VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ PHƯƠNG THẢO
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ PHƯƠNG THẢO
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
3.1. Định hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật xử lý
chất thải y tế .................................................................................................... 65
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật về xử lý chất thải y tế ...................................................................... 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật Hình sự
BVMT
: Bảo vệ môi trường
CTNH
: Chất thải nguy hại
CTRYT
: Chất thải rắn y tế
CTYT
: Chất thải y tế
quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta” và “Đầu tư cho
bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững”1.
Đó là quan điểm của Nghị quyết 41 NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ
Chính trị về việc bảo vệ môi trường (BVMT) trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
Trước nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và những diễn
biến phức tạp của biến đổi khí hậu hiện nay, Hội nghị Trung ương 7 Khóa XI
đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí
hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT. Quan điểm về BVMT một lần
nữa được khẳng định “Môi trường là vấn đề toàn cầu. BVMT vừa là mục tiêu
vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững.
Việc BVMT bao gồm: Giải quyết ô nhiễm do những nguồn nước thải, ô
nhiễm do các chất thải sinh hoạt, công nghiệp sinh học, các chất thải trong y
tế, v.v… Để xử lý các loại chất thải trên là một vấn đề thật sự khó khăn và
nan giải. Với mỗi loại chất thải đều phải cần có những biện pháp xử lý khác
nhau từ những khâu thu gom đến tiêu hủy cuối cùng. Một trong số các chất
thải cần phải đặc biệt quan tâm đó là các chất thải y tế (CTYT) vì tính đa dạng
và phức tạp của chúng, khi có rất nhiều cơ sở y tế (CSYT) trở thành nguồn
gây ô nhiễm môi trường.
1 Nghị quyết số 41-NQ/TW.
1
Chất thải nguy hại, trong đó có chất thải y tế (CTYT) đã và đang trở
thành một trong những vấn đề pháp lý xã hội cấp bách ở nước ta nói riêng và
trên thế giới nói chung, khi có rất nhiều cơ sở y tế trở thành nguồn gây ô
nhiễm môi trường. CTYT chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, độc hại ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng.CTYT chứa đựng các yếu tố truyền
khá lỏng lẻo, chưa nghiêm túc trong đó có CTYT.
Bối cảnh nêu trên là phổ biến ở các địa phương trên cả nước ta, trong
đó có thành phố Đà Nẵng, và đặt ra những yêu cầu cấp bách cần nghiên cứu
tìm ra giải pháp khắc phục.
Đối với thành phố Đà Nẵng, mặc dù trong thời gian qua pháp luật về
xử lý CTYT được triển khai mạnh mẽ, các ban ngành liên quan đã triển khai
các hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý những vụ việc vi phạm. Với sự
năng động của một thành phố trẻ đang trên đà phát triển, việc quản lý CTNH,
trong đó có CTYT là việc làm cần được quan tâm một cách đúng mức và có
quy trình xử lý đạt tiêu chuẩn thân thiện với môi trường.
Từ những lý do trên, với mong muốn giải quyết các vấn đề trên, góp
phần BVMT tại địa phương cũng như trên địa bàn cả nước, tác giả quyết định
chọn đề tài “Pháp luật về xử lý chất thải y tế từ thực tiễn tại địa bàn thành phố
Đà Nẵng” để nghiên cứu và thực hiện luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề BVMT nói chung và việc xử lý CTYT nói riêng đã thu hút
được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và những người làm công tác
thực tiễn. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Nguyễn Thị Kim Cúc (2015), “Xử lý rác thải y tế vì môi trường sống
xanh tại thành phố Đà Nẵng”, Báo cáo chuyên khoa 2, Khoa Điều dưỡng –
Trường Đại học Đông Á.
Nguyễn Việt Dũng (2012), "Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý rác
thải và nước thải y tế tại Bệnh viện C tỉnh Thái Nguyên", Khóa luận tốt
3
nghiệp, Khoa Tài nguyên và Môi trường - Trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên.
Bùi Kim Hiếu (2010), “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi
làm ô nhiễm môi trường gây ra ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ Luật
“Xử lý chất thải y tế bằng công nghệ thân thiện môi trường”, Báo Hoạt động
Khoa học số tháng 7.2011, tr. 36 – 38.
