BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRẦN THỊ HỒNG NHUNG
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT KINH TẾ
HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP
2015 - 2017
TRẦN THỊ HỒNG NHUNG
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP
TRẦN THỊ HỒNG NHUNG
Trần Thị Hồng Nhung
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN…………………………………………………………….
LỜI CẢM ƠN………………………………………………………………...
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT…………………………………………………
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………….....
1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI CẠNH
6
TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU
CÔNG NGHIỆP
1.1. Khái niệm, đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên
6
quan đến quyền sở hữu công nghiệp…………………………………………
1.1.1. Quyền sở hữu công nghiệp………………………………………………
6
1.1.2. Cạnh tranh không lành mạnh…………………………………………….
11
quan đến quyền sở hữu công nghiệp………………………………………..
2.2.1. Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền
32
sở hữu công nghiệp…………………………………………………………….
2.2.2. Pháp luật về phòng, chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên
39
quan đến quyền sở hữu công nghiệp…………………………………………..
2.2.3. Những bất cập của pháp luật hiện hành về ngăn ngừa các hành vi cạnh
50
tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp……………
2.3. Thực trạng phòng, chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên
58
quan đến quyền sở hữu công nghiệp.............................................................
2.3.1. Thực trạng phòng, chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan
58
đến quyền sở hữu công nghiệp bằng biện pháp tự bảo vệ……………………...
2.3.2. Thực trạng phòng, chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan
61
75
chuyển dịch sang cơ chế giải quyết tranh chấp tại tòa án………………………
3.1.3. Đảm bảo nguyên tắc phòng, chống và thực thi quyền sở hữu công
77
nghiệp theo hướng kết hợp hài hòa lợi ích công cộng với lợi ích của chủ thể
quyền trong việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp ………………
3.2. Giải pháp phòng, chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên
78
quan đến quyền sở hữu công nghiệp…………………………………………
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về cạnh tranh
78
không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp……………………
3.2.2. Kiện toàn và tăng cường năng lực của hệ thống cơ quan thực thi pháp
81
luật về phòng, chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến
quyền sở hữu công nghiệp……………………………………………………
3.2.3. Nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh- chủ thể
84
Cục QLTT
Cục Quản lý thị trường
Công ước Paris năm 1883
Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp
đuợc ký kết tháng 03/1883 tại Paris.
Hiệp định thương mại Việt Nam
Hiệp định giữa CHXHCN Việt Nam và Hợp
– Hoa Kỳ
chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại.
Hiệp định Trips
Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến
thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
LCT
Luật SHTT
NĐ 54
Luật Cạnh tranh 2004
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ
sung năm 2009
những vật phẩm vô hình mà bản thân người tạo ra nó không thể chiếm hữu cho
riêng mình, chúng rất dễ bị chiếm dụng, tước đoạt, việc bảo vệ thành quả của các
hoạt động sở hữu công nghiệp đa dạng và phong phú, nó không còn bó hẹp trong
phạm vi một quốc gia mà mang tính toàn cầu.
Xuất phát từ giá trị thương mại của đối tượng SHCN, chủ thể kinh doanh
thường nghĩ đến việc sử dụng đối tượng SHCN của đối thủ cạnh tranh để kiếm lời
và gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh. Bởi vậy việc xuất hiện các hành vi cạnh
tranh liên quan đến quyền SHCN là tất yếu. Những hành vi này vừa vi phạm pháp
luật về cạnh tranh vừa vi phạm pháp luật SHTT. Khi nền kinh tế càng phát triển thì
những hành vi này càng nhiều. Thực tế đó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa pháp
luật cạnh tranh và pháp luật SHTT, sự cân bằng giữa bảo hộ quyền SHTT và chính
sách bảo đảm cạnh tranh lành mạnh.
