã và đang là một thực trạng đáng báo động đối với ô nhiễm
nước.

mất cân bằng sinh thái. Ví dụ: Ô nhiễm do nước thải gây tổn thương, dị tật, chết cho
các loài thủy sinh như cá, rong, tảo…hoặc tạo lên dòng sông “chết”… Ô nhiễm đất
làm cho động vật, vi sinh vât, thực vật nơi đất ô nhiễm bị ảnh hưởng hoặc làm mất
đi chúng. Việc đất nghèo dưỡng chất không phù hợp với cây trồng phát triển hoặc ô
nhiễm đất còn làm chết các loài sinh vật hoặc không còn là nơi trú ẩn cho các sinh
vật.
(ii). Hậu quả đối với sức khỏe con người

12


Con người bị ảnh hưởng sức khỏe trực tiếp từ chất thải thông thường hoặc ảnh
hưởng gián tiếp từ việc chất thải thông thường gây ra các dạng ô nhiễm. Phần lớn
con người bị ảnh hưởng xấu từ chất thải thông thường do những tác hại gián tiếp từ
việc chất thải thông thường gây ra sự ô nhiễm đến các thành phần môi trường và từ
đó gây tác hại đến sức khỏa con người. Có thể ví dụ như: Các khí thải được thải ra
từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mang theo các khí gây hại cho con
người như: SO2, NOx là những khí thuộc thành phần hóa học trong không khí và
khi con người hít thở phải khí này sẽ ảnh hưởng đến cơ quan nội tạng của con
người.
Theo thống kê, hàng năm có hàng triệu người trên thế giới chết vì ung thư do
ô nhiễm không khí. Tại Việt Nam chưa có số liệu thống kê về số người bị mắc bệnh
và chết do ô nhiễm không khí. Tuy nhiên theo số liệu thống kê không đầy đủ, những
năm qua số bệnh nhân liên quan đến ô nhiễm không khí ngày càng tăng. Số trẻ em
nhập viện điều trị bệnh hen suyễn, hô hấp, ho tại một số bệnh viện ở Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh tăng gấp nhiều lần.
(iii) Ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của con người
Khi chất thải thông thường gây ô nhiễm môi trường đồng nghĩa với đó là ảnh
hưởng không nhỏ đến hoạt động lĩnh vực sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp, công
nghiệp chế biến, công nghiệp thực phẩm…gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp về

lý giống như công việc của người nhạc trưởng trong một dàn hợp xướng.
Thuật ngữ “quản lý” trong tiếng Anh được gọi là Management. Khi dùng theo
thói quen, chúng ta coi thuật ngữ “quản lý” gắn liền với quản lý Nhà nước, quản lý
xã hội, quản lý ở khu vực công cộng, tức là quản lý ở tầm vĩ mô. Xét về từ ngữ,
thuật ngữ “quản lý” – tiếng Việt gốc Hán có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào
nhau; quá trình “quản” là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá
trình “lý” là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ chức vào thế “phát triển”.
Khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và
nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên

14


quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với sự phát triển của
phương thức xã hội hóa sản xuất và mở rộng trong nhận thức của con người thì sự
khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt.
Với những cách tiếp cận khác nhau, đối tượng, mục đích quản lý khác nhau thì
người ta có những định nghĩa khác nhau về quản lý cho từng trường hợp cụ thể. Có
người cho quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá
nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Có tác giả lại quan niệm một cách đơn
giản hơn, coi quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó…
Từ những ý chung và xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể định
nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới
đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”[13, tr.9]. Theo một cách tiếp cận hệ
thống, mọi tổ chức (Cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp…)
đều có thể được xem như một hệ thống gồm hai phân hệ: Chủ thể quản lý và đối
tượng quản lý. Mỗi hệ thống bao giờ cũng hoạt động trong môi trường nhất định
(Khách thể quản lý). Từ trường hợp này người ta đưa ra khái niệm: “Quản lý là sự
tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể
quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để

thải thông thường sinh ra đến khi được tái chế, tái sử dụng và xử lý.
1.1.2.2. Đặc điểm quản lý chất thải thông thường
Quản lý chất thải thông thường là một loại hình quản lý trong đó mang đầy đủ
4 yếu tố cấu thành là chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục đích quản lý, môi
trường và điều kiện quản lý.
- Đặc điểm về chủ thể quản lý:
Hoạt động quản lý luôn đặt ra yếu tố chủ thể quản lý, chủ thể này luôn luôn
được xác định là con người ở góc độ cá nhân hoặc tổ chức.
Chủ thể của hoạt động quản lý chất thải thông thường gồm có: Cơ quan nhà
nước, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân.

16


Chủ thể quản lý chất thải thông thường gắn liền với nhiệm vụ, quyền hạn, vai
trò, trách nhiệm trong việc thực hiện hoạt động quản lý chất thải thông thường. Các
chủ thể trực tiếp thực hiện quản lý về chất thải thông thường và chịu sự tác động,
điều chỉnh của các quy định pháp luật về quản lý chất thải thông thường đến các
hành vi của chủ thể này từ hoạt động phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại,
thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải thông thường. Đồng
thời chịu sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Đối với
từng loại chất thải thông thường thì các chủ thể được xác định cụ thể và kèm theo
đó là trách nhiệm đối với hoạt động quản lý chất thải thông thường.
Cơ quan nhà nước là chủ thể đặc biệt thực hiện chức năng quản lý về mặt nhà
nước mang tính quyền lực và quyền uy (tính cưỡng chế) trong hoạt động quản lý
chất thải thông thường. Nhà nước thực hiện vai trò quản lý của mình thông qua hoạt
động của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường nói chung, quản lý
chất thải và trong đó có chất thải thông thường.
- Đặc điểm về đối tượng quản lý:
Đối tượng quản lý ở đây là chất thải thông thường ở các thể rắn, lỏng (nước

quản lý được toàn bộ quá trình trên thì cần phải thực hiện hệ thống quản lý tổng hợp
chất thải thông thường như đã nêu trên. Và trong thực tế các quy định về quản lý
chất thải thông thường cũng đã cho thấy hoạt động quản lý chất thải thông thường
được thực hiện bởi nhiều hoạt động quản lý khác thì mới bảo đảm được hoạt động
quản lý đối với Hệ thống kỹ thuật của chất thải thông thường.
1.1.2.3. Vai trò của quản lý chất thải thông thường
Từ những hậu quả của chất thải thông thường đối với môi trường, sức khỏe
con người và ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của con người cho ta thấy việc
quản lý chất thải thông thường có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hạn chế những
hậu quả xấu của chất thải thông thường đến môi trường, con người và sản xuất, kinh
doanh.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status