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã cung cấp kiến thức lý luận, thực
tiễn về quá trình quản lý, xử lý chất thải y tế. Tuy nhiên, hầu như các công
trình nghiên cứu nêu trên đều tiếp cận vấn đề từ những góc độ chung, một số
công trình tập trung nghiên cứu về một khâu nhất định về xử lý chất thải y tế
chứ chưa tiếp cận từ thực tiễn cơ sở cũng như chưa cập nhật những văn bản
pháp luật mới về BVMT. Chính vì những lý do trên, trên cơ sở kế thừa những
kết quả đạt được từ các công trình nghiên cứu trước đó, tác giả sẽ tiếp tục
nghiên cứu các vấn đề chưa được đề cập chuyên sâu, đưa ra những kết quả,
hạn chế cũng như đề xuất hướng hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thi hành pháp
luật về xử lý CTYT nhằm góp phần xây dựng các luận cứ khoa học để hoàn
thiện pháp luật về xử lý CTYT ở nước ta nói chung, ở thành phố Đà Nẵng
nói riêng trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu pháp luật về xử lý CTYT cũng
như thực tiễn thi hành tại các CSYT, công tác thu gom, vận chuyển, xử lý của
đơn vị cung ứng dịch vụ xử lý CTYT nhằm đưa ra hướng hoàn thiện pháp
luật về xử lý CTYT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói
chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn xác định những
nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
5
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật xử lý
CTYT ở Việt Nam, bao gồm: Khái niệm, đặc điểm, vai trò xã hội, mục tiêu
Luận văn vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Liên hợp quốc và của Đảng, Nhà nước Việt Nam về QLNN về BVMT.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây để giải
quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra:
- Các phương pháp tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu hiện
có và các tài liệu khác để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật xử lý
với CTYT ở nước ta hiện nay (ở Chương 1).
- Các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các tài liệu,
báo cáo chuyên môn của cơ quan công an địa phương và phương pháp quan
sát thực tế để đánh giá thực trạng xử lý với CTYT ở thành phố Đà Nẵng trong
5 năm gần đây (ở Chương 2).
- Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đề xuất các quan
điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật về xử lý với CTYT ở
thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới (ở Chương 3).
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về pháp luật xử lý với
CTYT ở thành phố Đà Nẵng trong những năm gần đây. Luận văn cũng là một
trong số ít công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về vấn đề quản lý
Nhà nước với môi trường từ trước đến nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cung cấp nhiều kiến thức, thông tin, luận điểm và đề xuất mới
có giá trị tham khảo với các cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương
7
trong việc hoàn thiện pháp luật và cơ chế để nâng cao hiệu quả xử lý về
CTYT không chỉ ở thành phố Đà Nẵng mà còn ở các địa phương khác của
- Nếu dựa vào độ độc hại của chất thải thì có CTNH và chất thải thông
thường. CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy,
dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác4.
- Nếu dựa vào địa điểm sản sinh chất thải thì có chất thải sinh hoạt,
CTYT, chất thải công nghiệp, chất thải nông nghiệp.v.v…
Theo Tổ chức Y tế thế giới, CTYT là tất cả các loại chất thải phát sinh
trong các CSYT, bao gồm các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và các
hoạt động y tế tại nhà.
Ở Mỹ, Quốc hội thông qua đạo luật theo dõi CTYT Đạo luật Theo dõi
Chất thải Y tế năm 1988 định nghĩa CTYT là chất thải phát sinh trong quá
trình nghiên cứu y học, xét nghiệm, chẩn đoán, tiêm chủng, hoặc điều trị cho
người hoặc động vật. Một số ví dụ như thủy tinh, băng gạc, găng tay, các vật
3 Khoản 12 Điều 3 Luật BVMT.
9
dụng sắc nhọn đã bị loại bỏ như kim hoặc dao mổ, gạc và khăn giấy.
Ở Việt Nam, theo Quy chế Quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo
Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy
định CTYT “là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các CSYT bao
gồm CTYT nguy hại và chất thải thông thường” 5.
Hiện nay, theo quy định mới tại Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLTBYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên và môi trường
(TN&MT) quy định về quản lý CTYT (gọi tắt là TTLT 58/2015) thì CTYT là
“chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các CSYT, bao gồm CTYT
nguy hại, CTYT thông thường và nước thải y tế”6. Thông tư cũng quy định
“CSYT bao gồm: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trừ phòng khám bác sĩ gia
đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đo
huyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển người
bệnh trong nước và ra nước ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ
vật thí nghiệm10.
- Chất thải nguy hại không lây nhiễm như:
+ Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;
+ Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo
nguy hại từ nhà sản xuất;
+ Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân
và các kim loại nặng;
+ Chất hàn răng amalgam thải bỏ;
+ Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TTBTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ trưởng Bộ TN&MT về quản lý CTNH (sau
đây gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT)11.