Nhiều quốc gia trên thế giới nhìn nhận được mối quan hệ giữa pháp luật
cạnh tranh và pháp luật SHTT nên đã có chính sách cũng như pháp luật giải quyết
các vụ việc cạnh tranh liên quan đến quyền SHTT.Vấn đề này được quy định trong
công ước Paris về bảo hộ quyền SHCN năm 1883 (khoản 2, khoản 3, Điều 10bis)
và Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Trips năm 1994(khoản 2 Điều 8 và Điều 40). Ở Việt Nam, cạnh tranh liên quan đến
quyền SHCN lần đầu tiên được quy định tại Nghị định của Chính phủ số
54/2000/NĐ – CP ngày 31/10/2000 về bảo hộ quyền SHCN đối với bí mật kinh
doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống CTKLM liên quan
1
đến quyền SHCN. Hiện nay, vấn đề này được điều chỉnh bởi nhiều văn bản khác
nhau như: Luật cạnh tranh năm 2004; Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ
sung năm 2009); Luật chuyển giao công nghệ năm 2007; Nghị định của Chính
phủ số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của
LCT; Nghị định của Chính phủ số 106/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định về
xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp. Ở nước ta, mặc dù hành vi
CTKLM liên quan đến quyền SHCN đã xuất hiện và được các cơ quan có thẩm
Qua việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi cạnh
tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp, tác giả xác định
các quan điểm và giải pháp phòng, chống các hành vi CTKLM liên quan đến quyền
SHCN tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận về hành vi CTKLM liên quan
đến quyền SHCN và vấn đề phòng, chống.
- Phân tích hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu
công nghiệp ở Việt Nam hiện nay và thực trạng phòng, chống.
- Đưa ra quan điểm và giải pháp phòng, chống hành vi cạnh tranh không
lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.
4. Cơ sở phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Để thực hiện nghiên cứu các vấn đề thuộc đề tài này, tác giả đã sử dụng
phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, những quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Phương pháp nghiên cứu
3
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phương pháp
tổng hợp, phân tích, bình luận, đánh giá, so sánh, kết hợp nghiên cứu lý luận và
tổng kết thực tiễn. Các phương pháp này được sử dụng trong sự kết hợp chặt chẽ
với nhau.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh liên quan đến quyền SHCN.
Phạm vi nghiên cứu:
Hành vi CTKLM liên quan đến quyền SHCN và vấn đề phòng chống các
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
1.1. Khái niệm, đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến quyền sở hữu công nghiệp
1.1.1. Quyền sở hữu công nghiệp
Trí tuệ con người có sức sáng tạo vô tận và chính nó đã giúp con người nhận
thức được sự phát triển không ngừng của thế giới khách quan. Trí tuệ là tài sản vật
chất nhưng mang những đặc thù riêng. Nếu như tài sản hữu hình có thể bị bào mòn
theo năm tháng, thì tài sản trí tuệ dường như được tích tụ nâng lên và phát huy
mạnh mẽ khi đem ra sử dụng. Do đó, mỗi quốc gia cần có trách nhiệm bảo hộ và
phát huy tài sản trí tuệ của loài người.
SHTT là khái niệm lâu đời nhưng mới được quan tâm tại Việt Nam thời gian
gần đây. Quyền SHTT bao gồm các quyền sở hữu đối với sản phẩm của hoạt động
sở hữu trí tuệ và tinh thần như tác phẩm văn học, nghệ thuật, tác phẩm khoa học,
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu,
tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và giống cây trồng.
Quyền SHTT là một khái niệm pháp lý ra đời và gắn liền với cuộc cách
mạng công nghiệp từ thế kỷ 17. Dưới giác độ pháp lý, thuật ngữ “quyền SHTT”
thường được hiểu theo hai nghĩa khách quan và chủ quan: Theo nghĩa khách quan,
quyền SHTT là một chế định pháp luật bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt các đối tượng SHTT được nhà nước bảo hộ; theo nghĩa chủ quan, quyền
SHTT là quyền, nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể liên quan đến việc sử dụng, chuyển
6
giao quyền SHTT. Tóm lại, quyền SHTT là quyền của chủ thể đối với một sản
phẩm trí tuệ nào đó do minh sáng tạo ra hoặc sở hữu được pháp luật thừa nhận và
bảo vệ.
Khái niệm về quyền SHTT trên đề cập đến 3 yếu tố cơ bản: Đối tượng của
hướng này cho thấy tính năng động của SHTT trong việc thích ứng với sự phát
triển của công nghệ và văn hóa, nói cách khác, nội hàm của khái niệm quyền
SHCN vẫn đang ngày càng được mở rộng bao trùm các đối tượng mới của đời sống
xã hội.
Tại Nhật Bản, quyền SHCN là tên gọi chung của 4 loại: Quyền sáng chế,
quyền mẫu mới thực dụng, quyền thương hiệu, quyền kiểu dáng. Quyền SHCN tại
Nhật được nhìn nhận như quyền lợi với mục đích đóng góp cho sự phát triển của
khoa học và kỹ thuật của Nhật Bản. Là quyền đóng vai trò trung tâm của quyền
SHTT.
Ở Việt Nam, khái niệm về quyền SHCN được quy định cụ thể hơn:“Quyền
sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn
địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh
tranh không lành mạnh”(khoản 4 Điều 4 Luật SHTT).
Quyền SHCN là một trong hai bộ phận quan trọng của quyền SHTT.Quyền
SHCN là một loại tài sản vô hình gắn liền với uy tín của cơ sở sản xuất kinh doanh,
thông qua việc bảo hộ các đối tượng có chức năng nhận dạng như nhãn hiệu hàng
hóa, tên thương mại. Người sản xuất, người tiêu dùng nhận biết được hàng hóa của
một cơ sở sản xuất chủ yếu căn cứ vào các dấu hiệu phân biệt như kiểu dáng sản
phẩm, nhãn hiệu, tên gọi gắn trên hàng hóa. Việc bảo hộ nhãn hiệu, tên thương mại,
tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp sẽ giúp cho việc
bảo vệ uy tín của sản phẩm, chống lại các hành vi giả mạo và cạnh tranh không
lành mạnh khác.
8
Dựa vào cơ sở phát sinh quyền,đối tượng quyền SHCN được chia thành 2
loại:
- Các đối tượng SHCN mà quyền SHCN phát sinh trên cơ sở các văn bằng
bảo hộ SHCN bao gồm: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn
"Bát Tràng" (gốm, sứ)…Một dạng chỉ dẫn địa lý đặc biệt là "Tên gọi xuất xứ hàng
hoá".Nếu chỉ dẫn địa lý chỉ là tên gọi (địa danh) và uy tín, danh tiếng của sản phẩm
đạt đến mức đặc thù gắn liền với vùng địa lý đó thì chỉ dẫn như vậy được gọi là
“Tên gọi xuất xứ hàng hoá”.
Bí mật thương mại là bất cứ thông tin bí mật nào mang lại lợi thế cạnh tranh
cho doanh nghiệp đều đáp ứng tiêu chuẩn.Bí mật thương mại có thể liên quan đến
các loại thông tin khác nhau: + Kỹ thuật và khoa học + Thương mại + Tài chính +
Thông tin phủ định.
Các đối tượng SHCN đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản
xuất kinh doanh của chủ sở hữu và người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý.Vì vậy,
quyền khai thác, sử dụng và chống lại những hành vi xâm phạm quyền SHCN như
là hành vi CTKLM là nội dung quan trọng của quyền SHCN.
Chủ thể của quyền SHCN gồm tác giả của đối tượng mang tính sáng tạo và
chủ văn bằng bảo hộ. Tác giả là người sáng tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,
mạch tích hợp bán dẫn. Cá nhân, tổ chức được cấp văn bằng bảo hộ là chủ sở hữu
các đối tượng SHCN. Đối với chỉ dẫn địa lý, chủ văn bằng bảo hộ không có quyền
sở hữu đối tượng đó mà có quyền sử dụng trong sản xuất kinh doanh. Đối với tên
thương mại và bí mật kinh doanh, chủ sở hữu của các đối tượng này là cá nhân, tổ
chức mang tên thương mại trong kinh doanh hoặc có bí mật kinh doanh một cách
hợp pháp.