Chất thải y tế thông thường là CTYT không gây ra những vấn đề nguy
hiểm đặc biệt cho sức khỏe con người và môi trường, chiếm từ 75-90% tổng
lượng CTYT12, bao gồm:
+ Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con
10 Khoản 1 Điều 4 TTLT 58/2015.
11 Khoản 2 Điều 4 TTLT 58/2015.
11
người và chất thải ngoại cảnh trong CSYT;
+ Chất thải rắn thông thường phát sinh từ CSYT không thuộc Danh
mục CTYT nguy hại hoặc thuộc Danh mục CTYT nguy hại quy định tại điểm
a Khoản 4 điều này nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng CTNH; Sản phẩm
thải lỏng không nguy hại13.
Nước thải y tế là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất, là dung dịch
thải từ cơ sở khám, chữa bệnh, chứa các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc,
đồng vị phóng xạ như nước thải sinh hoạt của cán bộ viên chức, của bệnh
nhân, người nhà bệnh nhân, nước lau sàn nhà, bể phốt của các khu điều trị (ô
nhiễm hữu cơ), nước trong mùa mưa còn có thể nhiễm những hóa chất phát
Nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây chuyền máu, túi đựng. Thủy tinh: Chai lọ, ống
tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm. Kim loại: Dao kéo mổ, kim tiêm. Thành
phần tách ra từ cơ thể: Máu mủ từ băng gạc, bộ phận cơ thể bị cắt bỏ.
+ Thành phần hóa học: Vô cơ: Hóa chất, thuốc thử, v.v…Hữu cơ: Đồ vải
sợi, phần cơ thể, thuốc, v.v… Thành phần sinh học: Máu, bệnh phẩm, bộ phận
cơ thể bị cắt bỏ, v.v…
Có nhiều cách phân loại CTYT tùy theo từng quan điểm khác nhau:
- Theo nguồn gốc phát sinh CTYT được chia thành 03 loại: CTYT từ
phòng thí nghiệm, chất thải dược phẩm và chất thải bệnh phẩm. Nhóm CTYT
từ phòng thí nghiệm gồm găng tay, ống nghiệm, các vật cấy, cất giữ các chất
gây bệnh, túi máu và các chất thải khác từ phòng thí nghiệm để nghiên cứu
bệnh tật, huyết học, truyền máu, vi sinh học, nghiên cứu mô học, v,v ... Chất
thải dược phẩm gồm thuốc quá hạn sử dụng hoàn trả lại, thuốc phòng bệnh,
thuốc bị đổ hoặc hư hỏng hay phải bỏ đi vì không cần giữ các chất trị xạ. Chất
thải bệnh phẩm gồm mô người có thể bị nhiễm bệnh hay không nhiễm bệnh,
nội tạng, các chi, các bộ phận cơ thể người, nhau thai và các thi thể người, xác
động vật và mô động vật phòng thí nghiệm, v.v...
- Căn cứ vào dạng tồn tại, có thể phân loại CTYT thành chất thải rắn
(CTNH lây nhiễm, CTNH không lây nhiễm và CTYT thông thường), nước
13
thải y tế và khí thải y tế.
- Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học, chất thải trong các
CSYT được phân thành các nhóm sau đây:
+ Chất thải lây nhiễm, bao gồm chất thải lây nhiễm sắc nhọn, chất thải
lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao và chất thải
giải phẫu.
+ Chất thải nguy hại không lây nhiễm;
+ Chất thải phóng xạ (Theo Thông tư 22/2014/TT-BKHCN ngày
Chương II Nghị định này); chất thải phóng xạ (quản lý theo quy định về
phóng xạ);
+ Chất thải y tế thông thường bao gồm: Chất thải rắn thông thường (kể
cả chất thải rắn sinh hoạt); sản phẩm thải lỏng không nguy hại.
- Căn cứ vào mục đích tái chế, CTYT được chia thành CTYT thông
thường không phục vụ mục đích tái chế và CTYT thông thường phục vụ mục
đích tái chế.
Tác hại của chất thải y tế với sức khỏe và môi trường
- Tác hại của CTYT với sức khoẻ:
Việc tiếp xúc với CTYT có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương cho
con người. Khả năng gây rủi ro từ CTYT có thể do một hay nhiều đặc trưng
cơ bản như: CTYT chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, là tác nhân nguy hại
trong rác thải y tế; Các hoá chất dược phẩm có thành phần độc, tế bào nguy
hiểm; Các chất chứa đồng vị phóng xạ; Các vật sắc nhọn có thể gây tổn
thương; Chất thải có yếu tổ ảnh hưởng tâm lý xã hội.
Tất cả mọi người tiếp xúc với CTYT nguy hại đều có nguy cơ tiềm
tàng đến sức khoẻ. Những nhóm đối tượng chính có nguy cơ cao đối với tác
hại của CTYT gồm: Bác sĩ, y tá, hộ lý, những người thực hiện tiếp xúc trực
tiếp với người bệnh, tiêm, thay băng, cắt bỏ nội tạng, v.v…; Những người
thực hiện nhiệm vụ phân loại, thu gom và vận chuyển CTYT ngay tại nguồn
về nơi tập kết của CSYT; Bệnh nhân điều trị; Khách tới thăm hoặc người nhà
15
bệnh nhân; Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ bệnh viện
chẳng hạn như giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân, vệ sinh v.v… Những
người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại bãi đổ rác thải, các lò đốt
rác) và những người bới rác, thu rác, v.v...
Các nguy cơ lớn nhất đến từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn.
Đó là bởi các vật thể này trong thành phần CTYT nguy hại có thể chứa đựng
Liên cầu, phế cầu, v.v…
Mủ
Bệnh than
TK Than
Chất tiết qua da
AIDS
HIV
Máu, dịch tiết sinh dục
Nhiễm khuẩn huyết
Tụ cầu
Máu, mủ
Viêm gan A
Virus viêm gan A
Phân
Viêm gan B, C
Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải rắn y tế (CTRYT)
được thiêu đốt trong điều kiện không lý tưởng. Việc đốt chất thải như: các
loại bệnh phẩm dược phẩm, v.v…có thể tạo ra khí axit (thường là HCL,
Sulfuadioxit, v.v…).
Tóm lại, khi CTYT không được xử lý đúng cách thì sẽ dẫn đến ô nhiễm
môi trường, đất, nước và không khí và sự ô nhiễm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người, hệ sinh thái.
1.1.2. Khái quát về xử lý chất thải y tế
“Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật
17
(khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy,
chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải”17.
Như vậy, xử lý CTYT là quá trình sử dụng các biện pháp công nghệ, kỹ
thuật để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất
thải và các yếu tố có hại trong CTYT phát sinh trong hoạt động của các CSYT
theo quy định của pháp luật.
Xử lý CTYT bắt đầu từ quá trình xử lý ban đầu. Xử lý ban đầu là quá
trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi
phát sinh trước khi chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy, nhằm làm giảm tính
độc hại của chất thải trước khi đi đến khâu xử lý cuối cùng. Có rất nhiều
phương pháp xử lý CTYT đang được áp dụng và có những ưu điểm, nhược
điểm khác nhau. Hiện nay trên thế giới đang áp dụng rất nhiều phương pháp
trong việc xử lý CTYT như:
+ Phương pháp thiêu đốt CTYT ở nhiệt độ cao: Với những ưu điểm có
thể xử lý được mọi rác thải, giảm được khối lượng lớn và trọng lượng của rác
sau quá trình đốt, có thể sử dụng lại nhiệt độ sinh ra trong quá trình đốt rác.
Tuy nhiên quá trình đốt rác lại thải ra một lượng lớn khí thải độc hại, nếu
1.2.1. Khái niệm pháp luật về xử lý chất thải y tế
Vấn đề môi trường sống của con người trên trái đất đã và đang bị ô
nhiễm là một vấn đề cấp bách đối với bất kì quốc gia nào. Vì nó gây ra những
hiện tượng biến đổi khí hậu dẫn đến những thảm họa thiên tai khủng khiếp. Ở
Việt Nam, sự ô nhiễm môi trường là vấn đề đáng báo động. Đây là một hiện
tượng xấu, nhiều tác hại, cần nhanh chóng khắc phục. Môi trường là nguồn
cung cấp nguyên liệu, năng lượng cho mọi hoạt động của con người. Môi
trường cũng là nơi tiếp nhận, chứa đựng và xử lý các chất thải mà con người
thải ra trong quá trình phát triển đó, trong đó có CTYT. Để bảo tồn cho sự
phát triển bền vững của môi trường, pháp luật BVMT, trong đó quy định quá
trình xử lý CTYT được ban hành nhằm đáp ứng cho nhu cầu cấp thiết đó.
19