Đối với tác giả thì quyền nhân thân có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp
nghiên cứu khoa học. Tác giả là người sáng tạo ra đối tượng SHCN. Đây là kết quả
10
của quá trình nghiên cứu khoa học, khẳng định trình độ chuyên môn và khả năng
nghiên cứu khoa học của tác giả.
1.1.2. Cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh xuất hiện và tồn tại khách quan trong quá trình hình thành và
đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác hoặc của người tiêu dùng”.
Như vậy, theo quan niệm thứ hai, phạm vi các hành vi bị coi là CTKLM là
rất rộng, có thể bao gồm cả các hành vi hạn chế cạnh tranh. Điều này sẽ gây khó
khăn trong việc sử dụng phương thức áp dụng pháp luật do bản chất, tính chất, mức
độ nguy hại cho thị trường của các hành vi trên là khác nhau. Ngược lại, phạm vi
các hành vi CTKLM theo quan điểm thứ nhất lại chỉ bó hẹp ở các hành vi “không
trung thực trong hoạt động thương mại và công nghiệp”. Quan niệm thứ ba đã dung
hoà được hạn chế của hai quan niệm còn lại, khi cạnh tranh không chỉ có trong lĩnh
vực công nghiệp như trong quan niệm thứ nhất, mà còn mở rộng sang các lĩnh vực
khác. Đây cũng chính là quan điểm của các nhà làm luật Việt Nam khi đưa ra khái
niệm CTKLM.Là một đốitượng của quyền sở hữu trí tuệ nhưng khái niệm CTKLM
không được đưa ra trong Luật SHTT. Luật SHTT chỉ liệt kê những hành vi bị coi là
CTKLM. Khái niệm “cạnh tranh không lành mạnh” được quy định tại khoản 4
Điều 3 trong LCT như sau:
“Cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong
quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh,
gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”.
Xuất phát khái niệm về hành vi CTKLM nêu trên, có thể xác định một số
đặc điểm cơ bản của hành vi CTKLM như sau[24]:
- Hành vi CTKLM trước hết là một hành vi cạnh tranh do các chủ thể kinh
doanh trên thị trường thực hiện. Có thể phân tích vấn đề này trên hai khía cạnh:
12
Thứ nhất, trên thị trường cạnh tranh, mỗi hành vi kinh doanh của một doanh
nghiệp cũng chính là hành vi cạnh tranh trong tương quan với các doanh nghiệp
khác, do đó mọi hoạt động của doanh nghiệp đều có thể bị xem xét về tính chính
đáng, phù hợp với thông lệ hay đạo đức kinh doanh và pháp luật về cạnh tranh
xử lý về hành vi CTKLM phải có những hiểu biết và đánh giá sâu sắc về thực tiễn
thị trường để phán định một hành vi có đi ngược lại những quy tắc xử sự chung
trong kinh doanh tại một thời điểm nhất định hay không. Như đã phân tích ở phần
trên, với nền kinh tế thị trường mới hình thành, các thông lệ, tập quán thương mại
tại Việt Nam chưa đủ thời gian để tạo thành các chuẩn mực đạo đức kinh doanh
được các tổ chức, cá nhân cùng nhận thức giống nhau và tự nguyên thực hiện như
những quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc. Tuy nhiên, tác giả cho rằng vẫn có một
số nguyên tắc được khẳng định cả trong pháp luật và thực tiễn có thể sử dụng để
đánh giá tính lành mạnh của hành vi cạnh tranh, cũng là những nguyên tắc cơ bản
của giao dịch dân sự, thương mại được quy định tại văn bản luật khác như Bộ luật
Dân sự hay Luật Doanh nghiệp. Đó là các nguyên tắc như trung thực, thiện chí, tự
nguyện, hợp tác, cẩn trọng…. Và những nguyên tắc khác có thể được đề xuất trong
tương lai phù hợp với yêu cầu thực tế của công cuộc phát triển kinh tế xã hội. Do
đặt tiêu chí đánh giá tính lành mạnh của hành vi cạnh tranh dựa trên các thông lệ
kinh doanh trung thực, thiện chí, pháp luật về CTKLM luôn có trọng tâm bảo vệ
các doanh nghiệp trung thực, các chuẩn mực hành vi của doanh nghiệp được xem là
trọng tâm ban đầu để xây dựng các quy định trong lĩnh vực này. Một hoạt động
kinh doanh nhất định bị đa số trong cộng đồng doanh nghiệp phản đối thì hiếm khi
được coi là là cạnh tranh lành mạnh.Mặt khác, một số thông lệ kinh doanh được
công nhận trong một số ngành, lĩnh vực nhất định, song lại bị coi là sai trái ở những
ngành, lĩnh vực khác. Trong những trường hợp như vậy, việc đánh giá hành vi phải
dựa trên các chuẩn mực chung hơn về đạo đức kinh doanh, trong đó xem xét khả
năng quyền lợi của người tiêu dùng bị phương hại. Cũng có những trường hợp hành
vi thoạt đầu không gây hại cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác, nhưng
về lâu dài vẫn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, do đó cần phải có biện
pháp ngăn chặn thích hợp. Do đó, để đánh giá một hành vi CTKLM thể không xem
14
xét tác động của hành vi đó đến người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác. Một
đưa thêm một đối tượng có thể bị xâm hại là Nhà nước, tuy nhiên đối tượng này
không mang tính tiêu biểu, không phổ biến trong quy định về CTKLM của nhiều
quốc gia, do chỉ có thể đặt vấn đề bảo vệ lợi ích của Nhà nước trước hành vi
CTKLM tại những nền kinh tế mà ở đó Nhà nước tham gia sâu vào hoạt động kinh
doanh, và cạnh tranh trực tiếp với các thành phần kinh tế khác trên thị trường.
Trong đa số trường hợp khác, lợi ích của Nhà nước đã được thể hiện thông qua lợi
ích của các nhóm chủ thể tham gia thị trường là doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Trước đây, một số quốc gia có cách tiếp cận cứng khi xác định một hành vi là
CTKLM ngay khi nó gây thiệt hại cho các doanh nghiệp cạnh tranh trong ngành mà
không cần xem xét ảnh hưởng đến các đối tượng khác, đặc biệt là người tiêu dùng.
Hiện nay, cách nhìn nhận về hành vi CTKLM trở nên cân bằng hơn, cơ quan xử lý
thường phải đánh giá cả thiệt hại của người tiêu dùng và các đối tượng khác để kết
luận về vi phạm. Cần thấy rằng trong một phạm vi thị trường hữu hạn, doanh
nghiệp thực hiện một hành vi cạnh tranh bất kỳ cũng đều có khả năng gây thiệt hại
cho các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp đó, do vậy, nếu chỉ căn cứ vào thiệt
hại của các đối thủ cạnh tranh để xác định một hành vi là không lành mạnh thì sẽ
không đầy đủ. Trên thực tế, các hành vi cạnh tranh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh
tranh khác nhưng đem lại lợi ích thực tế cho người tiêu dùng sẽ không bị coi là
cạnh tranh không lành mạnh. Ví dụ điển hình là trường hợp quảng cáo so sánh,
trước đây bị coi là một trong những hành vi CTKLM điển hình, tuy nhiên từ sự cân
nhắc lợi ích nó đem lại cho người tiêu dùng (tiết kiệm thời gian tìm kiếm, lựa chọn
sản phẩm), mà hành vi này đến nay đã được chấp nhận với những điều kiện ràng
buộc về tính chính xác, đầy đủ của thông tin để tránh bị các doanh nghiệp lợi dụng
công kích đối thủ cạnh tranh. Việt Nam hiện còn lại là một trong số rất ít các quốc
gia trên thế giới cấm tuyệt đối các hình thức quảng cáo so sánh trực tiếp, mà không
cần xét đến nội dung quảng cáo.
Quyền chống CTKLM được coi là một trong những đối tượng của quyền
SHCN. Có quy định như vậy là bởi đối tượng SHCN là một yếu tổ thể hiện lợi thế
cạnh tranh trong thương mại, nên đã có không ít các doanh nghiệp thực hiện hành
17